BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM
Hoàng Thị Hoa
b¶o tån di s¶n v¨n hãa khu vùc t©y yªn tö
g¾n víi ph¸t triÓn du lÞch
Chuyên ngành: Quản lý Văn hóa
Mã số: 62 31 06 42
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. ĐẶNG VĂN BÀI
Hà Nội - 2015
1
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, bản luận án tiến sĩ Bảo tồn di sản văn hóa khu
vực Tây Yên Tử gắn với phát triển du lịch là do tôi viết và chƣa công bố.
Trong quá trình thực hiện luận án, tôi đã kế thừa những nguồn tài liệu của các
nhà nghiên cứu đi trƣớc và có trích dẫn đầy đủ. Kết quả nêu trong luận án là
trung thực.
Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan này.
Hà Nội, ngày 19 tháng 12 năm 2015
Tác giả
Tây Yên Tử ................................................................................................. 95
3.3. Khó khăn và thách thức...................................................................... 113
3.4. Đề xuất và kiến nghị .......................................................................... 115
Tiểu kết chƣơng 3...................................................................................... 117
KẾT LUẬN ................................................................................................... 119
DANH MỤC BÀI VIẾT CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ .......................... 125
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................. 126
PHỤ LỤC ...................................................................................................... 139
3
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
1.
BCĐ PT DL
: Ban chỉ đạo phát triển du lịch
2.
BQL
: Ban quản lý
3.
CN
: Công nghiệp
9.
QĐ
: Quyết định
10.
QL
: Quốc lộ
11.
QL1A
: Quốc lộ 1A
12.
QL18
: Quốc lộ 18
13.
STT
: Số thứ tự
của Liên Hợp Quốc
19.
UNWTO
: Tổ chức Du lịch thế giới
20.
VHTT
: Văn hóa thông tin
21
VHTT&DL
: Văn hóa thể thao và du lịch
4
DANH MỤC BẢN ĐỒ TRONG LUẬN ÁN
Bản đồ 1: Kết nối giao thông các di tích…………………………………. 71
5
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa
lập nhau.
Yên Tử là một dãy núi lớn ở vùng Đông Bắc của miền Bắc Việt Nam,
thuộc cánh cung Đông Triều, dài khoảng 80 km, rộng khoảng 50 km. Dãy
Yên Tử gồm nhiều đỉnh cao, đỉnh cao nhất là khu vực chùa Đồng (cao 1068
m so với mực nƣớc biển). Phía Đông dãy Yên Tử thuộc tỉnh Quảng Ninh và
phía Tây thuộc tỉnh Bắc Giang.
Trong khoảng 20 năm trở lại đây, khu vực phía Đông dãy Yên Tử đã
đƣợc Chính phủ và tỉnh Quảng Ninh nghiên cứu, đầu tƣ, trùng tu, tôn tạo các
di tích lịch sử - văn hóa. Đến nay, Yên Tử đã trở thành khu du lịch văn hóa
nổi tiếng, thu hút khoảng 3 triệu lƣợt du khách mỗi năm. Du khách đến với
Yên Tử không chỉ vì cảnh quan thiên nhiên độc đáo, mà còn bởi nơi đây lƣu
giữ một hệ thống các di tích lịch sử - văn hóa gắn với sự ra đời, hình thành và
phát triển của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.
Tƣơng tự với khu vực phía Đông Yên Tử, khu vực phía Tây Yên Tử có
cảnh quan thiên nhiên phong phú, có nhiều loại động thực vật quý hiếm. Đặc
biệt, cách chùa Đồng 2,84 km (dƣới chân núi Yên Tử) là khu bảo tồn sinh thái
Đồng Thông thuộc huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang. Ngoài ra, khu vực Tây
Yên Tử còn lƣu giữ nhiều di sản văn hóa liên quan tới thời Lý - Trần. Đầu
tiên phải kể đến chùa Vĩnh Nghiêm, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang, đây là
ngôi chùa đƣợc xây dựng từ thời Lý, tới thời Trần, nơi đây đã đƣợc chọn là
trung tâm đào tạo và tu luyện của các tăng đồ Phật giáo thuộc thiền phái Trúc
Lâm Yên Tử.
Nhận thức đƣợc những tiềm năng du lịch ở khu vực Tây Yên Tử, năm
2010, tỉnh Bắc Giang đã đề xuất và đƣợc Chính phủ cho phép xây dựng ĐT
293 dài 73 km nối từ trung tâm thành phố Bắc Giang tới Khu bảo tồn sinh thái
Đồng Thông (chân núi chùa Đồng - Yên Tử), dự kiến tới năm 2016 hoàn
7
thành. Tuyến đƣờng này sẽ kết nối các điểm di tích lịch sử, cảnh quan thiên
các di sản văn hóa khu vực Tây Yên Tử.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
Luận án phân tích, đánh giá các giá trị của di sản văn hóa khu vực Tây
Yên Tử, thực trạng bảo tồn di sản văn hóa và phát huy giá trị di sản phục vụ
phát triển du lịch, từ đó, đề xuất các định hƣớng và giải pháp bảo tồn di sản
văn hóa khu vực Tây Yên Tử nhằm phát triển du lịch.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu các nội dung về lý thuyết, phƣơng pháp luận về di sản
văn hóa và phát triển du lịch.
- Đánh giá thực tiễn bảo tồn di sản văn hóa và phát triển du lịch khu
vực Tây Yên Tử. Từ đó xác định tiềm năng để phát triển du lịch của khu vực
Tây Yên Tử.
- Phát hiện những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức, từ đó
đƣa ra định hƣớng và giải pháp bảo tồn di sản gắn với phát triển du lịch khu
vực Tây Yên Tử.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng cách tiếp cận của các bên liên quan trong nghiên cứu
khu vực Tây Yên Tử, trong đó nhấn mạnh đến vai trò của nhà nƣớc và sự
tham gia của cộng đồng vào quá trình này.
- Phƣơng pháp tiếp cận liên ngành/đa ngành: Lịch sử, nhân học, văn
hóa, du lịch học, văn hóa dân gian, quản lý văn hóa đƣợc áp dụng. Đặc biệt,
trong các thành tố liên ngành, hƣớng tiếp cận của quản lý văn hóa sẽ giúp các
vấn đề nghiên cứu đƣợc giải quyết đúng hƣớng, hiệu quả và toàn diện.
- Luận án sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu khoa học xã hội, trong
đó có các phƣơng pháp định tính và phƣơng pháp định lƣợng, một số kỹ thuật
của phƣơng pháp này đƣợc sử dụng để đạt mục tiêu nghiên cứu gồm:
9
10
7. Bố cục luận án
Ngoài phần Mở đầu (6 trang), Kết luận (6 trang), Tài liệu tham khảo
(13 trang),Phụ lục (70 trang), Luận án gồm 3 chƣơng:
Chƣơng 1: Cơ sở lý thuyết, tổng quan tình hình nghiên cứu khu vực Tây
Yên Tử (36 trang)
Chƣơng 2: Thực trạng bảo tồn di sản văn hóa khu vực Tây Yên Tử gắn
với phát triển du lịch (39 trang)
Chƣơng 3: Định hƣớng và giải pháp bảo tồn di sản văn hóa khu vực
Tây Yên Tử gắn với phát triển du lịch (33 trang).
11
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT, TỔNG QUAN
TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU KHU VỰC TÂY YÊN TỬ
1.1. Cơ sở lý thuyết
1.1.1. Di sản văn hóa
1.1.1.1. Khái niệm di sản văn hóa
Trong Công ước quốc tế về du lịch văn hóa năm 1999 đã nêu rõ: “Di
sản là một khái niệm rộng lớn gồm cả môi trƣờng thiên nhiên lẫn văn hoá:
Bao gồm cảnh quan, các tổng thể lịch sử, các di chỉ tự nhiên và do con ngƣời
xây dựng và cả tính đa dạng sinh học, các sƣu tập, các tập tục truyền thống
và hiện hành, tri thức và kinh nghiệm sống. Di sản ghi nhận và thể hiện quá
trình phát triển lịch sử lâu dài vốn đã tạo nên bản chất của các thực thể quốc
gia, khu vực, bản địa và địa phƣơng và là một bộ phận hữu cơ của đời sống
hiện đại”1
Ở nƣớc ta, di sản văn hóa đƣợc quy định trong phần nói đầu của Luật
Di sản văn hóa, ban hành năm 2001, sửa đổi bổ sung năm 2009: “Di sản văn
hóa Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là bộ
Đặc biệt, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng
(khóa VIII) đã xác định 10 nhiệm vụ quan trọng về xây dựng và phát triển nền
văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, trong đó có nhiệm vụ bảo
tồn và phát huy các di sản văn hóa.
Quản lý di sản văn hóa là quá trình theo dõi định hƣớng và điều tiết quá
trình tồn tại, phát triển các di sản văn hóa trên một địa bàn cụ thể nhằm bảo tồn,
phát huy tốt nhất các giá trị của chúng. Đây là lợi ích to lớn nhiều mặt, lâu dài
trong cộng đồng dân cƣ - chủ nhân của các di sản văn hóa đó. Đồng thời là trách
nhiệm của nhà nƣớc, doanh nghiệp hay các tổ chức xã hội, nói cách khác là quản
lý di sản là tổng hòa trách nhiệm của các bên liên quan đến di sản.
Thực tế ở nƣớc ta cho thấy quản lý di sản văn hóa là quá trình xuyên
suốt trong đời sống xã hội ở tất cả các cấp độ, các địa phƣơng. Công tác này
giúp cho đời sống văn hóa của xã hội có đƣợc nền tảng ổn định vững bền để
13
tồn tại và phát triển. Di sản văn hóa là tài sản của quá khứ để lại, lƣu giữ dấu
ấn thời gian nhƣng cũng trở thành đối tƣợng bị thời gian tàn phá, cho nên
chúng ta cần có các biện pháp bảo tồn thích hợp để có thể giữ gìn lâu dài.
Đồng thời phải làm cho các di sản đến từ quá khứ phải trở thành một phần
quan trọng của đời sống xã hội hiện đại. Tất cả các hoạt động đó đƣợc coi nhƣ
công việc thuộc về quản lý di sản văn hóa. Tuy nhiên, công tác quản lý di sản
văn hóa không chỉ dừng lại ở việc bảo tồn những giá trị đặc sắc mà còn phải
tiến hành những động thái tích cực, phù hợp để bổ sung, nâng cao giá trị để
phù hợp với yêu cầu của xã hội đƣơng đại.
Nội dung quản lý nhà nƣớc về di sản văn hóa đƣợc đề cập cụ thể tại
điều 54 Luật Di sản văn hóa, gồm 8 nội dung là: 1/ Xây dựng và chỉ đạo thực
hiện chiến lƣợc, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển sự nghiệp bảo vệ
và phát huy giá trị di sản văn hóa; 2/ Ban hành và tổ chức thực hiện các văn
bản quy phạm pháp luật về di sản văn hóa; 3/ Tổ chức, chỉ đạo các hoạt động
Quản lý di sản văn hóa phi vật thể bao gồm các tinh hoa đã đƣợc công
bố toàn quốc hoặc những báu vật nhân văn sống, các nghệ nhân, ngƣời biểu
diễn ít đƣợc công nhận và cuối cùng, ngƣời trông coi truyền thống, hình thái
tôn giáo [92].
Những báu vật nhân văn sống là những cá nhân hoặc nhóm các cá nhân
đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy sự liên tục của di sản văn hóa phi vật
thể và đƣợc ghi nhận nhƣ ngƣời gìn giữ văn hóa quốc gia hoặc quốc tế quan
trọng. Xét từ góc độ du lịch, số lƣợng nghệ nhân có thể biểu diễn phục vụ du
lịch còn hạn chế. Vì vậy, khi làm du lịch văn hóa không dựa vào những ngƣời
biểu diễn để giải trí cho những khách du lịch là những ngƣời có thể biết rất ít
về văn hóa mà họ đang khám phá.
Người biểu diễn và nghệ nhân chiến lƣợc quản lý đang đƣợc sử dụng
để bảo vệ loại di sản phi vật thể này là thành lập các viện, trung tâm văn hóa,
hội trƣờng âm nhạc, công viên, bảo tàng ở đó những ngƣời biểu diễn và nghệ
nhân có thể đƣợc khuyến khích thƣờng xuyên. Một hành động quản lý nhƣ
15
vậy cung cấp một số lợi ích cho chính các nghệ nhân, cũng nhƣ cho công
chúng đi du lịch. Những nơi này hình thành trung tâm cho những ngƣời có thể
bị phân tán trên một khu vực địa lý rộng lớn. Hơn nữa, giá trị của những thứ,
những ngƣời biểu diễn, nghệ nhân làm đƣợc ghi lại có thể đƣợc xác nhận lại
một lần nữa.
Quản lý di sản văn hóa vật thể có thể tóm tắt thành các bƣớc trung gian
cho chƣơng trình quản lý di sản văn hóa vật thể nhƣ sau:
1. Nhận dạng, phân loại và cung cấp tài liệu của di sản và các thành tố
của nó trong vùng xác định.
2. Đánh giá các giá trị văn hóa đƣợc gợi ra bằng cơ cấu tự nhiên của di sản.
3. Phân tích các cơ hội và hạn chế sẽ có một mối quan hệ tới việc tạo ra
chính sách quản lý lần lƣợt sẽ chỉ đạo việc bảo tồn các giá trị văn hóa của di
hợp trong các di sản văn hóa với tƣ cách là nguồn tƣ liệu khoa học nguyên
gốc chân thực, có khả năng cung cấp tri thức, hiểu biết, kinh nghiệm sống, bài
học lịch sử có ích cho nhân loại hôm nay và mai sau.
- Di sản văn hóa với tƣ cách là tài sản văn hóa, tài nguyên du lịch, nếu
đƣợc tổ chức tốt và có những loại dịch vụ phù hợp, có thể trở thành điểm đến
du lịch, sản phẩm du lịch hấp dẫn (Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử
cũng là ví dụ điển hình) góp phần thúc đẩy phát triển du lịch bền vững ở từng
vùng và phạm vi quốc gia [8; tr.39-43].
Quá trình bảo tồn và phát huy các giá trị di sản thông qua phát triển du
lịch là quá trình có sự tham gia của nhiều thành phần, nhiều chuỗi hoạt động
tạo ra các sản phẩm dịch vụ phục vụ du khách. Điều này đòi hỏi có sự sâu
chuỗi, liên kết của nhiều bên liên quan: nhà nƣớc, cộng đồng, doanh nghiệp
và du khách.
1.1.1.3. Quan điểm bảo tồn di sản văn hóa
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, bảo tồn là giữ lại không để mất đi.
Bảo tồn là bảo vệ và giữ gìn sự tồn tại của sự vật hiện tƣợng theo dạng thức
17
vốn có của nó [66]. Trong nghiên cứu này, đối tƣợng đƣợc bảo tồn là di sản
văn hóa. Bảo tồn di sản văn hóa là hoạt động nhằm bảo đảm sự tồn tại lâu dài,
ổn định của di sản văn hóa và đƣợc chia làm 2 loại: di sản văn hóa phi vật thể
và di sản văn hóa vật thể.
Bảo tồn di sản văn hóa hiện nay đã đƣợc các học giả hết sức quan tâm
và có những công trình nghiên cứu về những vấn đề lý luận này. Ở Việt Nam
và thế giới đã có những công trình nghiên cứu sâu về vấn đề lý luận này.
Ashworth [140; tr.165-191] đã tổng kết từ thực tế bảo tồn di sản ở nhiều nƣớc
trên thế giới thành ba quan điểm bảo tồn di sản.
Bảo tồn nguyên gốc: Đây là quan điểm dựa trên quan điểm bảo tồn văn
hóa vật thể của các nhà bảo tàng học. Quan điểm này cho rằng các sản phẩm
1.1.2.1. Khái niệm du lịch
Cùng với sự phát triển của du lịch hiện nay, khái niệm du lịch đƣợc
hiểu theo nhiều cách khác nhau tuỳ theo góc độ xem xét.
Vào năm 1942, W. Hunziker và Kraff (Thụy Sỹ) đƣa ra định nghĩa: Du
lịch là tổng hợp những hiện tƣợng và các mối quan hệ nảy sinh từ việc di
chuyển và dừng lại của con ngƣời tại nơi không phải là nơi cƣ trú thƣờng
xuyên của họ; hơn nữa, họ không ở lại đó vĩnh viễn và không có bất kỳ hoạt
động nào để có thu nhập tại nơi đến [79; tr.9].
Theo Guer Freuler, du lịch là một hiện tƣợng thời đại của chúng ta dựa
trên sự tăng trƣởng của nhu cầu khôi phục sức khoẻ và sự thay đổi của môi
trƣờng xung quanh, dựa vào sự phát sinh, phát triển tình cảm đối với vẻ đẹp
của thiên nhiên.
Theo nhà kinh tế Kalíiotis, du lịch là sự di chuyển tạm thời của cá nhân
hay tập thể từ nơi này đến nơi khác nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh thần, đạo đức,
do đó tạo nên các hoạt động kinh tế.
Theo M.Coltman, du lịch là tổng thể những hiện tƣợng và những mối
quan hệ phát sinh từ sự tác động qua lại lẫn nhau giữa khách du lịch, nhà kinh
19
doanh du lịch, chính quyền sở tại và cộng đồng cƣ dân địa phƣơng trong quá
trình thu hút và lƣu giữ khách du lịch.
Theo quan điểm của Robert W.McIntosh, Charles R.Goeldner, J.R
Brent Ritcie, du lịch là tổng hợp các mối quan hệ nảy sinh từ tác động qua lại
giữa khách du lịch, nhà cung ứng, chính quyền và cộng đồng chủ nhà trong
quá trình thu hút và đón tiếp khách du lịch [79].
Với cách tiếp cận tổng hợp ấy, các thành phần tham gia vào tạo hoạt
động du lịch bao gồm:
- Các doanh nghiệp cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho khách du lịch;
- Chính quyền sở tại;
ngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình; về mặt kinh tế du lịch là lĩnh vực
kinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn; có thể coi là hình thức xuất khẩu hàng
hóa và dịch vụ tại chỗ. Theo nghĩa này, du lịch đƣợc xem xét ở góc độ một
ngành kinh tế.
Luật Du lịch đƣợc Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 7, khóa XI năm
2005 đƣa ra khái niệm và đƣợc hiểu nhƣ sau:
Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con ngƣời
ngoài nơi cƣ trú thƣờng xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan,
tìm hiểu, giải trí, nghỉ dƣỡng trong một khoảng thời gian nhất định.
Khu du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn với ƣu thế về tài
nguyên du lịch tự nhiên, đƣợc quy hoạch, đầu tƣ phát triển nhằm đáp ứng nhu
cầu đa dạng của khách du lịch, đem lại hiệu quả về kinh tế - xã hội và môi
trƣờng.
Điểm du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn, phục vụ nhu cầu
tham quan của khách du lịch.
Tuyến du lịch là lộ trình liên kết các khu du lịch, điểm du lịch, cơ sở
cung cấp dịch vụ du lịch, gắn với các tuyến giao thông đƣờng bộ, đƣờng sắt,
đƣờng thuỷ, đƣờng hàng không.
21
Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thoả mãn nhu cầu
của khách du lịch trong chuyến đi du lịch [84; tr.2]
1.1.2.2. Quản lý nhà nước về du lịch
Theo điều 10, Luật Du lịch, nội dung quản lý nhà nƣớc về du lịch: 1/
Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lƣợc, quy hoạch, kế hoạch và chính sách
phát triển du lịch; 2/ Xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy
phạm pháp luật, tiêu chuẩn định mức kinh tế - kỹ thuật trong hoạt động du
lịch; 3/ Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và thông tin về du lịch; 4/
Tổ chức, quản lý hoạt động đào tạo, bồi dƣỡng nguồn nhân lực; nghiên cứu,
hội và các sự kiện văn hóa khác nhau, thăm các di tích và đền đài, du lịch
nghiên cứu thiên nhiên, văn hoá hoặc nghệ thuật dân gian và hành hƣơng”
(UNWTO)2. “Du lịch văn hoá là loại hình du lịch mà mục tiêu là khám phá
những di tích và di chỉ. Nó mang lại những ảnh hƣởng tích cực bằng việc
đóng góp vào việc duy tu, bảo tồn. Loại hình này trên thực tế đã minh
chứng cho những nỗ lực bảo tồn và tôn tạo, đáp ứng nhu cầu của cộng đồng
vì những lợi ích văn hoá - kinh tế - xã hội” (ICOMOS)3.
Trong điều 4, Luật Du lịch đã chỉ rõ “Du lịch văn hóa là hình thức du
lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm
bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống” [84].
Ở nhiều nƣớc, nhất là ở Đông Nam Á (theo SEAMEO SPAFA)4, về
mặt lý thuyết, ngƣời ta xếp loại hình du lịch văn hoá (cultural tourism) vào
loại hình du lịch sinh thái (ecotourism) bởi theo họ, sinh thái học (ecology)
cũng bao gồm cả sinh thái học nhân văn (human ecology).
Ở Việt Nam, nhận thấy cảnh quan môi trƣờng tự nhiên với sự đa
dạng của các hệ sinh thái (từ núi đồi, cao nguyên, châu thổ đến ven biển,
hải đảo và da dạng sinh học) có mối liên quan mật thiết với nhau. Ngƣời Việt
2
UNWTO: United Nation World Tourism Organization (Tổ chức Du lịch Thế giới).
ICOMOS: International Council On Monuments & Sites (Hội đồng Quốc tế các di chỉ và di tích).
4
SEAMEO SPAFA: Southeast Asian Ministers of Education Oreanization - Regional Centre for
Archaeology & Fine Arts (Tổ chức các Bộ trƣởng Giáo dục Đông Nam Á về Khảo cổ học và Mỹ thuật).
3
23
Nam thích sống hòa hợp với tự nhiên, nên ở Việt Nam đi tham quan thắng cảnh
tự nhiên thƣờng cũng đồng thời là tham quan di tích - di sản văn hoá. “Du lịch
Nội dung chính của du lịch văn hóa là tài sản di sản văn hóa của một
cộng đồng hoặc một quốc gia. Hội đồng Quốc tế về Di tích và Di chỉ
(ICOMOS) định nghĩa di sản là một khái niệm rộng, bao gồm: di sản vật thể
nhƣ môi trƣờng tự nhiên và môi trƣờng văn hóa, cảnh quan xung quanh, địa
điểm lịch sử, các di tích... cũng nhƣ các di sản phi vật thể nhƣ các bộ sƣu tập,
tập quán văn hóa trong quá khứ và đang tiếp diễn, kiến thức và kinh nghiệm
sống (ICOMOS 1999). Những di sản này đƣợc xác định và bảo tồn cho các giá
trị nội tại của chúng hoặc có ý nghĩa cho cộng đồng hơn các giá trị bên ngoài
nhƣ là các điểm tham quan du lịch. Thực tế, tiềm năng du lịch của di sản hiếm
khi đƣợc xem xét khi chúng đƣợc xác định lần đầu tiên. Vào thời điểm này,
hầu hết các tài liệu về tầm quan trọng của một di sản tập trung vào giá trị thẩm
mỹ, giá trị kiến trúc, giá trị lịch sử, giá trị tâm linh, còn giá trị giáo dục và giá
trị xã hội còn chƣa đƣợc chú trọng.
Một trong những nghịch lý của du lịch văn hóa là một ngành du lịch
nhƣng lại đƣợc quản lý bởi nguyên tắc của quản lý di sản văn hóa. Ngoài ra,
di sản văn hóa có thể phục vụ cho vô số nhóm ngƣời sử dụng, bao gồm cả
khách du lịch hay nhân dân địa phƣơng, “chủ sở hữu truyền thống” và những
cƣ dân địa phƣơng khác. Các nhóm này có thể đánh giá di sản cho những lý
do khác nhau và tìm kiếm lợi ích khác nhau từ việc sử dụng di sản, khiến cho
việc giới thiệu di sản một cách phù hợp trở nên khó khăn hơn. Những cách
tiếp cận cạnh tranh có thể tạo ra mâu thuẫn giữa lợi ích du lịch và lợi ích quản
lý di sản văn hóa.
c) Khách du lịch
Du lịch văn hóa phải xem xét đến khách du lịch. Khách du lịch văn hóa
khuyến khích đi du lịch vì các lí do học hỏi sâu, trải nghiệm hoặc tự khám phá.
Tuy nhiên, ngoài nhu cầu trên, nhiều khách du lịch văn hóa do tình cờ của
chuyến đi hoặc do các yếu tố chi phối khác trở thành du khách.