LỜI CẢM ƠN
“Vì lợi ích mười năm trồng cây
Vì lợi ích trăm năm trồng người.”
Giáo viên Việt Nam luôn ghi nhớ lời Bác dạy. Để làm được điều đó đòi
hỏi giáo viên phải luôn trau dồi kiến thưc cho bản thân, tìm tòi, nghiên cứu,
sáng tạo. Là một người giáo viên trong tương lai bản thân tôi luôn mong
muốn thực hiện và hoàn thành tốt nhiệm vụ của nhà trường giao phó, cố gắng
phấn đấu để có được lòng tin yêu của học sinh và đồng nghiệp. Đó là một quá
trình rèn luyện nghiêm túc, đặc biệt trong thời gian còn ngồi trên ghế nhà
trường, thời gian dành cho việc học tập và nghiên cứu. Khi bắt tay vào
nghiên cứu khoá luận tốt nghiệp này tôi cũng gặp phải một số khó khăn,
nhưng đáp lại tôi đã học hỏi được rất nhiều kiến thức cơ bản. Đó sẽ là những
cơ sở để tôi hoàn thiện chuyên môn trong quá trình thực nghiệm giảng dạy
sau này.
Hoàn thành được khoá luận tốt nghiệp với đề tài “Rèn luyện kĩ năng
đọc diễn cảm các văn bản nghệ thuật cho học sinh tiểu học”, tôi đã nhận
được sự cộng tác nhiệt tình của thầy cô giáo và các em học sinh. Tôi xin gửi
lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo của trường Đại học Sư phạm Hà
Nội 2, các thầy cô trong khoa Giáo dục Tiểu học, các cô giáo và học sinh
trường Tiểu học Liên Minh-Vĩnh Yên-Vĩnh Phúc. Đặc biệt tôi vô cùng cảm ơn
nhà giáo-PGS Đỗ Huy Quang, người đã trực tiếp hướng dẫn tôi để tôi hoàn
thành khoá luận này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên
Nguyễn Thị Lý
1
tạo nên người biết đọc tốt, đọc diễn cảm và đọc sáng tạo.
Đọc diễn cảm trở thành một nhu cầu văn hóa, đọc có mục đích, có biện
pháp là một thói quen nâng lên thành hứng thú, cao hơn cả là để hoàn thiện
tâm hồn, tính cách và có hướng hoạt động hiệu quả cho cá nhân và cộng
đồng. Theo tôi nhu cầu văn hóa này phải được bắt đầu từ thế hệ trẻ, những
mầm xanh tương lai của Tổ Quốc, phải được hình thành và phát triển trong
học sinh ở bậc học đầu tiên.
Ngày nay không ai lại cho là đầy đủ với việc học thuần túy hướng vào
kĩ thuật mà là học sáng tạo ở mức độ thường xuyên và đòi hỏi thái độ đọc phù
hợp với khái niệm học. Đọc diễn cảm là một hành động học. Người giáo viên
nếu chỉ chú ý cách mở rộng vốn từ trong các giờ dạy tiếng Việt thì cũng chưa
3
đủ, chưa được xem là dạy đọc thực sự. Việc dạy đọc chỉ được thực hiện khi
nào mạch tinh thần, ý tưởng được thực hiện từ nội dung này đến nội dung
khác để hoàn thiện tư tưởng của văn bản.
Hơn nữa đọc diễn cảm là khả năng liên hệ những gì đang đọc với
những gì đã đọc được, lấy đó làm cơ sở để mở rộng sự hiểu biết. Thậm chí
với văn bản nghệ thuật, đọc diễn cảm còn xác định nghĩa mới cho hình tượng.
Từ đó giúp các em có khả năng cảm thụ văn học, và đó cũng là cơ hội để học
sinh “tự bộc lộ” con người mình. Mức độ hiểu này tương ứng với kĩ năng
“đọc vượt ra ngoài dòng chữ” (Nguyễn Trọng Hoàn).
Mặt khác trong thực tiễn giảng dạy: trong các giờ tập đọc khi các văn
bản đọc là các văn bản nghệ thuật, người dạy chỉ biết hướng dẫn trong SGV
để thao tác theo. Từ đọc văn bản sau đó là trả lời các câu hỏi. Nhưng trong ý
thức của giáo viên không chỉ muốn hướng dẫn học sinh của mình dập khuân
theo sách giáo viên mà còn muốn tìm hiểu, muốn biết con đường tiếp cận văn
bản phải biết được những việc gì để người giáo viên có thể làm chủ được hoạt
Đọc diễn cảm phản ánh cách hiểu bài văn, bài thơ và việc hiểu là cơ sở
để đọc diễn cảm. Vì vậy, đọc diễn cảm trước hết phải xác định được nội dung,
nghĩa lí của bài đọc, sắc thái tình cảm, cảm xúc, giọng điệu chung của bài.
Trong những năm 60, 70 của thế kỷ XX có rất nhiều giáo trình nói về
đọc diễn cảm. Các tác giả của các công trình nghiên cứu chia làm hai phái.
Một phái theo khuynh hướng ngữ văn, cho rằng nhiệm vụ chính cảu đọc diễn
cảm là nâng cao trình độ ngôn ngữ văn hóa của học sinh và làm cho các giờ
học tiếng mẹ đẻ trở nên sinh động. Còn phái thứ hai đi theo khuynh hướng
nghệ thuật tâm lí. Họ cho rằng đọc diễn cảm làm nghệ thuật đọc và cho rằng
nhiệm vụ hàng đầu là giáo dục thẩm mĩ.
Tác phẩm thể hiện khuynh hướng nghệ thuật – tâm lí điển hình nhất là
tác phẩm của E.V. Iagovixki “Đọc diễn cảm là một phương tiện giáo dục
thẩm mĩ” (Leningrat 963, xuất bản lần thứ hai). G.P.Phia Xốp. Đó là một tác
phẩm nghiên cứu âm thanh và ngữ điệu của ngôn ngữ trong các giờ học tiếng
Nga (Maxcova, 1959).
5
Quyển sách của L. A Gorbusina “Đọc diễn cảm và kể chuyện của các
thầy giáo” (Maxcova, 1965) dành cho thầy giáo cấp I. Tác phẩm đề cập đến:
Kĩ thuật đọc và các bài tập, các quy tắc phát âm chuẩn mực, các thành phần
của ngữ điệu, vấn đề đọc diễn cảm và các hình thức kể chuyện khác nhau.
Trong cuốn “Phương pháp đọc diễn cảm (2007) – Hà Nguyễn Kim
Giang – NXB ĐHSP khẳng định: Đọc diễn cảm hoạt động đọc nói chung nên
nó cũng là hoạt động lao động sáng tạo.
Đọc diễn cảm là một quá trình bao gồm quá trình tiếp nhận văn bản viết
và quá trình thông báo, truyền đạt những văn bản viết thành văn bản đọc. Đó
là quá trình tái tạo chuyển đổi nội dung ý nghĩa nghệ thuật của văn bản thành
âm thanh, nhịp điệu, tốc độ, sự ngừng nghỉ và sắc thái thẩm mĩ, cảm xúc thẩm
- Phương pháp chung: quy nạp, diễn dịch
- Phương pháp cụ thể:
+ Phương pháp phân tích
+ Phương pháp thống kê phân loại
+ Phương pháp tổng hợp
- Phương pháp hệ thống
- Phương pháp thực nghiệm.
7. CẤU TRÚC KHÓA LUẬN
Khóa luận gồm ba phần: Mở đầu, nội dung, kết luận. Riêng phần nội
dung của luận văn được tổ chức thành ba chương.
Chương 1: Cơ sở lí luận và quan niệm đọc diễn cảm.
Chương 2: Biện pháp rèn luyện kĩ năng đọc diễn cảm các văn bản nghệ
thuật cho học sinh tiểu học.
Chương 3: Thực nghiệm
7
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ QUAN NIỆM ĐỌC DIỄN CẢM
1.1. Vị trí, nhiệm vụ của dạy đọc ở Tiểu học
1.1.1. Vị trí của dạy đọc ở Tiểu học
1.1.1.1. Đọc là gì?
Môn Tiếng Việt ở trường Phổ thông có nhiệm vụ hình thành năng lực
hoạt động ngôn ngữ cho học sinh. Năng lực hoạt động ngôn ngữ được thể
hiện trong bốn dạng hoạt động, tương ứng với chúng là bốn kĩ năng nghe, nói,
đọc, viết. Đọc là một dạng hoạt động ngôn ngữ, là quá trình chuyển dạng thức
chữ viết sang lời nói có âm thanh và thông hiểu nó ( ứng với hình thức đọc
thành tiếng ), là quá trình chuyển trực tiếp từ hình thức chữ viết thành các đơn
vị nghĩa không có âm thanh ( ứng với đọc thầm ).
ngữ để dùng trong giao tiếp và học tập. Nó là công cụ để học các môn khác.
Nó tạo ra hứng thú và động cơ học tập. Tạo điều kiện để học sinh có khả năng
tự học và học tập cả đời. Nó là khả năng không thể thiếu được của con người
trong thời đại văn minh.
Đọc một cách có ý thức cũng sẽ tác động tích cực tới trình độ ngôn ngữ
cũng như tư duy của người đọc. Việc dạy học sẽ giúp học sinh hiểu biết hơn,
bồi dưỡng ở các em lòng yêu cái thiện và cái đẹp, dạy cho các em biết suy
nghĩ một cách logic cũng như biết tư duy có hình ảnh. Như vậy đọc có ý
nghĩa to lớn còn vì nó bao gồm các nhiệm vụ giáo dưỡng , giáo dục và phát
triển.
1.1.2. Nhiệm vụ của dạy đọc ở Tiểu học
- Dạy học ở Tiểu đọc với tư cách là một phân môn của môn Tiếng Việt
có nhiệm vụ hình thành và phát triển năng lực đọc cho học sinh. Tính đa
nghĩa của “ đọc,, kéo theo tính đa nghĩa của “ biết đọc,,. Biết đọc được hiểu
9
theo nhiều mức độ. Một em bé mới đi học biết đánh vần “ cờ_o_co,, ngập
ngừng đọc từng tiếng một, thế cũng gọi là biết đọc. Đọc, thâu tóm được tư
tưởng của một cuốn sách trong vài ba trang cũng gọi là biết đọc. Trong một
ngày nắm được tinh thần của hàng chục cuốn sách cũng gọi là biết đọc.
Những năng lực này không phải tự nhiên mà có. Nhà trường phải từng bước
hình thành cho học sinh năng lực này và trường Tiểu học nhận nhiệm vụ đặt
viên gạch đầu tiên.
Tập đọc là một phân môn thực hành. Nhiêm vụ quan trọng nhất của nó
là hình thành năng lực đọc cho học sinh. Năng lực đọc được tạo nên từ bốn kĩ
năng cũng là bốn yêu cầu về chất lượng của “ đọc “: đọc đúng, đọc nhanh (
đọc lưu loát, trôi chảy ), đọc có ý thức ( thông hiểu được nội dung những điều
mình đọc hay còn gọi là đọc hiểu ) và đọc diễn cảm. Bốn kĩ năng này được
được đặt ra đối với học sinh lớp 4,5 khi học sinh đã có thể hiểu được nội dung
của đoạn văn mà mình học, hiểu được hàm ý trong câu giá trị nghệ thuật của
văn bản văn học và có sự liên hệ với thực tế đời sống. Vì đọc diễn cảm nằm
trong hoạt động đọc nói chung nên nó cũng là lao động và sáng tạo.
Đọc diễn cảm là một quá trình, bao gồm quá trình tiếp nhận văn bản và
quá trình thông báo, truyền đạt những văn bản viết thành văn bản đọc. Đó là
quá trình tái tạo chuyển đổi nội dung ý nghĩa nghệ thuật của văn bản thành âm
thanh, nhịp điệu, tốc độ, sự ngừng nghỉ và sắc thái thẩm mĩ, cảm xúc thẩm mĩ
và thái độ thẩm mĩ của người đọc. Ngoài ra, đọc diễn cảm còn bao gồm cả
quá trình ngôn ngữ và văn học, quá trình tâm lí và sư phạm, quá trình thông
tin và giao tiếp.ryrrrrrr
Theo tác giả Lê Phương Nga_Đặng Kim Nga đã nêu ra trong cuốn
Phương pháp dạy Tiếng Việt ở Tiểu học cho rằng: “ Đọc diễn cảm ở đây được
hiểu là đọc hay là một yêu cầu đặt ra khi đọc những văn bản văn chương hoặc
các yếu tố ngôn ngữ văn chương ’’.
11
Còn theo tác giả Hà Nguyễn Kim Giang nêu ra trong cuốn Phương
pháp đọc diễn cảm, cho rằng: “ Đọc diễn cảm là làm nổi bật đặc điểm, cảm
xúc thẩm mĩ và đời sống tinh thần của tác phẩm, tạo ra mối quan hệ xúc động
riêng của người đọc với tác phẩm ’’.
Từ những đặc điểm trên, đọc diễn cảm đã đảm bảo tính chân thực và
màu sắc của cá nhân trong cảm thụ, thể hiện được cái thần và cái hồn của bài
văn. Đọc diễn cảm đã tận dụng được các hình thức biểu hiện của người đọc,
thống nhất được nội tâm và ngoại hình, từ đó chinh phục được người nghe.
Vì vậy có thể hiểu ngắn gọn về đọc diễn cảm như sau:
Đọc diễn cảm là cách sử dụng giọng đọc có kèm theo cử chỉ, điệu bộ,
nét mặt để truyền đạt những ý nghĩ, tư tưởng, tình cảm của tác giả gửi gắm
người đọc ra ngoài quá trình tiếp nhận. Cấu trúc ý nghĩa của tác phẩm văn
chương là cấu trúc mở, “ là ’’ kết cấu vẫy gọi, sự tham gia sáng tạo của mọi
người. Vì vậy văn chương là một loại hình nghệ thuật ngôn từ, là một quá
trình phát hiện và khám phá nội dung ý nghĩa xã hội, con người, thời đại.
1.2.3. Bản chất của việc đọc diễn cảm
Việc đọc nói chung và đọc diễn cảm là biến hình thức chữ viết của văn
bản thành hình thức âm thanh của tiếng nói, là làm cho người nghe hiểu được
ý của người viết. Các nhà ngôn ngữ học đã đưa ra định nghĩa sau đây về đọc
diễn cảm. “Đọc tức là biến hình thức chữ viết của văn bản thành hình thức âm
thanh của ngôn ngữ để làm cho người nghe hiểu được điều mà tác giả nói qua
chữ viết”.
Chữ viết là một phương tiện ghi âm, dù hoàn mĩ đến đâu cũng chỉ ghi âm
một cách khái quát. Khi đọc người đọc phải lệ thuộc vào văn bản, nhưng sự ệ
thuộc này cũng không hạn chế được sự sáng tạo của người đọc. Một câu thơ,
câu văn dù giữ nguyên số câu chữ, dấu chấm câu cũng có năm, bảy cách đọc.
Về vấn đề này nhà văn A. P. Tsekhop trong truyện ngắn Những cảm xúc
13
mãnh liệt đã từng nói: “Tôi dám chắc rằng một từ nào cũng có đến một nghìn
nghĩa và sắc thái khi xem xét từ góc độ nó được đọc lên như thế nào”. Đọc là
sự phân tích, nắm bắt, đoán nhận kí hiệu.
Đọc diễn cảm cũng là một nghệ thuật có đặc điểm riêng, nó không lặp lại
người khác, không chỉ truyền đạt trung thành, máy móc bài văn mà còn ghi
đậm dấu ấn cá nhân. Đọc như thế sữ gây được chấn động tâm hồn trên cơ sở
những mĩ cảm ngôn ngữ văn học và khả năng biểu diễn. Lối đọc này sẽ có
sức hấp dẫn, lôi cuốn người nghe và làm sáng tỏ thêm nội dung, ý nghĩa của
tác phẩm văn chương. Rõ ràng đọc diễn cảm mang đầy đủ tính nghệ thuật của
nó.
trường hợp cụ thể, có nghĩa là có tính đến thể loại, khuynh hướng văn học, thế
giới quan và tư tưởng của tác giả, mà còn từ góc độ sư phạm của những tác
phẩm đó và sự dẽ hiểu của chúng đối với từng lứa tuổi học sinh.
Từ những điều trình bày trên ta có thể khái quát lại về bản chất của đọc
diễn cảm như sau:
+ Đọc diễn cảm là lao động sáng tạo
+ Là biểu diễn nghệ thuật đọc
+ Truyền đạt mọi cái hay cho người nghe
+ Phát huy màu sắc của tác phẩm
+ Đó là một phương pháp sư phạm và là một khoa học
1.3. Các cơ sở lí luận của đọc diễn cảm
1.3.1. Cơ sở ngôn ngữ học của đọc diễn cảm
1.3.1.1. Ngữ điệu của lời nói
Trong khi nói về nghệ thuật đọc, người ta thường xác định rằng đó là
nghệ thuật của ngữ điệu. Sự tồn tị của các ngữ điệu đa dạng khác nhau đã cho
phép người ta phân biệt lời nói diễn cảm với lời nói không diễn cảm. “ Người
nói cần phải biết sử dụng thành thạo những phương tiện không có tính ngôn
ngữ nhưng lại rất quan trọng về mặt tâm lí để biểu hiện ý nghĩ. Trước hết đó
15
là ngữ điệu”. Thế nào là ngữ điệu? Theo định nghĩa của nhà tâ, lí học thì ngữ
điệu của lời nói là hệ thống âm thanh của câu nói chung. Ngữ điệu bao gồm
tất cả các dấu hiệu âm thanh phức tạp: sự thay đổi của giọng nói cơ bản, độ
vang to, âm sắc, độ dài. Ngoài ra còn có những chỗ nghỉ hơi, những chỗ ngắt
câu. Ngữ điệu biểu thị mối quan hệ tình cảm, ý chí của con người trong quá
trình giao tiếp với nhau nhưng không phải tất cả những tính chất quan trọng
của ngữ điệu đều được xem là cơ sở của sự diễn cảm. Ngữ điệu không những
diễn tả mối quan hệ tình cảm, ý chí của con người mà còn được xác định bởi
phương ngữ. Mục tiêu của chúng ta đặt ra là luyện cho học sinh vươn đến một
tiếng nói dân tộc Việt thống nhất, đẹp đẽ về mặt âm thanh. Muốn như vậy
chúng ta phải luyện cho học sinh đọc đúng, hay trong phạm vi giao tiếp rộng
hơn phương ngữ hẹp của mình.
Trong nhiều thập kỉ nay, trong giới ngôn ngữ học có nhiều quan điểm
khác nhau về chuẩn mực ngữ âm tiếng Việt, trong đó có ý kiến lấy phương
ngữ Bắc bộ (tiêu biểu là thủ đô Hà Nội) là cơ sở để xác định chuẩn mực ngữ
âm. Đây là quan điểm được nhiều người tán thành. Đó là cách phát âm lấy
phương ngữ Bắc bộ (tiêu biểu là tiếng Hà Nội) bổ sung thêm ba phụ âm đầu
của miền Trung, những âm được biểu hiện trên chữ viết bằng những con chữ
tr/ s/ r và hai vần ươu, ưu (từ đây chúng ta sẽ gọi cách phát âm này là cách
phát âm đúng chuẩn chữ viết. Nhiều giáo viên tiểu học còn gọi cách phát âm
này là phát âm đúng chính tả).
1.3.1.2. 2. Trọng âm
Là độ vang và độ mạnh khi phát âm ra âm tiết (tiếng). Dựa vào sự phát
âm một tiếng mạnh hay yếu, kéo dài hay không kéo dài, đường nét thanh điệu
rõ hay không rõ, người ta chia các tiếng thành chuỗi lời nói, thành tiếng có
trọng âm (là tiếng có trọng âm mạnh) và không có trọng âm( tiếng có trọng
âm yếu). Trọng âm mạnh rơi vào các từ truyền đạt thông tin mới hoặc có tầm
17
quan trọng trong câu. Trọng âm yếu đi với các từ không có hoặc có ít thông
tin mới. Đây là căn cứ để chúng ta đọc rõ, nhấn giọng hay kéo dài những từ
quan trọng trong bài.
Loại từ và hư từ mang trọng âm yếu. Thực từ mới có trọng âm. Trong
câu, mỗi ngữ đoạn (mà đường ranh giới là những chỗ ngắt, nghỉ) được kết
thúc bằng một trọng âm, trừ khi ngữ đoạn kết thức bằng một ngữ khí từ. Đây
là căn cứ qua trọng để xác định chỗ ngắt nghỉ trong câu văn, câu thơ, cũng là
những cái mới, là quá trình phản ánh thực tiễn một cách gián tiếp và khái quát
trong quá trình phân tích và tổng hợp, tư duy gắn một cách hữu cơ với ngôn
ngữ.
Tư duy và ngôn ngữ có mối quan hệ đặc biệt trong quá trình hoạt động
của ngôn ngữ bên trong (ngôn ngữ câm). Đặc điểm của nó là những cấu âm
ẩn kín mà từ đó những sự kích thích yếu ớt của vận động được chuyển vào
não để tư duy bình thường.
Thông thường người ta chia tư duy ra thành tư duy hình tượng và tư
duy khái niệm. Trong thực tế cả hai loại tư duy này có mối quan hệ lẫn nhau.
Nó có liên quan đến một quá trình rất quan trọng đối với sự sáng tạo- đó là sự
tưởng tượng.
1.3.1.2.5. Tính hình tượng của ngôn ngữ
Tưởng tượng là sự sáng tạo ra một hình ảnh, một khái niệm, một tư
tưởng mới, sau đó chúng được thể hiện vào sự vật hoặc trong hoạt động thực
tiễn. Trong lĩnh vực đọc diễn cảm thì đó là sự sáng tạo hình tượng hay khái
niệm được thể hiện bằng lời nói. Không có tưởng tượng thì không có một sự
sáng tạo nghệ thuật nào. Cơ sở sinh lí học của tưởng tượng là sự hình thành
những tổ hợp mới tren cơ sở những liên kết tạm thời được hình thành trong
những kinh nghiệm cũ. Vì vậy kinh nghiệm càng phong phú thì càng có nhiều
khả năng để tưởng tượng. Sự quan sát tất cả các hiện tượng có trong cuộc
sống là nền tảng của tưởng tượng. Tưởng tượng khác với quá trình ghi nhớ
19
bình thường ở chỗ hình ảnh thu nhận được nhờ những liên kết mới là hình ảnh
chưa có trong kinh nghiệm của chúng ta. Thiếu đi những yếu tố cần thiết
trong trí nhớ của người nói hay người tiếp thu thì sẽ gây khó khăn cho sự nảy
sinh hình tượng. Đó cũng là khó khăn của học sinh trong khi tiếp thụ văn học
cổ điển trước cách mạng.
Vai trò quyết đinh trong sự khởi động của các phản ứng tình cảm là ở
vỏ ban cầu đại não,ở đó xuất hiện sự liên kết các tín hiệu bắt nguồn từ các bộ
phận bên trong cơ thể với những tín hiệu vận động. Như vậy tình cảm cũng
như những quá trình tâm lí khác do trung tâm của não bộ điều khiển. tình cảm
của con người thể hiện trong những hành động vận động muôn vẻ như điệu
bộ, cử chỉ, những sự vận động của cơ thể và những sự thay đổi cuargiong nói,
lời nói. Sự thay đổi này không phải lấy ý chí để dập tắt. Nó mang tính tự
nhiên. Nói như Ximonop “trong đọc diễn cảm thì hệ thống cảm xúc cá nhân
có được nhờ tương giao với tác phẩm văn học, phải chiếm ưu thế hơn hệ
thống khái niệm”.
Muốn đọc cho được tình cảm thì phải truyền đạt được tình cảm như
một nhà tâm lí học đã nói “không có con đường đi trực tiếp tới tình cảm” xuất
phát từ luận điểm đó nhà lí luận về nghệ thuật biểu diễn, đồng thời nhà nghệ
sĩ Xtanhilapxki đã nói: “không thể ra lệnh cho tình cảm mà phải đi đến tình
cảm bằng nhiều con đường khác nhau…khi trạng thái tâm lí có khả năng làm
nảy sinh mối quan hệ tình cảm của con người đối với các hiện tượng xuang
quanh xuất hiện thì mối quan hệ biểu cảm được tạo nên và đó sẽ là cảm xúc”.
1.3.2. Cơ sở giao tiếp của đọc diễn cảm
Từ diễn cảm có chứa một ý nghĩa là diễn xuất, là thể hiện ra bên ngoài
những cảm xúc.
Giao tiếp hàng ngày đòi hỏi phần lớn phải sử dụng ngôn ngữ nói và
những yếu tố phi ngôn ngữ như: ánh mắt, nụ cười, nét mặt, lắc đầu, thở
dài,…Những sự xúc cảm đó chỉ sinh ra trong tình huống giao tiếp và trong
21
mục đích giao tiếp. Nó bắt nguồn từ ý đồ chủ quan của ngôn ngữ giao tiếp (có
ngôn ngữ phát tin và người nhận). Đó là xúc cảm tự nhiên và cục bộ thực
dụng theo mục đích giao tiếp.
gọi là “hạ văn bản”. (Đọc diễn cảm phải chú ý đến nội dung tư tưởng của nhà
văn gửi gắm trong tác phẩm).
Đọc diễn cảm cho một đối tượng nghe về một số đối tượng thẩm mĩ.
phải tạo dựng được mối quan hệ khăng khít với tác phẩm và với người nghe.
Do đó có hai công đoạn: cảm thụ + hiểu biết tác phẩm và truyền thụ + hiểu
biết người nghe.
Vì vậy để đọc diễn cảm tốt cần phải thực hiện việc đọc trong các giờ
học văn và giờ dạy tiếng Việt. Việc đọc diễn cảm trong các giờ văn học giúp
cho việc cảm thụ, tiếp nhận văn học tốt hơn, giúp hiểu sâu sắc nghệ thuật viết
văn tạo ra sức hấp dẫn và hiệu quả dạy văn. Việc đọc diễn cảm trong quá trình
dạy tiếng Việt làm cho các em thấy rõ sự phong phú và khả năng vận dụng
ngôn ngữ dân tộc vào các lĩnh vực. Qua đó các em thấy rõ mối quan hệ đồng
bộ, hệ thống, cụ thể của tiếng mẹ đẻ.
1.3.3. Cở sở sinh lí học và tâm lí học của đọc diễn cảm
Muốn giải quyết vấn đề cần phải dạy đọc diễn cảm cho ai, nhất thiết
phải chú ý đến vấn đề tâm lí học và sinh lí học. Thực tế trong các giờ dạy đọc
hiện nay cho thấy chỉ có thể dạy đọc một cách diễn cảm cho một số học sinh
có năng khiếu mà thôi. Nhà trường hiện nay là nhà trường chung cho tất cả
các em và chưa có một văn ban nào đưa ra vấn đề chia học sinh ra làm hai
loại: loại có năng khiếu và loại không có năng khiếu. Nhưng thực tế trong giờ
thực hành lại có sự phân chia đó. Thường thường một lớp học chỉ một số em
biết đọc diễn cảm, còn đa số các em khác thì không biết đọc diễn cảm và thầy
cô giáo cũng chỉ chú trong tới một vài em có năng khiếu đó.
Vì vậy một vấn đề cấp bách được đặt ra là có thể đọc diễn cảm cho tất
cả các em học sinh được không, và có cần thiết phải làm điều đó không ?
23
Khoa học hiện đại đã phân tích các hiện tượng như khả năng, năng khiếu,
tư duy phải hoàn toàn do tác động của con người và giáo dục. Có thể nói,
“trực giác là tư duy không có dấu vết rõ ràng của nhận thức”.
Trực giác là một khái niệm còn chứa đầy bí ẩn đối với khoa học nhất là
lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật, lĩnh vực tâm lí học giao tiếp, lĩnh vực tiếp nhận
văn học, lĩnh vực cắt nghĩa luận giải tác phẩm văn học. Tuy nhiên các nhà
nghiên cứu thường có quan niệm thống nhất với nhau về trực giác.
Các nhà nghiên cứu phương Tây cho trực giác là tri thức cao nhất, xem
trực giác là bước nhẩy vọt của cảm tính, là bước sóng xuất thần, người ta gọi
trực giác – tổng giác (tổng nhận thức con người). Họ diễn đạt trực giác không
phải là trở về cái đã có mà là đạt đến cái mới cao hơn nhận thức và không thể
diễn đạt bằng lời.
Trực giác là sự sáng tạo bởi có cái mới bằng sức mạnh tổng hợp của
con người.
Páplốp nói: “tôi thấy rằng cần phải hiểu trực giác như vậy tức là con
người chỉ nhớ kết quả cuối cùng còn toàn bộ con đường mà nó đã đi để đên
kết quả đó, đã chuẩn bị cho kết quả đó lúc này nó chưa ý thức được”.
Như vậy trực giác có vai trò quan trọng trong đọc diễn cảm, nó cũng là
một yếu tố có tính quyết định trong việc đọc diễn cảm diễn ra trong một
khoảng thời gian ngắn. Một lần nữa chúng ta có thể khẳng định, những đặc
điểm thuộc về tâm lí cá nhân như năng khiếu, thiên tài không phải hoàn toàn
do bẩm sinh mà là kết quả của một quá trình học tập, hoạt động rèn luyện. Vì
thế, có thể dạy và nhất thiết cần phải dạy cho trẻ ở mọi lứa tuổi đọc diễn cảm.
Kĩ năng đọc diễn cảm, sự hoàn thiện ngôn ngữ của con người sẽ được hình
thành trong quá trình đọc diễn cảm.
1.3.4. Đọc diễn cảm là một nghệ thuật đọc văn trong nhà trường tiểu
học
25