BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ VĂN HOÁ, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
VIỆN VĂN HOÁ NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM
Hoàng Thị Hoa
BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA KHU VỰC
TÂY YÊN TỬ GẮN VỚI PHÁT TRIỂN DU LỊCH
Chuyên ngành: Quản lý Văn hóa
Mã số: 62 31 06 42
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC
Hà Nội - 2015
Công trình đƣợc hoàn thành tại:
VIỆN VĂN HOÁ NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. Đặng Văn Bài
Phản biện 1:
PGS.TS. Trần Lê Bảo
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Phản biện 2:
khu bảo tồn sinh thái Đồng Thông thuộc huyện Sơn Động, tỉnh Bắc
Giang. Ngoài ra, khu vực Tây Yên Tử còn lưu giữ nhiều di sản văn hóa
liên quan tới thời Lý - Trần. Đầu tiên phải kể đến chùa Vĩnh Nghiêm,
huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang, nơi đây đã được chọn là trung tâm
đào tạo và tu luyện của các tăng đồ Phật giáo thuộc thiền phái Trúc
Lâm Yên Tử.
Nhận thức được những tiềm năng du lịch ở khu vực Tây Yên Tử,
năm 2010, tỉnh Bắc Giang đã đề xuất và được Chính phủ cho phép xây
dựng ĐT 293 dài 73 km nối từ trung tâm thành phố Bắc Giang tới Khu
bảo tồn sinh thái Đồng Thông (chân núi chùa Đồng - Yên Tử), dự kiến
tới năm 2016 hoàn thành. Tuyến đường này sẽ kết nối các điểm di tích
lịch sử, cảnh quan thiên nhiên khu vực này thành một lộ trình hoàn thiện
để đi lên chùa Đồng, Yên Tử.
Vậy, vấn đề đặt ra cho tỉnh Bắc Giang là cần phải bảo tồn các di
sản văn hóa, giữ gìn cảnh quan thiên nhiên và phát triển các dịch vụ để
phục vụ du khách tham quan. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công
trình khoa học nào đánh giá tổng thể về giá trị của các di sản tại khu
vực Tây Yên Tử. Từ những lý do trên, tác giả đã chọn đề tài Bảo tồn di
sản văn hóa khu vực Tây Yên Tử gắn với phát triển du lịch làm
nghiên cứu của luận án.
2
2. Đối tƣợng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu các cơ sở lý thuyết về di sản văn hóa và du
lịch. Thực trạng bảo tồn di sản văn hóa và phát triển du lịch khu vực
Tây Yên Tử. Lấy 3 điểm tiêu biểu làm nghiên cứu: Chùa Vĩnh Nghiêm;
khu di tích và danh thắng Suối Mỡ; khu bảo tồn sinh thái Đồng Thông.
3. Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: Khu vực Tây Yên Tử cùng với hệ thống di sản văn
Nghiên cứu góp phần kết nối Tây Yên Tử với Đông Yên Tử thành quần
thể di tích danh thắng Yên Tử hoàn chỉnh.
7. Bố cục luận án
Ngoài phần Mở đầu (6 trang), Kết luận (6 trang), Tài liệu tham
khảo (13 trang), Phụ lục (70 trang), Luận án gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết, tổng quan tình hình nghiên cứu khu vực
Tây Yên Tử (36 trang)
Chương 2: Thực trạng bảo tồn di sản văn hóa khu vực Tây Yên Tử
gắn với phát triển du lịch (39 trang)
Chương 3: Định hướng và giải pháp bảo tồn di sản văn hóa khu
vực Tây Yên Tử gắn với phát triển du lịch (33 trang)
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT, TỔNG QUAN
TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU KHU VỰC TÂY YÊN TỬ
1.1. Cơ sở lý thuyết
1.1.1. Di sản văn hóa
1.1.1.1. Khái niệm di sản văn hóa
Ở nước ta, di sản văn hóa được quy định trong phần nói đầu của
Luật Di sản văn hóa, ban hành năm 2001, sửa đổi bổ sung năm 2009:
“Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc
Việt Nam và là bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn
trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta”.
4
1.1.1.2. Quản lý di sản văn hóa
Nội dung quản lý nhà nước về di sản văn hóa được đề cập gồm
các nội dung chính là: Xây dựng và ban hành thực hiện chiến lược, quy
hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá
trị di sản văn hóa; Tổ chức, chỉ đạo và quản lý các hoạt động bảo vệ và
kế hoạch và chính sách phát triển du lịch; Tuyên truyền, phổ biến, giáo
dục pháp luật và thông tin về du lịch; Tổ chức, quản lý hoạt động đào
tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực và tổ chức bộ máy quản lý nhà nước; Tổ
chức điều tra, đánh giá tài nguyên du lịch, xác định khu du lịch, điểm
du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch; Tổ chức thực hiện hợp tác quốc tế
và hoạt động xúc tiến du lịch ở trong nước và nước ngoài; Kiểm tra,
thanh tra, cấp, thu hồi giấy phép, giấy chứng nhận về hoạt động du
lịch,…
1.1.2.3. Du lịch văn hóa
Trong điều 4 Luật Du lịch đã chỉ rõ “Du lịch văn hóa là hình thức
du lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc với sự tham gia của cộng đồng
nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống”.
Du lịch văn hóa bao gồm bốn yếu tố chính như sau: Du lịch; Sử
dụng tài sản di sản văn hóa; Khách du lịch; Tác động của du lịch.
1.1.2.4. Du lịch cộng đồng
Những năm gần đây, du lịch cộng đồng phát triển một cách nhanh
chóng. Thực tế, nếu không có nhân dân và các doanh nghiệp cùng tham
gia, chính quyền làm thật nhiều lễ hội cũng không dễ đạt được mục
đích du lịch cộng đồng đúng nghĩa.
1.1.2.5. Điểm đến du lịch hấp dẫn
Trong thực tế, các sản phẩm du lịch khác nhau sẽ thu hút sự chú ý
của du khách cũng khác nhau. Phương hướng phát triển du lịch có đưa
ra nội dung phát triển điểm đến du lịch văn hóa hấp dẫn với các nội
dung chủ yếu như sau: 1/ Xây dựng một điểm thu hút chính; 2/ Liên kết
các điểm tham quan ít hơn với nhau; 3/ Tạo ra những khu du lịch; 4/
Phát triển tuyến du lịch; 5/ Sử dụng các sự kiện.
6
1.1.3. Mối quan hệ giữa quản lý du lịch và quản lý di sản văn hóa
7
trách nhiệm của các cấp, các ngành và của cộng đồng trong bảo tồn di
sản văn hóa cũng như phát triển du lịch. Các tác giả có chung quan
điểm về di sản là tài nguyên phát triển du lịch, bên cạnh đó quản lý di
sản sao cho hợp lý và khoa học, gắn di sản với phát triển du lịch bền
vững được các tác giả nhận định và đưa ra các giải pháp hữu hiệu nhằm
nâng cao ý thức của người dân trong giữ gìn và bảo vệ di sản, đồng thời
góp phần nâng cao đời sống của cộng đồng dân cư tại nơi có di sản.
1.3.2. Các công trình nghiên cứu liên quan đến Yên Tử và khu vực
Tây Yên Tử
Thời gian qua đã có những công trình nghiên cứu về di sản văn hóa
vật thể và phi vật thể ở Yên Tử cũng như khu vực Tây Yên Tử. Qua
nghiên cứu, tiếp cận với các tài liệu, công trình nghiên cứu, sách, tạp
chí, bài viết, thông tin tư liệu… trong nước và trên thế giới, tác giả luận
án thấy rằng các công trình nghiên cứu đã làm rõ di sản văn hóa có vai
trò quan trọng trong đời sống xã hội bảo tồn di sản văn hóa có nhiều
mục tiêu, trong đó có mục tiêu phát triển du lịch. Bảo tồn di sản văn
hóa cần phải có vai trò quản lý nhà nước, trong xây dựng cơ chế chính
sách, tạo cơ sở pháp lý cho tổ chức thực hiện. Tuy nhiên, trong các
công trình nghiên cứu chưa có công trình nào đặt vấn đề bảo tồn di sản
văn hóa gắn với phát triển du lịch và mối liên quan giữa du lịch ở vùng
Yên Tử và khu vực Tây Yên Tử.
1.4. Hệ thống di sản văn hóa khu vực Tây Yên Tử
Tính đến hết năm 2014, toàn tỉnh Bắc Giang đã có 680 di tích được
xếp hạng. Riêng Tây Yên Tử nằm tại 4 huyện với 187 di tích (Bảng 1,
Phụ lục 2) mang giá trị tinh thần và nhân văn sâu sắc. Trong đó: Lục
Nam: 74 di tích; Sơn Động: 11 di tích; Lục Ngạn: 38 di tích; Yên Dũng:
64 di tích. Với hệ thống các chùa tháp, di tích cùng sự kỳ vĩ trùng điệp
của núi rừng, kết hợp với thảm thực vật và nhiều loài động vật phong phú
đã tạo nên khu vực Tây Yên Tử nhiều tiềm năng để phát triển du lịch.
9
Ngày 16/05/2012, tại hội nghị của Ủy ban UNESCO khu vực châu
Á - Thái Bình Dương được tổ chức tại Bangkok (Thái Lan), mộc bản
chùa Vĩnh Nghiêm đã được công nhận là Di sản tư liệu thế giới thuộc
Chương trình Ký ức thế giới khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
Lễ hội Vĩnh Nghiêm được tổ chức hằng năm tại chùa Vĩnh
Nghiêm (hay còn gọi là lễ hội chùa La). Đây là một lễ hội lớn trong
vùng,
2.1.2. Khu di tích và danh thắng Suối Mỡ
Suối Mỡ là một trung tâm sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng cổ sơ của
người Việt với tín ngưỡng thờ Mẫu - Thánh Mẫu thượng ngàn. Không
gian văn hóa nơi đây được kéo dài từ đền Thượng, đền Trung, rồi đến
đền Hạ. Đền Thượng nằm lưng chừng núi Hồ Bấc. Hội đền Suối Mỡ
mở vào ngày 1 tháng 4 âm lịch hằng năm là ngày rước sắc của người
dân địa phương. Ngoài việc tế lễ, hội đền còn tổ chức thi bắn cung, võ
dân tộc, đi quyền, múa côn, múa kiếm, múa đao,… Tối đến nhà đền còn
tổ chức hát chầu văn. Lễ hội Suối Mỡ hàng năm đón trên 60.000 lượt
khách du lịch.
Khu di tích danh thắng Suối Mỡ đã được công nhận cấp quốc gia
và có nhiều tiềm năng để phát triển thành khu du lịch nổi tiếng, thu hút
nhiều khách du lịch trong và ngoài nước.
2.1.3. Khu bảo tồn sinh thái Đồng Thông
Khu bảo tồn sinh thái Đồng Thông thuộc xã Tuấn Mậu, huyện Sơn
Động, tỉnh Bắc Giang, được xác định là điểm du lịch trọng điểm, nằm
trong tuyến du lịch Tây Yên Tử, cách trung tâm thành phố Bắc Giang
87 km và cách thành phố Hà Nội 130 km theo hướng Đông Bắc, cách
Di sản thế giới vịnh Hạ Long, Quảng Ninh khoảng 65 km.
Về địa hình, theo các nhà nghiên cứu, hiện tại khu vực Đồng
Thông có khoảng 760 loài thực vật, hơn 430 loài động vật, trong đó có
Ngoài những mặt đã được quan tâm đầu tư, hiện nay những khó
khăn của chùa Vĩnh Nghiêm chủ yếu như sau: đầu tiên là hệ thống xe
chuyên chở khách từ thành Phố Bắc Giang đến điểm du lịch này chưa
11
có. Cụ thể, Bắc Giang chưa xây dựng hệ thống xe bus đi qua điểm du
lịch này. Đây là công việc cần thiết phải triển khai, bởi vì khi đường
giao thông được hoàn chỉnh cho du khách đến chùa Vĩnh Nghiêm thì
việc đảm bảo phương tiện đưa đón du khách hợp lý cũng rất quan trọng.
Thứ hai, đây là điểm du lịch văn hóa nên cần xây dựng sản phẩm
du lịch đặc thù rõ nét và có sức hút cao với du khách.
Thứ ba, hiện nay công tác quảng bá, xúc tiến thường xuyên (báo
chí, băng đĩa, tập gấp,…)
Thứ tư, các dịch vụ du lịch như: lưu trú, ăn uống phục vụ khách
đến thăm chùa chưa được quan tâm đầu tư.
Thứ năm, nhân lực phục vụ du lịch ở Vĩnh Nghiêm còn yếu và thiếu.
2.2.1.2 Đánh giá phát triển du lịch văn hóa tại khu di tích danh
thắng Suối Mỡ
Đây là khu du lịch văn hóa - sinh thái - nghỉ dưỡng cấp vùng, được
quy hoạch gần 480 ha. Quy mô khách du lịch đến năm 2020 ước đạt
160.000 lượt du khách và đến năm 2030 đạt khoảng 650.000 lượt.
Ngoài những mặt thuận lợi như được chú trọng đầu tư về hạ tầng du
lịch thì vấn đề nâng cao nguồn nhân lực phục vụ du lịch, kết nối các điểm
du lịch trong và ngoài tỉnh, quảng bá hình ảnh con người và cảnh quan
thiên nhiên đến với du khách đặt ra cho Bắc Giang không ít thách thức
trong thời gian tới khi số lượng du khách trong và ngoài nước đến thăm
quan và nghỉ dưỡng tại khu vực này tăng đột biến.
2.2.1.3. Đánh giá phát triển du lịch văn hóa tại khu bảo tồn sinh
thái Đồng Thông
lâm, mô hình quản lý của giáo hội Phật giáo (đại diện là sư trụ trì chùa) kết
hợp với chính quyền địa phương và cơ quan quản lý văn hóa.
2.2.2.3. Nguồn nhân lực tham gia các hoạt động du lịch
Nguồn nhân lực ở Tây Yên Tử còn thiếu và yếu về chuyên môn.
Thực tế cho thấy, nguồn nhân lực được đào tạo bài bản và có chứng chỉ
13
hành nghề phục vụ trong các nhà hàng, các công ty lữ hành, tổ chức sắp
xếp hợp lý là vấn đề nan giải và cần khắc phục sớm trong thời gian tới.
2.2.2.4. Hoạt động xúc tiến quảng bá
Hoạt động xúc tiến quảng bá các sản phẩm du lịch của Tây Yên Tử
nằm trong chương trình xúc tiến quảng bá chung của du lịch Bắc Giang.
Trong đó, các chương trình xúc tiến quảng bá cho hình ảnh Tây Yên Tử
còn đại diện cho Bắc Giang. Trong những năm qua, Bắc Giang đã tổ
chức nhiều chương trình giao lưu, hợp tác quảng bá xúc tiến thương
mại du lịch
2.2.2.5. Sản phẩm, tour tuyến du lịch
Việc liên kết hợp tác phát triển du lịch cùng các tỉnh bạn đã tạo
cho du lịch Bắc Giang có những kết quả cụ thể đáng khích lệ; Hiệp hội
Du lịch và một số công ty lữ hành giữa các tỉnh, thành phố đã ký biên
bản hợp tác kinh doanh; nhiều công ty đã đi khảo sát các tour, tuyến,
điểm du lịch nhằm xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù, liên kết phát
triển dịch vụ, du lịch tập trung theo tuyến Hà Nội - Bắc Giang - Lạng
Sơn và Thái Nguyên - Bắc Giang - Hải Dương - Quảng Ninh.
2.2.3. Du khách
2.2.3.1. Lượng du khách
Riêng lượng du khách đến với các điểm du lịch mà tác giả luận án
nghiên cứu thì năm 2014 có gần 200 nghìn lượt du khách. Lượt du
khách đến để thăm quan nghỉ dưỡng và vui chơi tại Suối Mỡ là nhiều
dần Nếp sinh hoạt ; văn hoá độc đáo và đặc sắc của một số dân tộc ít
người ở Tây Yên Tử cũng đang dần bị hòa nhập vào cuộc sống hiện
đại; Những trường hợp xâm phạm rừng nguyên sinh, phá hủy cảnh
quan tự nhiên, xâm hại di tích hay ảnh hưởng của cuộc sống hiện đại
làm mai một phong tục truyền thống của các dân tộc; Sự buông lỏng
quản lý - phân cấp chưa rõ ràng, hợp lý nên dẫn đến sự chồng chéo
không thống nhất trong việc giải quyết các vấn đề;…
15
Tiểu kết chƣơng 2
Nghiên cứu 3 điểm: chùa Vĩnh Nghiêm; khu di tích và danh thắng
Suối Mỡ; khu bảo tồn sinh thái Đồng Thông cho thấy thực trạng các di
sản văn hóa ở khu vực này có di sản được UNESCO công nhận là Mộc
bản chùa Vĩnh Nghiêm; có di sản được công nhận cấp quốc gia là chùa
Vĩnh Nghiêm và khu di tích và danh thắng Suối Mỡ; có các giá trị về di
sản vật thể, phi vật thể cần được bảo tồn ở cả 3 quan điểm là bảo tồn
nguyên gốc, bảo tồn có kế thừa và bảo tồn phát triển. Cách thức quản lý
cũng không giống nhau, nguồn nhân lực phục vụ du lịch cũng khác
nhau. Tình trạng chung là vừa thiếu về số lượng, vừa yếu về chuyên
môn. Từ nghiên cứu này cho thấy cần phải bổ sung về phương pháp
quản lý, xây dựng các cơ chế để bảo tồn di sản văn hóa ở trong khu vực
với quy trình được thực hiện là kiểm kê, đánh giá xếp loại di sản văn
hóa, xếp loại điểm du lịch.
Chƣơng 3
ĐỊNH HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA
KHU VỰC TÂY YÊN TỬ GẮN VỚI PHÁT TRIỂN DU LỊCH
3.1. Định hƣớng bảo tồn di sản văn hóa và phát triển du lịch
khu vực Tây Yên Tử
3.1.1. Định hướng chung
các điểm, tuyến du lịch như: Di sản khảo cổ, di sản kiến trúc, các trung
tâm lịch sử và các ngôi làng độc đáo, các di sản sống, các di sản ẩm
thực,…
3.1.2.2. Các hoạt động bảo tồn di sản chủ yếu
Trong hoạt động bảo tồn, cần quan tâm đến các hoạt động như:
kiểm kê, xếp hạng di tích, quy hoạch, kế hoạch bảo tồn,…
3.1.2.3. Kết cấu hạ tầng phục vụ du lịch
Xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ cho du lịch cần tập trung vào
các nội dung như: đường giao thông, khu vực tiếp đón khách, khu vực
lưu trú, khu vực đỗ xe, biển chỉ dẫn đường,…
17
3.1.2.4. Các hoạt động quảng bá, xúc tiến du lịch
Định hướng các hoạt động quảng bá, xúc tiến du lịch nhằm thu hút
khách đến với khu vực này trên các mặt: Truyền thông và quảng bá;
hướng dẫn, thuyết minh, các tài liệu hướng dẫn
3.1.2.5. Nhiệm vụ các bên liên quan
Để thực hiện thành công các chương trình bảo tồn di sản văn hóa
và phát triển du lịch cần sự phối hợp nhịp nhàng của các cơ quan ban
ngành, các tổ chức xã hội, các doanh nghiệp, cộng đồng dân cư và
khách du lịch,... Trong đó nhà nước đóng vai trò rất quan trọng.
3.2. Giải pháp bảo tồn di sản văn hóa gắn với phát triển du
lịch khu vực Tây Yên Tử
Nghiên cứu Tây Yên Tử từng bước đưa ra những định hướng phát
triển du lịch bền vững dựa vào di sản trong tương lai. Kết nối Tây Yên
Tử và Đông Yên Tử thành một khu du lịch văn hóa - tâm linh - sinh
thái mang tính chỉnh thể là một trong các bước đi nhằm cụ thể hóa mục
tiêu đó.
3.2.1. Nguyên tắc
tuyến du lịch để khai thác, phát huy có hiệu quả các di sản văn hóa như:
tuyến du lịch văn hóa tâm linh với hạt nhân là địa điểm Vĩnh Nghiêm,
Suối Mỡ, Đồng Thông; các tuyến du lịch văn hóa liên vùng, kết nối
Suối Mỡ, Lục Nam với Lục Ngạn, Sơn Động và các tỉnh bạn Hải
Dương, Quảng Ninh để khai thác lợi thế của địa bàn giáp ranh 3 tỉnh.
3.2.3. Giải pháp về bảo tồn di sản văn hóa khu vực Tây Yên Tử
3.2.3.1. Quản lý di sản
Khu vực Tây Yên Tử có hệ thống di sản đa dạng, phong phú là
vùng rộng lớn liên quan tới các tỉnh lân cận như Quảng Ninh, Hải
Dương cho nên công tác quản lý di sản cần phải mang tính đặc thù, có
tính chất liên vùng, liên ngành và sự phối hợp chặt chẽ với các ngành
liên quan trong công tác bảo tồn di sản.
3.2.3.2. Nâng cao nhận thức và tránh nhiệm của cộng đồng dân cư
19
Việc huy động cộng đồng dân cư, mọi tổ chức, cá nhân trong xã
hội trực tiếp tham gia các hoạt động bảo tồn, đóng góp và phát huy giá
trị di sản văn hóa theo xu thế hiện đại, hiệu quả. Nhưng lại vừa phải bảo
tồn nguyên gốc một số công trình văn hóa cổ hay giữ gìn bản sắc văn
hóa dân tộc. Bảo tồn di sản văn hóa phải hướng tới nhân dân, địa
phương, trong khu vực có di sản, phải thực sự là chủ thể tham gia phát
huy di sản.
3.2.3.3. Xã hội hóa công tác bảo tồn di sản và hợp tác quốc tế
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, giao lưu văn hóa như
hiện nay, vấn đề bảo tồn di sản có ý nghĩa quan trọng được quốc tế
quan tâm. Việc xây dựng hồ sơ đề cử Yên Tử là Di sản Thế giới có ý
nghĩa trong chủ trương phát triển du lịch của Việt Nam. Khu vực Tây
Yên Tử với di sản phong phú cho nên khi bảo tồn cần nguồn kinh phí
rất lớn mà nhân dân trong khu vực còn khó khăn về kinh tế. Nên rất cần
doanh nghiệp du lịch đầu tư để phát triển du lịch; tổ chức kết nối các
điểm di sản để trở thành tour, tuyến du lịch; thực hiện liên kết với các
tỉnh thành Quảng Ninh, Hải Dương, Bắc Ninh, Hà Nội để bảo tồn di
sản văn hóa gắn với phát triển du lịch; nâng cao chất lượng dịch vụ,
tăng tính hấp dẫn của sản phẩm du lịch và sức cạnh tranh của du lịch
Tây Yên Tử với các vùng du lịch khác.
3.2.4.3. Xây dựng cơ chế chính sách
Bắc Giang cần ban hành các kế hoạch, chương trình, đề án, chính
sách cụ thể nhằm thu hút đầu tư cho bảo tồn di sản văn hóa và phát
triển du lịch; tạo điều kiện thuận lợi, bảo đảm an ninh, an toàn để thu
hút khách; hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp, các thành
phần kinh tế khác tham gia cung ứng dịch vụ du lịch; tăng cường quản
lý nhà nước về di sản văn hóa và du lịch
3.2.4.4. Xây dựng chương trình xúc tiến quảng bá du lịch
Để thu hút được nguồn khách đến với Tây Yên Tử, một trong
những giải pháp quan trọng nhất cần thực hiện đó là tiến hành thường
xuyên công tác tuyên truyền, quảng cáo, xúc tiến du lịch, giới thiệu
21
hình ảnh, con người ở Tây Yên Tử với những nét độc đáo, đặc sắc và
hấp dẫn, để tạo ra sức thu hút khách du lịch, mở rộng, chiếm lĩnh thị
trường. Bên cạnh đó, cần có chiến lược xây dựng các sản phẩm du lịch
đặc trưng, nâng cao sức cạnh tranh của du lịch Tây Yên Tử.
3.2.4.5. Xây dựng sản phẩm đặc trưng và các tour tuyến du lịch
Một vấn đề liên kết khác giữa Đông Yên Tử và Tây Yên Tử hấp
dẫn du khách đó là thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Sở dĩ có được sự quan
tâm của du khách như vậy chính là hệ thống di tích kéo dài từ phía
Đông sang phía Tây, nói cách khác là hệ thống đó nằm trên địa bàn hai
tỉnh Quảng Ninh và Bắc Giang. Chính vì vậy vấn đề liên kết giữa hai