Báo chí với việc giới thiệu và góp phần bảo tồn di sản văn hoá ở hà nội - Pdf 31

ĐẠI HỌC QUOC GIA HÁ NỘI

TRƯỜN í ;

đại học k ho a học xã hội và n h â n van

-----ĨO -ộ- 0 3 ------

ĐÀO THỊ MINH NGUYỆT

BÁO CHÍ VỚI VIỆC GIỚI THIỆU VÀ GÓP PHẦN
BẢO TỔN DI SẢN VĂN HOÁ ớ HÀ NỘI
m

2

__

___

rt'____ ______

m

?

____W

______

_r

Chương 1
1.1
ỉ . 1.1.
1.1.2.
1.1.3.
1.13.1.
1.1.3.2.
1.2.
1.2.1.
1.2.2.

1.2.2.1.
1.2.2.2.
1.3.

Chương 2

2.1.

2.2
2.2.1
2.2.1.1.
2.2.1.2.

Mở đầu
Tính cấp thiết, thời sự của đề tài.............................................
Mục đích và giói hạn của đề tài..............................................
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu....................................
Lịch sử vấn đề nghiên cứu.......................................................
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn................................................

Các công trình biểu tượng cho lịch sử Thăng Long - Hà Nội
và cả nước..................................................................................
Các đền, quán biểu tượng cho Thăng Long Tứ trấn................

7
9
10
10
11
11
12
13
13
16
20
21
22
26
26

28
28
31

34

39

39


Văn Hoá về chủ đề bảo tồn và phát huy di sản văn hoá ở
Hà N ộ i....................................... '........... ................................
Chương 3 HÌNH THỨC CHUYEN t ả i c h ủ đ ể g i ớ i t h i ệ u v à
BẢO TỔN DI SẢN VĂN HOÁ Ở HÀ N Ộ I........................
3.1. Hệ thống thể loại....................................................................
3.1.1. Tin.............................................................................................
3.1.2. Phóng s ự ..................................................................................
3.1.3. Điều tr a ...................................................................................
3.1.4. Bài phản ánh............................................................................
3.1.5. K ý .............................................................................................
3.2. Hệ thống chuyên m ục...........................................................
3.2.1. Chuyên mục trên báo Nhân Dân............................................
3.2.2. Chuyên mục trên báo Hà Nội Mới..........................................
3.2.3. Chuyên mục trên báo Văn Hoá...............................................
3.3. Đánh giá về hình thức thể hiện của báo Nhân Dân, Hà
Nội Mới, Văn H oá..................................................................
Kết luận....................................................................................
Tài liệu tham khảo..................................................................

63
69
69
72
76
78
82
85
85
86
94

Trong quá trình lịch sử nghìn năm văn hiến, từ khi định đô Thăng Long
cho tới nay, các thế hệ người Thăng Long - Hà Nội đã tạo dựng và để lại một
kho tàng di sản văn hoá đồ sộ và quý giá. Kho tàng ấy hoà quyện cùng với di
sản văn hoá vật chất và tinh thần của cả nước, hợp thành nền văn hoá dân tộc
cổ truyền, là cơ sở và sự biểu hiện của bản sắc và bản lĩnh Việt Nam qua các
thời đại.
Việc bảo tồn và phát huy các giá trị tinh hoa của các di sản văn hoá dân
tộc truyền thống, trong đó có di sản văn hoá Thăng Long - Hà Nội là một bộ
phận hợp thành quan trọng, vì thế có ý nghĩa rất lớn về nhiều mặt. Điều 10 của
luật di sản văn hoá đã chỉ rõ :" Cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ
chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tê, đơn vị vũ trang nhân dân và cá
nhân có trách nhiệm bảo vệ và phát huy di sản văn h o á ”. Điều 10 của Pháp
lệnh Thủ đô Hà Nội đã nêu: “Nhà nước có chính sách bảo tồn, tôn tạo các di
tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh, khu p h ố cổ tiêu biểu ỞThủ đô... ",
Như vậy việc tuyên truyền, phổ biến sâu rộng các giá trị di sản văn hoá
nhằm nâng cao ý thức bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá trong nhân dân
là nhiệm vụ quan trọng. Mặt khác, công tác bảo tồn và giới thiệu di sản văn
hoá là một việc làm cấp thiết, có ý nghĩa to lớn bởi:
- Sự xuống cấp hết sức trầm trọng cùng với thời gian của các di tích lịch
sử - văn hoá do thiên tai, khí hậu ẩm ướt...
- Sự tàn phá, huỷ hoại của con người: chiến tranh, sự xâm phạm, đào
bới, phá hoại...

7


- Sự thờ ơ hoặc thiếu trách nhiệm, thiếu ý thức làmchủ và bảo vệ di sản
văn hoá của các cấp, các ngành và nhân dân địa phương...
- Sự thiếu hiểu biết, kinh nghiệm, nghiệp vụ,...trongcông tác bảo tồn di
sản văn hoá.

chí. Phân tích nội dung và hình thức phản ánh qua đó đánh giá, nêu giải pháp
nhằm sử dụng có hiệu quả việc tuyên ĩruyền, giới thiệu và góp phần bảo tổn di
sản văn hoá ở Thủ đô Hà Nội.
Di sản văn hoá dân tộc, theo cách hiểu thông thường là toàn bộ sản
phẩm văn hoá do các thế hệ người kế tiếp nhau trong suốt chiều dài của lịch
sử dân tộc đã tạo ra và trao truyền lại cho thế hệ tương lai.
Di sản văn hoá vật thể và phi vật thể ở Thủ đô Hà Nội trở thành một
lĩnh vực quá rộng so với trình độ của một luận văn cao học báo chí. Do đó, đề
tài cần được giới hạn như sau:
- Về phạm vi nghiên cứu, đề tài tập trung khảo sát, đánh giá việc phản
ánh vấn đề giới thiệu và bảo tồn di sản văn hoá Thủ đô Hà Nội trên báo Nhân
Dân, Hà Nội Mới và Văn Hoá.
- Về thời gian, đề tài chủ trương nghiên cứu, khảo sát việc phản ánh vấn
đề này trên báo Nhân Dân, Hà Nội Mới và Văn Hoá từ năm 1999 đến năm
2002 .

Sở đĩ có sự hạn chế như trên là do điều kiện chủ quan của người viết
luận văn cũng như do khuôn khổ của luận văn quy định. Như vậy, nhiệm vụ
chủ yếu của luận văn sẽ là:
- Làm sáng tỏ khái niệm di sản văn hoá, đồng thời phân tích vai trò của
nó đối với sự phát triển xã hội.
- Tìm hiểu thực trạng công tác giới thiệu và bảo tồn di sản văn hoá Thủ
đô Hà Nội qua việc khảo sát trên báo chí về nội dung, mức độ, cách thức, vai
trò và hiệu quả phản ánh của nó.
- Đưa ra đề xuất, ý kiến và các giải pháp cụ thể cho báo chí nói chung
và ba tờ báo Nhân Dân, Hà Nội mới và Văn hoá nói riêng về việc giới thiệu và
bảo tồn di sản văn hoá ở Thủ đô Hà Nội.

9


- Nội dung luận văn gồm 3 chương
- Phần kết luận
- Danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục

11


CHƯƠNG 1
NHŨNG VẤN ĐỂ CHUNG VỂ DI SẢN VĂN HOÁ
Nhân loại đang đứng trước ngưỡng cửa của thiên niên kỷ thứ ba. Nhìn
lại hành trình của mình, người ta thật sự tự hào với những thành tựu của nền
khoa học và công nghệ hiện đại, nền sản xuất và đời sống xã hội tại hầu hết
các quốc gia đang trong quá trình quốc tế hoá sâu sắc. Môi trường quốc tế
đang ngày càng được cải thiện, tạo cơ hội thuận lợi cho sự phát triển vững bền
và mở rộng hơn nữa sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc. Khái niệm “nhất
thể hoá ” mới ngày nào nghe còn xa lạ, nay thật sự là một vấn đề khả thi, ít
nhất trên phương diện kinh tế kỹ thuật, đang được đề cập và xem xét tại cộng
đồng Châu Âu và nhiều trung tâm phát triển khác của thế giói.
Bên cạnh những thành tựu và những vận hội to lớn, các quốc gia đồng
thời cũng đang phải đương đầu với một loạt vấn đề cấp bách mang tính toàn
cầu. Trong số những thách thức đó, người ta ngày càng nói nhiều đến nghịch
lý của nền “văn minh công nghiệp”. Trong diễn văn ngày 21/1/1988 nhân lễ
phát động thập kỷ quốc tế phát triển văn hoá, Tổng Giám đốc UNESCO
F.Mayor đã nêu rõ: “Sự quốc tếhoá không ngừng và sự gia tốc ngày càng tăng
nhịp sống xã hội thực tế đang tạo nên hai vấn đề mâu thuẫn nhau: một mặt, sự
bùng nổ của công nghệ thông tin, sự hợp tác kinh tế quốc tế, sự trao đổi văn
hoá và du lịch đã thúc đẩy các quốc gia ngày càng xích lại gần nhau hơn, mở
mang hơn sự hiểu biết lẫn nhau về các phương diện văn hoá và tri thức. Mặt
khác, bên cạnh đó là tác động có sức mạnh ghê gớm về nguy cơ san bằng và
đổng nhất hoá các chuẩn mực, các hệ thống giá trị, đe doạ làm suy kiệt khả

+ Văn hoá là cái tự nhiên được biến đổi bởi con người. (GS Trần Quốc
Vượng).
+ Yếu tố hàng đầu của văn hoá là sự hiểu biết, bao gồm tri thức khoa
học, kinh nghiệm và sự khôn ngoan tích luỹ được trong quá trình học tập, lao
động sản xuất và đấu tranh để duy trì phát triển cuộc sống của mỗi cộng đổng
dân tộc và các thành viên trong cộng đồng ấy. Nhưng, chỉ riêng sự hiểu biết
không thôi chưa làm nên văn hoá. Sự hiểu biết chỉ trở thành văn hoá khi nó
làm nền và định hướng cho thế ứng xử (thể hiện ở tâm hồn, đạo lý, lối sống,
thị hiếu, hành v i...) của mỗi cá nhân và cả cộng đồng hướng tới cái đúng, cái
tốt, cái đẹp trong quan hệ với mình, với người, với môi trường xã hội và môi
trường tự nhiên... (GS Phạm Xuân Nam).
Như vậy là, tóm gọn lại, mọi hoạt động và sản phẩm, kết quả của những
hoạt động ấy, do con người có ý thức tác động vào tự nhiên và xã hội mà có,
đều có thể thuộc về văn hoá. Cũng có thể nói: "Nhân hoá tự nhiên" tức là văn
hoá. Tự nhiên nói đến ở đây không phải chỉ là khách thể trong quá trình sáng
tạo và phát triển văn hoá do con người với tư cách là chủ thể tiến hành, có
nghĩa là tự nhiên không phải chỉ là giới tự nhiên tổn tại bên ngoài con người
và đối lập với con người. Tự nhiên được nói đến ở đây bao gồm cả phần "bản
năng tự nhiên" trong "bản thân con người". Điểm xuất phát của văn hoá là con

15


người hoạt động trong thực tiễn trước hết là cải biến hoàn cảnh tự nhiên rồi
tiến lên cải tạo hoàn cảnh xã hội, con người sáng tạo ra văn hoá và cũng như
vậy, văn hoá cũng lại tái tạo bản thân con người. Sức mạnh của văn hoá là
sáng tạo, là khai phóng. Nòng cốt của những hoạt động khai phóng sáng tạo
này là tư tưởng nhân văn xét từ bản chất, các hoạt động văn hoá là sự thống
nhất hữu cơ giữa các hoạt động khoa học (xã hội, tự nhiên) và tư tưởng nhân
văn.

thuyền. Đó là những chiến sĩ cầm vũ khí như dáo, mác, cung tên, cùng với
một số thuỷ thủ cầm bơi chèo. Tất cả đang hoạt động theo sự chỉ huy của
người cầm trống đứng trên thuyền. Ta hiểu ngay chiếc thuyền này không phải
thuyền độc mộc mà phải là thuyền ghép ván gỗ. Đã là ghép ván thì cần phải
có cưa, bào, đục... để xẻ gỗ thành ván rồi lại phải có sơn, sắn để hàn mạch. Cả
một kỹ thuật phức tạp của việc đóng thuyền chiến đã ra đời trong nền văn hoá

18


Đông Sơn thời vua Hùng dựng nước cách đây khoảng 25 thế kỷ. Như vậy, tài
sản văn hoá - trống đồng có thể cung cấp cho con người ngày nay vốn kinh
nghiệm về kỹ thuật của quá khứ xa xăm trong lịch sử dựng nước của dân tộc.
- Đặc trưng thứ hai của văn hoá là tính giá trị. Như phần trên đã nói,
hiểu biết phải hướng về và trở thành giá trị mới được coi là văn hoá. Giá trị là
cái được đánh giá là cao quý, khiến mọi người ao ước, và khi đạt được thì có
cảm giác dễ chịu, thống khoái. Những tiêu chuẩn phổ thông của giá trị là: cái
đúng (chân), cái tốt (thiện), cái đẹp (mỹ) và cái có ích. Một hiện vật được gọi
là tài sản văn hoá không nhất thiết phải hội đủ 4 phẩm chất trên đây nhưng ít
nhất nó cũng phải có 1 trong các phẩm chất ấy. Ví dụ: Bộ quần áo kaki bạc
màu cùng với đôi dép lốp của Bác Hồ không hẳn là những vật phẩm đẹp,
nhưng chúng nói lên đức tính giản dị và khiêm nhường của lãnh tụ, trong đó
có sự thông cảm sâu sắc với nhân dân lao động còn đang sống nghèo khổ, vì
vậy chúng trở thành tài sản văn hoá, được bảo tổn để giáo dục cho các thế hệ
tương lai. Thanh kiếm của võ sĩ Xa-mu-rai, hoặc chiếc can của vua hề Sác-lô
cũng không phải là những vật phẩm đẹp chúng là những cái có ích, nên cũng
thuộc về "tài sản văn hoa'.
- Đặc trưng thứ ba của văn hoá là tính biểu tượng. Theo toàn thư quốc tế
về phát triển văn hoá của UNESCO thì "Văn hoá là một tập hợp các hệ thống
biểu tượng, quy định th ế ứng xử của con người và làm cho một số đông người

trải qua một quá trình nghiên cứu lâu dài trên quy mô quốc tế. Chỉ tính từ năm
1970 đến nay đã có trên 10 hội nghị, hội thảo văn hoá quốc tế do UNESCO
chủ trì tổ chức, hàng chục dự án nghiên cứu thí điểm trên lĩnh vực văn hoá
truyền thống, văn hoá dân gian được triển khai tại các khu vực văn hoá tiêu
biểu của thế giới.
Dựa trên tư liệu đã công bố, gắn liền với nội dung của các cuộc hội thảo
văn hoá quốc tế do UNESCO tổ chức, Ban thư ký của Uỷ ban quốc gia thập kỷ
quốc tế phát triển văn hoá của Việt Nam đã làm tổng thuật, giói thiệu các khái
niệm và định nghĩa về di sản văn hoá. Dưới đây chúng tôi trình bày lại dựa
theo tổng thuật của Ban thư ký.
ỉ.3.1.1 Di sản văn hoá vật thể'.
Bao hàm các động sản, bất động sản mang một giá trị, ý nghĩa đặc biệt
về mặt lịch sử truyền thống, về nhân loại học, khảo cổ, hoặc lịch sử tiến hoá
của tự nhiên (liên quan đến các di tích công trình lịch sử, đền đài, cung điện,
thư viện, sách, mẫu vật ở bảo tàng, công cụ sản xuất từng giai đoạn của lịch
sử, tài liệu lưu trũ...), một số di tích, thắng cảnh thiên nhiên có ý nghĩa đặc
biệt về mặt văn hoá cũng có thể được xếp vào loại di sản văn hoá vật thể.

21


1.3.2.2. Di sản văn hoá phi vật thể:
Tuỳ theo góc độ xem xét nghiên cứu của các nhà khoa học mà thuật
ngữ này được đặt cho những tên gọi khác nhau như: di sản văn hoá tinh thần,
di sản văn hoá truyền thống, di sản văn hoá đại chúng, văn hoá dân gian.
Xung quanh các thuật ngữ trên có nhiều ý kiến tranh luận về mặt học
thuật, tiêu biểu là một số ý kiến như sau:
- Về thuật ngữ di sản văn hoá tinh thần: nhiều ý kiến cho rằng cách gọi
này chưa thật sát, còn trừu tượng, bởi lẽ di sản tinh thần bao hàm rất rộng, bất
kỳ một sản phẩm sáng tạo nào của con người dù tồn tại dưới dạng vật thể hay

ánh sống động những khát vọng mọi mặt trong cuộc sống của cộng đồng đó,
được lưu truyền và biến tấu bằng nhiều phương thức khác nhau như truyền
khẩu, mô phỏng, bắt chước... theo dòng thời gian và thông qua một quá trình
không ngừng được tái tạo mang tính tập thể rộng rãi, những sáng tác, sáng tạo
đó đã xây dựng và hình thành nên một hệ thống các giá trị và chuẩn mực mà
dựa trên đó từng cộng động dân tộc tự khẳng định bản sắc văn hoá và xã hội
riêng của mình. Dựa theo một quan niệm như thế, theo UNESCO thì di sản
văn hoá phi vật thể bao gồm các loại hình văn học nghệ thuật chủ yếu sau đây:
âm nhạc, ca múa, sân khấu, ngôn ngữ, truyền thuyết, huyền thoại, lễ hội, nghi
lễ, phong tục tập quán, y học dân tộc, nghệ thuật nấu ăn, bí quyết trong sản
xuất đồ thủ công mỹ nghệ. Có thể kể thêm vào đây ''nghệ nhân dân gian'
người đang nắm các bí quyết này, cũng được xem là tài sản văn hoá. Trong
đạo luật Bảo tổn các tài sản văn hoá của nước Nhật Bản, lớp nghệ nhân dân
gian kể trên đây được gọi là "Kho báu sống" [52],
Khi nói về tính cấp bách của công việc bảo tồn di sản văn hoá truyền
thống dân gian, UNESCO thường hay dẫn câu nói của nhà văn hoá Châu Phi,
ông Hapatê Ba người Buốc Kina Fasô, như sau "ở Châu Phi khi một cụ già
mất đi, điều đó cũng có nghĩa là một thư viện cổ đã bị đốt cháy". Chúng tôi
cho rằng: "Kho báu sống" hay ''Thư viện co' cũng cần được xem xét và đối xử
như một tài sản văn hoá loại đặc biệt.
Mặc dù, về mặt khoa học còn có đôi ý kiến tranh luận, nhưng về cơ bản
cách giải thích của UNESCO về thuật ngữ "di sẩn văn hoá phi vật thể' đã
được đa số các nhà khoa học nghiên cứu văn hoá chấp nhận.

23


Việc xác định các thuật ngữ: di sản văn hoá vật thể và phi vật thể là có
tầm quan trọng đặc biệt vì nó liên quan trực tiếp đến sự định hướng triển khai
công tác khảo sát, đánh giá chung.

25


sản văn hoá có chứa đựng những kinh nghiệm, tri thức sống, những truyền
thống và thị hiếu, gọi một cách bao quát là các giá trị và chuẩn mực xã hội. Có
thể nói: di sản văn hoá là sự tồn tại hiện thực của văn hoá. Nói: bảo tồn và
phát huy bản sắc văn hoá của dân tộc, cũng tức là phải giữ gìn và phát huy vốn
di sản văn hoá của dân tộc.
Trong chiến lược xây dựng đất nước theo mục tiêu dân giàu nước mạnh,
xã hội công bằng văn minh, văn hoá được xem xét như nền tảng tinh thần của
xã hội, nó vừa là một động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, lại đồng
thời là một mục tiêu của chủ nghĩa xã hội. Di sản văn hoá là bộ phận cơ bản
và trọng yếu của nền văn hoá dân tộc. Thái độ ứng xử đối với di sản văn hoá
nói lên trình độ nhận thức của mỗi quốc gia, dân tộc. Điều này, một phần tuỳ
thuộc vào việc xem xét vai trò của di sản văn hoá đối với sự phát triển xã hội
trong từng thời điểm lịch sử nhất định. Trong sự nghiệp đổi mói để xây dựng
đất nước theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá như văn kiện của Đảng đã
chỉ ra, việc nhận thức lại vai trò của di sản văn hoá là một vấn đề đặt ra bức
thiết.
1.2. Thực trạng các di sản văn hoá ở Hà Nội hiện nay
1.2.1. Sự phong phú, đa dạng và những đặc điểm của kho tàng di sản văn hoá
ở Hà Nội
Thủ đô Hà Nội đang chuẩn bị hành trang của mình để tiến vào thế kỷ
21, kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội. Trải gần 1000 năm
qua, lịch sử đã để lại cho Hà Nội biết bao nhiêu giá trị truyền thống tốt đẹp mà
nổi bật lên và bền vững hơn cả, là những giá trị văn hoá tinh thần đã được đúc
kết bằng câu:
Chẳng thơm cũng th ể hoa nhài
Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An.
Trong các giá trị văn hoá, phải kể đến giá trị của các di tích, bao gồm

mỗi di tích đều ghi chép thống kê cụ thể tỉ mỉ về các văn bia, thần phả, phong
sắc, hoành phi câu đối, chuông khánh và những bài thơ bằng chữ Hán, chữ
Nôm có ở các di tích. Các tài liệu cổ tự này được in dập nguyên bản, và đã
dịch ra chữ quốc ngữ để phổ thông hoá việc sử dụng tài liệu.
Kho tư liệu của Ban quản lý di tích hiện nay có 4834 văn bia, 3111 thần
phả sắc phong, 2535 minh văn chuông khánh và trên một vạn đơn vị nội dung
hoành phi câu đối, bài thơ bằng chữ Hán Nôm. Đây là kho tư liệu vô cùng quý

28


Trích đoạn Chuyên mục trên báo Nhân Dân Chuyên mục trên báo Hà Nội Mới Chuyên mục trên báo Văn Hoá Đánh giá về hình thức thể hiện của báo Nhân Dân,Hà
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status