TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH - KTNN
--------------o0o--------------
NGUYỄN THỊ HÀ
BẢO TỒN LÀNG CỔ
ĐƯỜNG LÂM – SƠN TÂY – HÀ NỘI GẮN VỚI
PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Sinh thái học
Người hướng dẫn khoa học
TS. Hoàng Nguyễn Bình
ThS. Nguyễn Văn Hiếu
HÀ NỘI - 2011
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: TS. Hoàng Nguyễn Bình
ThS. Nguyễn Văn Hiếu
LỜI CAM ĐOAN
Với nội dung của đề tài tôi xin cam đoan như sau:
1. Đề tài của tôi không hề sao chép từ bất kỳ một đề tài nào có sẵn.
2. Đề tài của tôi không trùng với một đề tài nào khác.
3. Kết quả thu được trong đề tài là do nghiên cứu thực tiễn đảm bảo tính
chính xác, trung thực.
4. Đề tài là một phần công trình dự thi giải thưởng sinh viên nghiên cứu
còn hạn chế nên đề tài này không tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy, tôi rất mong được sự
chỉ bảo và đóng góp ý kiến của các thầy cô và các bạn sinh viên để đề tài này được hoàn
thiện hơn.
Kính chúc quý thầy cô và các bạn sức khỏe, thành công và hạnh phúc.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 22 tháng 04 năm 2011
Sinh viên thực hiện
NguyễnThị Hà
Nguyễn Thị Hà
iii
K33B- SP Sinh
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: TS. Hoàng Nguyễn Bình
ThS. Nguyễn Văn Hiếu
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC .................................................................................................. 1
1. Lý do chọn đề tài ..................................................................................... 1
2. Mục đích của đề tài .................................................................................. 1
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài .................................................. 2
GVHD: TS. Hoàng Nguyễn Bình
ThS. Nguyễn Văn Hiếu
3.1. Vị trí địa lý ............................................................................................ 18
3.2. Lịch sử hình thành xã Đường Lâm ....................................................... 18
3.3. Vài nét về đặc điểm tự nhiên ................................................................. 21
3.4. Đặc điểm dân cư, kinh tế, văn hóa xã hội ............................................. 21
CHƯƠNG 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ................... 23
4.1. Thực trạng số lượng nhà cổ Đường Lâm bị phá vỡ .......................... 23
4.1.1. Số lượng nhà cổ trong những năm gần đây......................................... 23
4.1.2. Nguyên nhân số lượng nhà cổ suy giảm ............................................. 24
4.1.3. Các xóm của làng cổ giữ lại được nhiều nhà cổ và nguyên nhân ........ 24
4.1.4. Các xóm của làng cổ còn lại ít nhà cổ và nguyên nhân ...................... 25
4.2. Nguy cơ làng cổ Đường Lâm bị “biến mất” trong tương lai
gần............................................................................................................... 25
4.3. Những giải pháp góp phần bảo tồn và phát huy giá trị làng cổ
Đường Lâm................................................................................................. 27
4.3.1. Giải pháp trước mắt ............................................................................ 27
4.3.2. Giải pháp dài hạn................................................................................ 29
4.3.2.1 Xã hội hoá công tác bảo tồn, tôn tạo di tích ...................................... 29
4.3.2.2. Gắn hoạt động du lịch sinh thái – văn hóa – lịch sử tại làng cổ Đường
Lâm với các địa điểm văn hóa – lịch sử ở Sơn Tây và các vùng phụ cận...... 32
4.3.2.3. Kết hợp giới thiệu với du khách thập phương về những nét đặc trưng
của nhà cổ Đường Lâm thông qua các lễ hội lớn của thị xã Sơn Tây............ 34
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ................................................................... 36
1. Kết luận.................................................................................................... 36
2. Kiến nghị ................................................................................................. 36
TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................... 38
PHỤ LỤC
trúc nhà ở truyền thống của làng cổ Đường Lâm không chỉ là gìn giữ một di
sản văn hóa quý báu của dân tộc trong thời kỳ hội nhập thế giới mà còn là gìn
giữ một di sản vật thể, phi vật thể của địa phương này.
2. Mục đích của đề tài
Hiện nay, ngôi làng Việt Cổ nổi tiếng đang bị mai một từng ngày bởi
sức phá của thời gian, con người, thiên nhiên. Đứng trước một di sản quốc gia
có giá trị to lớn như vậy nếu không có những phương án bảo tồn kịp thời,
đúng đắn thì có thể trong tương lai làng cổ Đường Lâm chỉ còn được mọi
người biết đến qua sách, vở, và những thước phim tư liệu... Để gìn giữ văn
hóa của ngôi làng Bắc Bộ điển hình này, tôi đã lựa chọn đề tài này nhằm:
- Đánh giá lại về giá trị văn hóa – lịch sử của làng cổ Đường Lâm.
Nguyễn Thị Hà
1
K33B- SP Sinh
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: TS. Hoàng Nguyễn Bình
ThS. Nguyễn Văn Hiếu
- Tìm hiểu về những nguyên nhân tác động đến làng cổ, đồng thời đề
xuất các giải pháp tu sửa, phục chế, bảo tồn nguyên vẹn từng cụm nhà cổ và
hướng tới bảo tồn, phục hồi toàn bộ những ngôi nhà cổ trong tương lai. Từ đó
xây dựng Đường Lâm thành một điểm nhấn trong bức tranh du lịch xứ Đoài.
Vì vậy, tôi thực hiện nghiên cứu đề tài: “Bảo tồn làng cổ Đường Lâm
– Sơn Tây – Hà Nội gắn với phát triển du lịch sinh thái”.
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Sơ lược về lịch sử phát triển, vai trò của các làng cổ ở Việt Nam
Làng xã là nơi cư trú, là một hình thức tổ chức quan trọng của nông
thôn các quốc gia ở châu Á. Suốt nhiều thế kỷ, làng xã là đơn vị tụ cư cổ
truyền lâu đời ở nông thôn. Từ thời Hùng Vương làng được gọi là Chạ. Đơn
vị này được coi tương ứng với Sóc của người khơme, Bản Mường (của các
dân tộc thiểu số phía Bắc), Buôn (của các dân tộc thiểu số Tây Nguyên –
Trường Sơn). Làng của những người làm nghề chài lưới được gọi là Vạn hay
Vạn chài.
Làng Việt Nam là một phức hợp của các tổ chức xã hội mà trước hết là
dòng họ. Các mối liên kết trong họ hàng có cả tín ngưỡng, tôn giáo, địa vực
láng giềng, xóm giáp, địa vị hành chính làng xã và họ hàng huyết thống
nhưng mối liên kết họ hàng vẫn là bền vững nhất. Quá trình hình thành và
phát triển của một làng ở đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng
từ khởi đầu cho đến ngày nay là sự chuyển đổi và phát triển từ liên kết hộ gia
đình tiến lên là liên kết họ hàng và các họ hàng với nhau. Đó cũng là mối liên
kết tự nhiên theo hôn nhân và theo sản xuất. Cùng với sự xuất hiện làng xã
trong lịch sử, văn hóa làng xã cũng ra đời trở thành nét đặc trưng của văn hóa
dân tộc. Văn hóa làng xã là một thành tố trong văn hóa truyền thống bên cạnh
những thành tố khác như văn hóa biển, văn hóa cung đình…Văn hóa làng xã
là kết quả của một chế độ riêng ở Việt Nam, một chế độ thống nhất trên cả
nước, nảy sinh trên nền tảng sinh hoạt của con người trong khung cảnh làng
xã ở nông thôn. Văn hóa làng xã mang bản sắc của một lối sống cộng đồng, là
nơi mà quyền lợi của người này gắn với quyền lợi của người khác và với
quyền lợi của cộng đồng. Văn hóa làng xã được thể hiện ở mỗi gia đình với
gia phong đã được chuẩn mực hóa từ lâu, được thể hiện bởi nền văn học dân
gian phong phú, cuộc sống lễ hội sống động. Mỗi làng đều có những ngày
Nguyễn Thị Hà
Ngày nay, đất nước đang trên đà phát triển, công cuộc công nghiệp hóa
– hiện đại hóa đang diễn ra mạnh mẽ đã làm ảnh hưởng không ít đến cuộc
sống của các làng cổ ở Việt Nam. Một số làng cổ đã có sự thay đổi nhất định,
nhưng cũng có nhiều làng vẫn còn giữ được những đặc điểm cấu trúc và nét
văn hoá xưa. Cũng giống như các xã thôn Việt Nam cổ truyền, các thôn tại xã
Đường Lâm với hơn một nghìn năm lịch sử xây dựng và phát triển còn lưu
giữ được một kho tàng di sản văn hoá rất phong phú, điển hình cả về di sản
văn hoá vật thể và di sản văn hoá phi vật thể. Trên địa bàn xã Đường Lâm
Nguyễn Thị Hà
4
K33B- SP Sinh
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: TS. Hoàng Nguyễn Bình
ThS. Nguyễn Văn Hiếu
hiện nay, tuy đã bắt đầu bị trào lưu đô thị hoá, thương mại hoá tác động
nhưng không gian, cảnh quan môi trường của một làng cổ vẫn còn được gìn
giữ khá nguyên vẹn từ dáng vẻ, cảnh quan của vùng đất thổ canh, thổ cư đến
quy hoạch đường làng, ngõ xóm truyền thống. Có thể khẳng định rằng: Chúng
ta biết đến làng cổ Đường Lâm – Sơn Tây không chỉ nổi tiếng là vùng đất địa
linh nhân kiệt “Một ấp hai vua” lưu danh sử sách mà còn biết đến một Đường
Lâm bảo tồn và phát huy được những vốn cổ về những nét đặc trưng của làng
cổ Việt Nam.
Theo thống kê của sở Văn hóa – Thông tin Hà Tây (cũ) Đường Lâm có
ThS. Nguyễn Văn Hiếu
những nền văn minh của thời trung cổ. Vượt qua các di tích khác của Đường
Lâm, với đình Phùng Hưng và Ngô Quyền, thì đình Mông Phụ và Chùa Mía
có thể coi là hai điểm sáng văn hóa rực rỡ của miền quê nông nghiệp này.
Dân gian xưa có câu:
“Cầu Nam, chùa Bắc, đình Đoài”
Đình làng Mông Phụ là ngôi đình thuộc loại có tiếng ấy! Trải qua bao
năm tháng thời gian, trải qua bao biến động và thăng trầm của lịch sử. Đình
Mông Phụ hiện vẫn là ngôi đình đẹp của xứ Đoài. Đình tọa lạc giữa làng nơi
cao nhất của một trái đồi thấp đông đúc cư dân quần tụ. Trước cửa đình xưa là
một khoảnh sân rộng lớn bằng phẳng là nơi quy tập của mọi con đường trong
làng đến đình. Ngược lại, sân đình là một ngã sáu xòe ra như một bông hoa
tỏa đến mọi ngõ ngách trong làng. Có một điều đặc biệt là dù đi hay đến và
bắt đầu từ xóm nào không ai phải quay lưng lại với hướng chính của đình.
Đây quả là sự tinh tế trong quy hoạch xây dựng cổ, lối kiến trúc ấy biểu hiện
sự thành kính về mặt tâm linh của dân làng.
Người Đường Lâm thờ thần Tản Viên ở đình bởi ngài đại diện của chân
lý, của đạo đức, một chỗ dựa tinh thần, một trung tâm đoàn kết cộng đồng để
bảo vệ và xây dựng xóm làng. Đình quay hướng Tây Nam, với hướng Nam
mang đúng tư cách “Thánh nhân nam diện” nhằm đề cao thần như một ông
vua của làng, xã, hướng Nam là hướng chứa đầy sinh lực, mát mẻ và cũng là
hướng của thiện tâm trên nền tảng trí tuệ. Hướng Tây mang yếu tố âm, mặt
thần (mặt đình) mang yếu tố dương, nên giữa kiến trúc thần và không gian đã
tạo thành một thể âm dương đối đãi khiến thần luôn yên vị. Đó là ước vọng
thường trực trong nhận thức của người Việt trước đây. Như vậy nhìn về
hướng Tây Nam đã mang tính tổng hòa của mọi ý nghĩa nêu trên, khiến đình
Mông Phụ được coi như nằm ở miền đất thánh thiện.
Đình Mông Phụ là một đình lớn trong hệ thống “đình Đoài”. Đình
không có niên đại cổ kính như đình Thụy Phiêu (Thụy An – Ba Vì – Hà Nội),
góc cong bốn mái rất duyên dáng đặt bên tả tòa đại đình. Trước kia, ngôi nhà
là nơi đón tiếp khách về dự lễ [7].
Giai thoại xưa kể rằng: Đình Mông Phụ đặt trên đầu một con rồng mà
giếng làng là hai mắt rồng, sân đình đào thấp hơn mặt bằng xung quanh có vẻ
như là một nghịch lý so với kiến trúc hiện đại, song thực ra đó là một dụng ý
của người xưa. Khi trời mưa xuống, nước từ 3 phía ồ ạt đổ vào phải chăng đó
là một khát vọng về một cuộc sống ấm no của người xưa (Tụ thuỷ sinh tài).
Sau đó nước từ từ thoát ra theo 2 cống nhỏ chạy dọc theo nách đình, từ xa
nhìn lại trong mưa 2 rãnh nước vẽ nên 2 râu rồng vừa thật lại vừa ảo đây nhìn
lại quả thật là một ý tưởng kiến trúc hết sức tài hoa của những nghệ nhân cổ.
Nguyễn Thị Hà
7
K33B- SP Sinh
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: TS. Hoàng Nguyễn Bình
ThS. Nguyễn Văn Hiếu
Chùa Mía (tức Sùng Nghiêm Tự) là di tích được Bộ văn hóa thông tin
xếp vào loại đặc biệt. Hiện nay, Chùa có 287 pho tượng gồm 6 tượng đồng,
107 tượng mộc và 174 tượng đất nung (làm bằng đất sét, thân và rễ cây si)
được sơn son thiếp vàng. Ngoài giá trị về tâm linh, tượng phật Chùa Mía đã
khắc họa lại nét văn hóa của thời xa xưa, góc cạnh cuộc sống đời thường được
bàn tay nghệ nhân mô phỏng sống động từ đường gân sắc mặt đến xiêm áo,
cân đai...đều được thể hiện rõ nội tâm con người trong mọi đẳng cấp xã hội.
ThS. Nguyễn Văn Hiếu
“Kết cấu ngoại quốc, nội công
Hành lang thăm thẳm nối thông hậu đường
Tòa ngang nối dọc vấn vương
Tạo thành chữ “Mục” tinh tường thiện tâm”.
Ở lĩnh vực phong thủy, chùa Mía được nằm trên một mảnh đất cao, xa
xa có sông Tích chảy từ bên hữu sang bên tả mang nghĩa đem dòng sinh lực
từ dương về âm để muôn loài muôn vật trong không gian này phát sinh, phát
triển. Chùa được quay hướng Tây Nam vừa hướng đến trí tuệ để hành thiện
(Nam) vừa có ý thức cầu mong thần linh yên vị (Tây).
Về với Chùa Mía dâng hương lễ phật, cầu tài, cầu lộc, thưởng ngoạn
cảnh chùa và một số di tích lịch sử khác của làng cổ Đường Lâm đã để lại
trong lòng du khách thập phương một ấn tượng sâu sắc về giá trị lịch sử,
nghệ thuật kiến trúc cũng như không gian tĩnh lặng thiêng liêng đặc trưng của
vùng quê xứ Đoài này [2][3].
1.2.2.2. Những nét đặc trưng trong kiến trúc nhà cổ Đường Lâm
Trong tâm thức của mỗi người dân, nhà cổ là một loại hình di tích đặc
biệt, là một trong những yếu tố cấu thành tạo nên nét đặc sắc tiêu biểu cho
quần thể di tích ở làng cổ Đường Lâm. Nói đến nhà cổ là nói tới kết cấu kiến
trúc, các hạng mục công trình, quá trình hình thành, kiểu thức, sắc thái của
nhà cổ trong tổng thể làng cổ ở Đường Lâm. Trải qua thời gian và diễn trình
lịch sử, mỗi một ngôi nhà cổ hiện tồn ở Đường Lâm hiện nay đều có nét riêng
biệt, đặc trưng riêng.
Có một điểm dễ nhận thấy ở Đường Lâm là ngoài việc nhà ở được xây
rất sát nhau do phải thích nghi với điều kiện hạn chế về đất đai thì tường nhà
và tường rào quanh vườn được xây khá cao, bó kín lấy không gian ngôi nhà,
cửa và cánh cổng cũng thường làm khá chắc và chỉ có thể mở được từ bên
trong. Điều này được giải thích bằng nguyên nhân do Đường Lâm vốn ở vị trí
nhiều rừng, nhiều trộm cướp, việc ngôi nhà kiên cố và kín đáo cũng là một
cổ ở Đường Lâm phần lớn làm theo hướng Nam và hướng Đông Nam, một số
ít nhà tọa lạc theo hướng Tây Bắc, Đông Bắc. Trong các ngôi nhà cổ, có hình
thức tổ chức không gian, các hạng mục công trình phụ: sân bếp, khu chăn
nuôi, vườn tược... được bố trí hài hòa trong tổng thể diện tích đất sở hữu. Bố
trí khuôn viên thường là nhà chính nhìn ra vườn cây xanh, hai bên là giếng
nước và khu nhà phụ. Nhà chính và nhà phụ vuông góc với nhau theo kiểu
“Thước thợ” hoặc kiểu nhà chính và nhà phụ song song với nhau “Tiền
khách, hậu tự” thường là gia đình giàu có, nhà trưởng họ. Ngoài ra, còn có
kiểu nhà chính, nhà phụ, bếp nằm xung quanh ba phía của sân. Những chi tiết
làm lên “linh hồn” của nhà cổ gồm: Tường đá ong, cổng đá ong, lối đi lát
gạch nghiêng, bậu cửa cao và gian thờ tổ tiên. Bởi vậy mỗi ngôi nhà là một đồ
Nguyễn Thị Hà
10
K33B- SP Sinh
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: TS. Hoàng Nguyễn Bình
ThS. Nguyễn Văn Hiếu
gia bảo, là lịch sử, văn hóa và cũng là nơi thờ tự thiêng liêng của mỗi dòng
họ.
Nét cổ kính, thuần Việt của những ngôi nhà cổ Đường Lâm được thể
hiện ngay từ hạng mục cổng. Theo quan niệm của tiền nhân khi thiết kế hạng
mục cổng thì tuyệt đối không để hướng và mặt của cổng nhìn thẳng vào gian
giữa của ngôi nhà chính nếu không của cải, phúc đức... sẽ theo đó đi ra. Theo
GVHD: TS. Hoàng Nguyễn Bình
ThS. Nguyễn Văn Hiếu
Qua lớp cổng là tới sân, là một khoảng không gian tương đối rộng được
sử dụng làm nơi phơi thóc lúa, rơm rạ... là không gian chuyển tiếp từ ngoài
nhà vào trong nhà.
Ngôi nhà chính được làm bằng gỗ, đá ong, lợp ngói mũi (ngói ri), mặt
bằng ngôi nhà phần lớn có kết cấu năm gian (ba gian giữa, hai gian buồng),
hai dĩ, một tầng hai mái chảy lợp ngói ri, bờ nóc để trơn, một số nhà hai đầu
bờ nóc có đắp hai đấu nắm nhô cao. Phần mái với ngói ri ở trên, tiếp đó là
ngói lót, hoành, rui, tạo không gian trong lành, êm ả cho ngôi nhà truyền
thống. Do dạng một tầng hai mái lợp bằng ngói dày chồng lên nhau, xen giữa
là lớp không khí có tác dụng hạn chế ảnh hưởng của tia bức xạ nhiệt. Ở bộ
phận che chắn của ngôi nhà này, cho thấy sự khác biệt của nhà cổ ở Đường
Lâm với các ngôi nhà ở miền Nam (chủ yếu lợp bằng rơm, lá hay cành dừa),
qua đó thể hiện sự “ăn chắc, mặc bền” theo quan niệm của người Đường
Lâm: có “an cư” mới “lập nghiệp”. Tường nhà được xây bằng chất liệu đá
ong, một chất liệu truyền thống của làng Việt Cổ theo kiểu tường hồi bít đốc.
Theo các cụ già kể lại các gia đình làm được ngôi nhà phải chuẩn bị công phu
trong thời gian rất dài. Đá ong là vật liệu sẵn có ở trong lòng đất của địa
phương do quá trình laterit hóa tạo nên, người thợ đánh đá phải đào lớp đất
màu khoảng một mét thì đến lớp đá ong. Họ phải thăm dò chỗ nào đá già thì
mới khai thác, dụng cụ khai thác chỉ là một cái thuốc, thợ thuốn đá ong phải
có sức khỏe, mỗi ngày một người thợ chỉ đào được khoảng 40 – 50 viên đá.
Đá được đào thành viên đem phơi nắng một thời gian gặp không khí và ánh
nắng đá càng cứng, có độ bền rất cao khi xây tường do thành phần chủ yếu
của đá ong là Fe khi gặp không khí sẽ xảy ra phản ứng chuyển Fe2+ Fe3+,
còn vữa xây tường là hỗn hợp đất trộn với trấu loại đất cát ở địa phương. Một
số nhà nghèo họ lấy đất bùn ao nhào nặn đóng thành viên gạch phơi khô gọi
Thông thường, các công trình kiến trúc cổ phục vụ tôn giáo và tín
ngưỡng, phần hạ của bộ vì (tức là vì hiên) chủ yếu dưới dạng bảy hiên ngắn
nên không gian tính từ cửa ra tàu mái thường hẹp, bởi lẽ loại hình kiến trúc
này đề cao không gian thờ phụng hơn cả, còn đối với loại hình kiến trúc nhà
cổ phục vụ dân sinh như phần lớn nhà cổ ở Đường Lâm thì phần không gian
hiên được cấu thành từ kẻ và bẩy nhằm tạo không gian rộng để phục vụ sinh
hoạt. Hơn nữa, ở các kẻ và bảy hiên còn được các nghệ nhân xưa chạm các
hoa văn vân xoắn, các đao mác tia lửa... tương đối tinh xảo có giá trị thẩm mỹ
cao tạo cho tổng thể ngôi nhà không còn sự cứng nhắc.
Do kết cấu kiến trúc, lề thói sinh hoạt nên nhà được chia thành ba
không gian. Ba gian giữa: gian chính giữa là nơi bài trí bàn thờ, ngai thờ và
các đồ tế tự với chức năng thờ cúng, hai gian bên bài trí dành làm nơi tiếp
khách, sinh hoạt chung của gia đình, dạy dỗ con cái, sập gỗ để làm chỗ nghỉ
Nguyễn Thị Hà
13
K33B- SP Sinh
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: TS. Hoàng Nguyễn Bình
ThS. Nguyễn Văn Hiếu
ngơi của đàn ông trong nhà, khách nam giới... với tính chất đa năng trong đó
việc thờ cúng là quan trọng nhất. Hai gian bên (hai gian chái) có dạng không
gian kín là nơi sinh hoạt của phụ nữ trong gia đình (hoặc nơi ở vợ chồng con
trai mới ở riêng), nơi dự trữ lương thực giống má, cất giữ đồ dùng... hai gian
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: TS. Hoàng Nguyễn Bình
ThS. Nguyễn Văn Hiếu
1.2.2.3. Giá trị kiến trúc, văn hoá, nghệ thuật của nhà cổ
Trong tâm thức của người Việt truyền thống, trong một đời người có ba
việc lớn: “Tậu trâu, lấy vợ, làm nhà”. Vì thế, ngôi nhà được chủ nhân tập
trung hết tâm huyết, sức lực, của cải để làm. Một mặt trên mình ngôi nhà đã
mang những giá trị văn hoá đặc trưng của vùng miền, là nơi thể hiện sự tài
hoa của nền mỹ thuật, kiến trúc, truyền thống. Mặt khác, cũng thể hiện rõ nét
trình độ phát triển kinh tế, xã hội và văn hoá của gia đình trong từng giai đoạn
lịch sử.
Mặt bằng tổ chức không gian của những ngôi nhà cổ này được bố trí
hết sức hợp lý và chịu sự cố kết của kiến trúc gỗ như tính độc lập, khép kín
của những không gian cần thiết, tổ chức không gian mở có tính đa năng, trang
trí bên ngoài và bên trong nhà. Giá trị nghệ thuật kiến trúc còn được thể hiện
rõ nét qua nội thất công trình, đó là vẻ đẹp tự nhiên của hệ kết cấu bộ khung
ngôi nhà, ở tính thống nhất giữa bên trong và bên ngoài nhà, chúng liên hệ
chặt chẽ với nhau qua từng chi tiết thể hiện rất đậm nét về sinh hoạt thường
nhật, ngày lễ, ngày hội của gia đình từ đó cho chúng ta thấy rõ nếp sống của
những gia đình nông dân với phương thức “tự cung, tự cấp”, nhất là nét đẹp
trong việc thờ cúng tổ tiên và lòng hiếu khách ở gia đình nhà kiến trúc kiểu
“Nội tự ngoại khách”. Đây là những cơ sở quan trọng bước đầu đặt nền tảng
cho việc giáo dục phẩm chất đạo đức cho các thế hệ trẻ – chủ nhân trong
tương lai của gia đình [5].
1.3. Những nét đặc trưng về văn hóa, xã hội, phong tục tập quán của làng
cổ
Đồng bằng Bắc Bộ là nơi có nền văn hóa lâu đời, cái nôi của nền văn
ra sự thống nhất tương đối trong nề nếp sinh hoạt và cách ứng xử giữa người
với người thể hiện tinh thần cố kết cộng đồng rất cao ở nhiều mặt của cuộc
sống trong lao động sản xuất cũng như trong các sinh hoạt tinh thần. Từ đó
hình thành nên các đặc điểm riêng của từng làng để tự hào, trân trọng “đất lề,
quê thói”. Nếu đến Đường Lâm đúng dịp lễ hội đầu xuân chúng ta sẽ được
tham dự các lễ hội lớn diễn ra ở đình như: ở đình Phùng Hưng vào ngày 8
tháng giêng âm lịch, ở đình Mông Phụ vào ngày 10 tháng giêng âm lịch... hay
các lễ hội ở đền, chùa và hoà mình vào các hoạt động của mỗi dòng họ, các
sinh hoạt văn hoá nghệ thuật dân gian, các nghi lễ tế gà, rước đền, cờ người…
đậm chất văn hoá đại diện cho làng quê vùng đồng bằng sông Hồng [2].
Ngoài các di tích lịch sử – văn hoá lâu đời có giá trị lịch sử to lớn, ở
Đường Lâm hiện nay còn lưu giữ được nền văn hoá ẩm thực hết sức phong
phú và thu hút du khách đi đến đây thưởng ngoạn thăm thú và nghiên cứu. Đó
là đặc sản gà mía quý hiếm có từ lâu đời ở Đường Lâm. Đường Lâm còn nổi
tiếng với tương Mông Phụ, chè Cam Lâm, kẹo bột Đông Sàng
Nguyễn Thị Hà
16
K33B- SP Sinh
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: TS. Hoàng Nguyễn Bình
ThS. Nguyễn Văn Hiếu
CHƯƠNG 2. PHƯƠNG PHÁP, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM,
ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
GVHD: TS. Hoàng Nguyễn Bình
ThS. Nguyễn Văn Hiếu
CHƯƠNG 3. SƠ LƯỢC VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN –
VĂN HÓA - XÃ HỘI CỦA XÃ ĐƯỜNG LÂM
3.1. Vị trí địa lý
Thị xã Sơn Tây nằm trong vùng đất cổ xứ Đoài, là trung tâm kinh tế,
chính trị, văn hóa – xã hội của khu vực phía Tây Bắc thủ đô Hà Nội và phía
Bắc tỉnh Hà Tây (cũ). Thế núi hình sông đã tạo cho thị xã như một chiếc cầu
nối giữa Sơn Tây với thủ đô Hà Nội. Nằm trong vùng đất “địa linh nhân kiệt”
thị xã là nơi có đậm đặc các di tích lịch sử – văn hóa, trong đó làng Việt cổ ở
Đường Lâm là một làng cổ điển hình của nước ta còn được bảo tồn khá
nguyên vẹn đến ngày nay. Đường Lâm giáp phường Phú Thịnh – Sơn Tây ở
phía Đông, giáp xã Cam Thượng ở phía Tây, xã Thanh Mỹ và Xuân Sơn ở
phía Nam, phía Bắc tiếp giáp Sông Hồng – bên kia sông là tỉnh Vĩnh Phúc,
nằm cách Hà Nội khoảng hơn 50 km và cách thị xã Sơn Tây – thành phố Hà
Nội chừng 5 km về phía Đông Bắc.Vị trí của xã Đường Lâm thuận lợi về giao
thông đường bộ và đường thủy, có quốc lộ 32 chạy qua và 2 con sông Hồng,
sông Tích. Bởi có vị trí thuận lợi như vậy nên Đường Lâm sớm hình thành
nguồn gốc của người Việt Cổ.
3.2. Lịch sử hình thành xã Đường Lâm
Đường Lâm nguyên là đất các xã Cam Lâm, Đoài Giáp, Đông Sàng,
Mông Phụ, Phụ Khang thuộc tổng Cam Giá Thịnh (thường gọi là Cam Thịnh)
– tục gọi là Kẻ Mía, thuộc huyện Phúc Lộc (sau gọi là Phúc Thọ), tỉnh Sơn
Tây trước năm 1945. Như vậy, Đường Lâm là một xã được sát nhập từ nhiều
xã trước đây. Sau Cách Mạng tháng 8, Tổng Cam Giá Thịnh có tên mới là xã
Phùng Hưng. Đến ngày 21/11/1964, xã Phùng Hưng đổi thành Đường Lâm,
trực thuộc huyện Tùng Thiện, tỉnh Sơn Tây. Năm 1968, tỉnh Sơn Tây sát nhập
với tỉnh Hà Đông thành tỉnh Hà Tây. Cùng năm đó chính quyền Trung Ương
Hưng nổi binh vây phủ. Chính Bình vì lo sợ mà chết”. Một bia đá còn lưu giữ
được ở thôn Cam Lâm có niên hiệu Quang Thái thứ 3 (1390) đời Trần Thuận
Tông, cũng ghi: “Nguyên bản xã, địa cư lâm mãng, cổ hiệu Đường Lâm”.
Nghĩa là: Nguyên xã này, đất đai toàn rừng rậm, xưa gọi là Đường Lâm. Như
vậy, Đường Lâm chắc chắn là một cái tên cổ đã có từ rất lâu đời [7].
Còn trong ca dao tục ngữ, nơi cửa miệng của nhân dân thì cái tên Kẻ
Mía vẫn là cái tên được quen gọi hơn. Nhưng nguyên do của tên gọi này là từ
đâu? Huyền tích dân gian xứ Đoài còn kể rằng: Vào thời Hùng Vương thứ 16,
nhà vua sinh được một nàng công chúa xinh đẹp tuyệt trần, gọi tên là Mị Ê.
Nàng không thích sống trong cảnh cung cấm gò bó. Hằng ngày, nàng thường
cùng một số cung nữ đi tới các vùng đất bãi ven sông Cái (sông Hồng), hoặc
Nguyễn Thị Hà
19
K33B- SP Sinh
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: TS. Hoàng Nguyễn Bình
ThS. Nguyễn Văn Hiếu
cùng mọi người vun trồng ngô khoai, hoặc hái hoa bắt bướm vui chơi… Vào
một buổi trời hè nắng gắt, Mị Ê chợt bắt gặp một bụi cây trông như những cây
sậy, nàng bẻ một cây ra thì thấy thân cây có nước, lấy tay quyệt nếm thử thì
thấy có vị ngọt và thơm mát. Nàng reo lên thích thú, rồi bảo mọi người trồng
thử trên bãi sông. Chẳng bao lâu, loài cây này mọc thành từng bụi xanh tốt
um tùm. Nhân dân bảo nhau chặt về, ép lấy nước, rồi nấu thành mật để ăn.