Khoá luận tốt nghiệp
LỜI CẢM ƠN
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn thầy
Nguyễn Văn Vinh. Thầy đã tận tình giúp đỡ, chỉ bảo và động viên tôi trong suốt
thời gian làm khóa luận.
Trong suốt quá trình làm khóa luận, tôi đã nhận được rất nhiều sự ủng hộ và
giúp đỡ to lớn của các thầy cô thuộc khoa Sử, đặc biệt là các thầy cô của bộ môn
Lịch sử Thế giới, Trường ĐHSP Hà Nội 2.
Những tư liệu mà tôi có thể tiếp cận và tra cứu được không thể thiếu sự chỉ
dẫn và giúp dỡ tận tình của các cán bộ thư viện Viện Sử Học, Thư viện Quốc gia,
Viện Nghiên cứu châu Âu.
Hà Nội ngày 4 tháng 5 năm 2012
Sinh viên thực hiện
Phạm Thị Hiền
SVTH: Phạm Thị Hiền – K34A CN Lịch sử
Khoá luận tốt nghiệp
LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận tốt nghiệp được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của thầy Nguyễn
Văn Vinh. Tôi xin cam đoan rằng:
Đây là kết quả nghiên cứu của riêng tôi.
Nếu sai tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm!
Hà Nội ngày 4 tháng 5 năm 2012
Sinh viên thực hiện
Phạm Thị Hiền
SVTH: Phạm Thị Hiền – K34A CN Lịch sử
2.2. NHỮNG LIÊN HỆ CỦA NGƯỜI PHÁP Ở VIỆT NAM CUỐI THẾ KỶ
XVIII................................................................................................................ 62
2.2.1. Bá Đa Lộc với những can thiệp ở Việt Nam ................................................... 62
2.2.2. Chính sách của nhà cầm quyền Pháp .............................................................. 68
2.2.3. Hoạt động của thừa sai Pháp ở Đàng Ngoài ................................................... 73
SVTH: Phạm Thị Hiền – K34A CN Lịch sử
Khoá luận tốt nghiệp
2.2.4. Từ nhà Tây Sơn đến Nguyễn Ánh và công cuộc truyền giáo của người
Pháp ................................................................................................................. 75
2.3. NHỮNG XUNG ĐỘT QUÂN SỰ ĐẦU TIÊN (1804 – 1848) ......................... 82
2.3.1. Chính sách của nhà Nguyễn ............................................................................ 82
2.3.2. Những cuộc đụng độ vũ trang đầu tiên ........................................................... 88
2.4. TIỂU KẾT .......................................................................................................... 89
Chƣơng 3: HỆ QUẢ CỦA QUÁ TRÌNH XÂM NHẬP CỦA PHÁP VÀO VIỆT
NAM ......................................................................................................................... 91
3.1. VIỄN ĐÔNG TRONG CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA CHÍNH QUYỀN
LOUIS NAPOLEON BONAPARTE ....................................................................... 91
3.2. CÁC BƯỚC CHUẨN BỊ VÀ KẾ HOẠCH XÂM LƯỢC CỦA PHÁP ........... 95
3.3. SỰ CAN DỰ CỦA MỘT SỐ GIÁM MỤC ....................................................... 99
3.4. NHỮNG MÂU THUẪN, XUNG ĐỘT VÀ CÔNG CUỘC CẤM ĐẠO GIA
TĂNG Ở VIỆT NAM ............................................................................................. 103
3.5. TIỂU KẾT ........................................................................................................ 107
KẾT LUẬN ............................................................................................................ 108
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................. 113
SVTH: Phạm Thị Hiền – K34A CN Lịch sử
Nxb
Nhà xuất bản
VHTT
Văn hóa thông tin
CIO
Công ty Đông Ấn Pháp
MEP
Hội Truyền giáo nước ngoài Paris
VOC
Công ty Đông Ấn Hà Lan
EIC
Công ty Đông Ấn Anh
CSS
Hội Thánh thể
SVTH: Phạm Thị Hiền – K34A CN Lịch sử
nghiên cứu rộng, mặt khác cũng cần phải thấy ở đây còn hội tụ rất đa dạng, phong
phú những quan điểm, cách nhìn của các nhà nghiên cứu. Trong đó nổi lên trên hết
vẫn là các nguyên nhân và việc lý giải sự thất bại của Việt Nam trước chủ nghĩa
thực dân phương Tây.
Đề tài nhìn nhận vấn đề trong diễn tiến lịch sử, đi sâu phân tích kế hoạch, âm
mưu chung – riêng của các nước tư bản với phương Đông, sự chuyển hóa lực lượng,
SVTH: Phạm Thị Hiền – K34A CN Lịch sử
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
2
sự xuất hiện những điều kiện lịch sử, chính trị mới và đi sâu vào phân tích tại sao,
trong bối cảnh nào mà Pháp đã “lựa chọn” Việt Nam và cuối cùng là xâm lược Việt
Nam cũng như làm rõ hơn cách thức và con đường xâm nhập đó. Trong quá trình đó
so với các quốc gia khác, với nước Pháp, trong quá trình xâm nhập rồi xâm lược
Việt Nam đã có mối liên kết chặt chẽ giữa tôn giáo và chính trị, giữa tôn giáo với
buôn bán và trên hết là là giữa tôn giáo – chính trị và thực dân xâm lược. Mặt khác
để có thể thấu hiểu và truyền tải tính chân thực của lịch sử Việt Nam, việc hoàn
toàn dựa vào tài liệu chính thức của Việt Nam là chưa đầy đủ và khách quan. Rõ
ràng, việc hướng đến một cái nhìn toàn diện, một cách tiếp cận tổng thể là nhu cầu
có ý nghĩa khoa học và thực tiễn. Hơn nữa, chủ đề nhằm đạt tới một cái nhìn toàn
cảnh về các giai đoạn phát triển lịch sử Việt Nam từ giữa thế kỷ XVII đến giữa thế
kỷ XIX trong mối quan hệ với Pháp cũng như “cuộc gặp gỡ” định mệnh và “ sự
giao nhau của các số mệnh’ trong tiến trình phát triển giữa hai nước cũng là chủ đề
có ý nghĩa khoa học trong nghiên cứu hiện nay. Trên cơ sở định hướng đó, tôi quyết
định chọn đề tài: “Sự thâm nhập của Pháp vào Việt Nam từ cuối thế kỷ XVII
đến giữa thế kỷ XIX” làm chủ đề cho khóa luận tốt nghiệp của tôi.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập chung vào vào quá trình xâm nhập của Pháp vào Việt Nam qua
liên hệ về chính trị và thương mại – truyền giáo, quan hệ quốc tế của hai nước cho
đến trước khi xảy ra cuộc xâm lược.
Về thời gian, đề tài nghiên cứu quá trình xâm nhập của Pháp vào Việt Nam
từ thập niên 60 – 70 của thế kỷ XVII đến năm 1958.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
Làm rõ mối quan hệ tương tác đặc biệt giữa hội truyền giáo nước ngoài Paris
với toàn bộ hoạt động của công ty Đông Ấn Pháp; Phân tích rõ sự chuyển biến về
kinh tế, chính trị căn bản thế kỷ XVI – XVIII ở Việt Nam và Pháp.
Phân tích và làm rõ thế cân bằng quyền lực, chuyển biến trong cơ chế quyền
lực giữa Pháp với Việt Nam trong hơn hai thế kỷ; Thái độ ứng đối, chính sách của
Việt Nam trong đối sách các nước châu Á, Pháp và các quốc gia khác ở châu Âu.
Phân tích và lý giải rõ nguyên nhân đồng thời tại sao trong bối cảnh nào Pháp
đã chọn Việt Nam và tiến hành cuộc xâm lược Việt Nam vào giữa thế kỷ XIX cùng
những hệ quả chính trị - xã hội và quân sự.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Tổng hợp, hệ thống qua kết quả nghiên cứu về hoạt động thương mại và truyền
giáo của Công ty Đông Ấn Pháp và Hội truyền giáo nước ngoài Paris ở Việt Nam ;
Tiếp cận vấn đề đa diện, cách tiếp cận đa ngành, liên ngành, nghiên cứu so sánh khu
vực – thế giới, hạn chế mức độ tác động theo thời gian cũng như trong nhận thức
SVTH: Phạm Thị Hiền – K34A CN Lịch sử
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
4
các quan điểm nghiên cứu để đạt đến những nhận thức hệ thống và toàn diện trên cơ
GIỮA THẾ KỶ XVII ĐẾN NỬA SAU THẾ KỶ XVIII
1.1.1. Tình hình kinh tế - xã hội Pháp thế kỷ XVII
1.1.1.1. Bối cảnh châu Âu và nước Pháp thế kỷ XVI-XVII
Từ thế kỷ XV và các thế kỷ sau, lịch sử thế giới đã diễn ra những biến
chuyển mạnh mẽ. Từ phạm vi và mức độ ảnh hưởng, trong chừng mực nào đó, một
số học giả đã cho rằng đây là thời kỳ toàn cầu hóa lần thứ nhất. Trong quá trình
chuyển hóa tự thân của châu Âu nói riêng và phương Tây nói chung thế kỷ XV –
XVII suy cho cùng là dựa trên những chuyển biến sâu rộng về kinh tế - xã hội trên
phạm vi và quy mô thế giới.
Với việc phát hiện ra những vùng đất mới, thời kỳ đầu của công cuộc khám
phá xuất phát từ mối liên thông xuyên đại dương giữa Địa Trung Hải và Đại Tây
Dương. Cho đến trước thế kỷ XV, vấn đề có tính chất thời sự và ngày càng trở nên
bức thiết về kinh tế là nhu cầu tài nguyên mới thay thế. Sự hấp hẫn trong việc buôn
bán trực tiếp hương liệu từ châu Á về các mặt hàng như vàng, sừng tê… hay nô lệ ở
châu Phi đã càng thôi thúc người châu Âu hướng mạnh về phương Đông. Việc mở
rộng trao đổi và cạnh tranh thương mại trên phạm vi thế giới trên ở một khía cạnh
nào đó cũng đưa đến những hệ quả kinh tế - xã hội đương thời. Chính các chuyển
động trên phạm vi rộng lớn là một trong những nhân tố xuất hiện nền thương mại
toàn cầu (global trade). Từ đó, một số nhà nghiên cứu đã cố gắng giải thích nguyên
nhân của sự phát triển vượt trội, hay về những thay đổi bước ngoặt trong lịch sử ở
thế kỷ XVI – XVII, tựu trung lại dựa trên hai khía cạnh chính là nhu cầu tự thân và
sự tiến bộ của kỹ thuật, nhất là kỹ thuật hàng hải và quân sự.
Sự lấn lướt của Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha trong giai đoạn đầu nhờ vào
những “yếu tố thuận lợi” khách quan và chủ quan. Tuy vậy, cuối thế kỷ XVII, vị thế
của Bồ Đào Nha ngày càng suy yếu, cùng với đó là sự nổi lên của Hà Lan, Anh,
Pháp…
SVTH: Phạm Thị Hiền – K34A CN Lịch sử
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
cách tôn giáo, cùng chiến tranh nông dân (ở Đức), trở thành hai trào lưu tôn giáo –
xã hội quyết liệt nhất đương thời, làm tung chuyển tận gốc chế độ phong kiến, mở
đường cho một trật tự xã hội – tư tưởng mới. Như là hệ quả của “ba làn sóng”, Tây
Âu đã trải qua ba cuộc cách mạng làm thay đổi căn bản mô hình phát triển của lịch
SVTH: Phạm Thị Hiền – K34A CN Lịch sử
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
7
sử nhân loại: Đó là cuộc cách mạng công nghiệp “đã tạo ra những lực lượng sản
xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng thiên nhiên, sự sản xuất của tất cả các thế hệ
trước kia gộp lại. Sự chinh phục những lực lượng thiên nhiên, sự sản xuất bằng máy
móc, việc áp dụng hóa học vào công nghiệp và nông nghiệp, việc dùng tàu chạy
bằng hơi nước, đường sắt, máy điện báo, việc khai phá từng lục địa nguyên vẹn,
việc khai thông các dòng sông cho tàu bè đi lại được, hàng khối dân cư tựa hồ như
từ dưới đất trồi lên, có thế kỷ nào trước đây lại ngờ được rằng có những lực lượng
sản xuất như thế vẫn nằm tiềm tàng trong lòng lao động xã hội!”; Thứ đến là cuốc
cách mạng diễn ra trong lĩnh vực trí tuệ - tinh thần tiếp nối trào lưu phục hưng; và
cuộc cách mạng trên địa hạt chính trị - xã hội, đánh dấu sự thay thế của hình thái
kinh tế tư bản chủ nghĩa đối với hình thái kinh tế - xã hội phong kiến: cuộc cách
mạng tư sản Hà Lan, Anh… Sự hình thành thị trường thế giới thúc đẩy các nhân tố
khác phát triển ở châu Âu, một trong những nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của các
công ty hàng hải.
Nằm trong sự chuyển mình chung đó, nước Pháp dưới các triều vua Henri
và Louis đã có những thay đổi lớn trên tất cả các phương diện, vừa mang đặc điểm
chung khu vực, vừa có những nét riêng biệt từ những vận động nội tại.
Trước hiện trạng giáo hội thế kỷ XV, phong trào cải cách đã nổ ra ở nhiều
giáo phận và dòng tu nhằm phục hưng giáo hội, cũng như nhiều nước khác thần học
giáo, thời kỳ này nước Pháp thực hiện “Một vua, một niềm tin”, sức mạnh chính trị
cao hơn niềm tin tôn giáo.
Mặt khác, dưới thời Louis XIV, nước Pháp được coi là tiêu biểu nhất cho
chế độ chuyên chế. Phương cách cai trị và chuyên chế kiểu Pháp đã lan sang khắp
châu Âu, những nhà cầm quyền ở Tây Ban Nha, Áo, Phổ và Nga đều coi Pháp là
mẫu hình, một nhà nước kiểu mẫu. Tuy nhiên, đối với trường hợp các nhà nước
chuyên chế, một đặc điểm rất quan trọng là chuyên chế không phải là toàn trị mà là
nằm ở giữa 2 thái cực đó, tức là nằm giữa nhà nước nghị viện với nhà nước toàn trị.
Do vậy, nhà nước chuyên chế đó được gọi là nền chuyên chế sáng suốt.
Thực tế cho thấy, những nguyên tắc của Colbert sau đó đã tỏ ra xơ cứng.
Nếu như sản xuất trong nước dưới thời Colbert được kích thích mạnh, sản phẩm
tăng lên, du nhập kỹ thuật tiên tiến, tăng mạnh xuất khẩu thì trớ trêu là các công ty
khai thác thuộc địa và thương mại lại phần lớn làm ăn thất bát, thậm chí xảy ra cả
trong thời gian Colbert còn đương nhiệm. Các công ty mất đi trợ lực từ giới doanh
thương, nên dần đi vào suy thoái và phá sản hàng loạt. Và đến cuối thời kỳ trị vì của
vua Louis XIV, nền kinh tế Pháp, vốn trước đó đã bị chỉ trích mạnh mẽ, đang trên
đà suy thoái. Nguyên nhân chủ yếu theo nhiều kinh tế gia đương thời là do hiệu ứng
xấu từ chủ nghĩa Colbert. Trong khu vực, lúc này mối liên kết giữa các nước châu
SVTH: Phạm Thị Hiền – K34A CN Lịch sử
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
9
Âu suy yếu từ việc nhập về vàng, bạc giảm mạnh, cùng với đó là một phong trào
giảm giá đã càng làm cho những vấn đề của nước Pháp trở nên bức xúc, nhất là
khủng hoảng tài chính hoàng gia, khủng hoảng nông nghiệp. Hệ thống thuế thiết lập
từ thời Colbert mà nguồn gốc dựa vào nợ công, lúc này Nhà nước chẳng làm sao có
thể giữ được cân bằng. Tồi tệ hơn là tiền nợ từ hoàng gia Pháp tăng vọt trong thập
luËn
tèt
nghiÖp
10
Trong bối cảnh kinh tế- xã hội mới, nhận thức mới về vai trò của thương
nghiệp đã hình thành ở Tây Âu. Nếu như trước đó, lý thuyết về bullionism (chính
sách vàng bạc nén, ra đời ở Anh Quốc) nhấn mạnh đến hoạt động nhằm chiếm đoạt
kim loại quý (vàng, bạc), rất được Tây Ban Nha và một số nước Tây Âu khác coi
trọng, tán dương. Trên thực tế, chủ nghĩa trọng kim1 không chỉ là chính sách thuần
túy về kinh tế, trong bối cảnh của những phát kiến địa lý nó còn mang tính chất
chính trị, có mối quan hệ tương hỗ với các hoạt động quân sự. Lúc này, để có thể
đáp ứng nhu cầu ngày càng nâng cao trong đời sồng kinh tế - xã hội, yêu cầu bức
thiết phải có một lý thuyết kinh tế dẫn dắt hay giải thích hiện tượng đang diễn ra.
Và Chủ nghĩa trọng thương2, một lý thuyết kinh tế mới đã ra đời, một mặt nó là sự
tiếp nối của chính sách bullionism, mặt khác trong thời đại mới, nó cũng là sự phủ
định lý thuyết kinh tế đó3.
Ở Pháp, thời kỳ này nền công xã trung đại trên thực tế đã để lại gánh nặng
cho nhà nước. Theo truyền thống, các vấn đề xã hội là do Nhà nước ban hành và xử
lý, nó trái ngược với lĩnh vực kinh tế. Đầu thế kỷ XV, phá vỡ truyền thống vốn có,
chính Nhà nước đã tham sự tích cực vào các hoạt động buôn bán của giới doanh
thuơng và trở thành người giám sát các hoạt động với bên ngoài (ngoại thương).
Trong phạm vi khu vực, thời kỳ đại suy thoái kinh tế (giữa thế kỷ XVI đến giữa thế
kỷ XVII) đã khiến cho vị thế của nước Pháp vốn rất được coi trọng ở châu Âu, ngày
càng yếu kém.
Từ giữa thế kỷ XV, vua Louis XI (cq: 1461-1483) đã ban hành nhiều chính
11
Đồng thời, nhà nước Tây Âu rất chú ý đến các hoạt động liên quan đến tiền
tệ, khắp nơi được khuyến cáo chấm dứt xuất khẩu tiền. Những biện pháp bảo vệ này
tăng lên nhanh chóng trong suốt thế kỷ XVI. Từ cái nhìn so sánh, có thể cho rằng
những biện pháp mang tính can thiệp ở Pháp thể hiện rõ nhất sự can thiệp trực tiếp
của triều đình, cũng như mang “tính hệ thống” nhất dưới thời của Henry IV, nhất
là Louis XIV.
Như vậy, từ cuối thế kỷ XV – đầu thế kỷ XVI ở hầu hết các nước châu Âu đã
xuất hiện và ngày càng được phổ dụng của tư tưởng trọng thương. Trong số những
nước châu Âu, chỉ có Anh và Pháp có khả năng thực thi một chính sách kinh tế chặt
chẽ và khá hiệu quả ở thế kỷ XVII. Trong bối cảnh Tây Ban Nha nắm trong tay một
khối lượng kim loại quý, chủ nghĩa trọng thương ra đời nhấn mạnh đến hoạt động
buôn bán, trao đổi, cân bằng thương mại, phủ định độc chiếm tài nguyên… Jean
Bodin đề cập đến sự liên hệ giữa sự gia tăng giá và dòng chảy kim loại quý (vàng,
bạc). Jean Bodin cho rằng sự giàu có của đất nước là nhờ sự có được của một lượng
tiền (mặt) dồi dào; biện pháp can thiệp và bảo hộ là cần thiết để chuyển sang thời kỳ
duy thương trên cơ sở đề cao sức mạnh tuyệt đối của nhà nước, và chỉ bắt buộc phải
theo những luật lệ tự nhiên mang tính thần thánh. Được coi là cha đẻ của kinh tế
học chính trị, Antoine Montchrétien hết sức coi trọng nền công nghiệp nhà nước.
Qua Traité d’économique politique (công bố năm 1615), những luận đề của
Montchrétien về kinh tế trở thành các luận điểm phản ánh đầy đủ nhất vể chủ nghĩa
trọng thương hiện tồn ở Pháp.
Nhìn chung, ngoài những luận đề kinh tế học sơ khai vốn đã được biết đến
trong giới nghiên cứu lịch sử kinh tế, ở đây tôi xin nhấn mạnh đến những tư tưởng
đó đã là cơ sở điều kiện cho việc ra đời các công ty hàng hải lớn ở thời kỳ này (ở
Pháp là các công ty như Morbihan, Nouvelle-France…). Về đại thể, cả ba người đề
xuất chủ trương trên đều là những người thuộc tần lớp trên hay vốn xuất thân từ
tầng lớp tư sản, thậm trí Barthélemy Laffemas còn là tổng quản về thương mại (năm
1602) dưới triều vua Henry IV. Những đề xuất của họ, do vậy, rất nhanh chóng
phải tăng lượng tiền trong buôn bán chung, gom về từ các nước mà nó quay vòng,
dự trữ ở trong nước, ngăn không cho nó xuất ra ngoài, và cho người dân các
phương tiện để đạt được lợi nhuận […]. Chỉ có duy nhất và chỉ nhờ có buôn bán
mới có thể đạt được hiệu quả to lớn này”. Hay đơn giản trong ý tưởng của Colbert
là làm sao thu về tối đa kim loại quý (vàng, bac) cho nước Pháp và giữ chúng trong
nước. Trong quá trình giảm thiểu nhập khẩu và thực thi chủ nghĩa bảo hộ, Colbert
chủ trương “hoàng gia hóa” các công xưởng, hay các xí nghiệp được Nhà nước bảo
trợ. Nhà nước tăng cường sản xuất những mặt hàng vốn phải nhập khẩu từ bên
ngoài, tăng sản xuất cùng với đó là tăng chất lượng hàng hóa.
J.B.Colbert cũng ban hành nhiều quy định liên quan đến hoạt động kinh tế
nói chung. Thậm chí, tính ra hàng năm có khoảng 38 quy định và 15 sắc lệnh, trong
đó chi tiết hóa và cụ thể hóa rất nhiều những mặt hàng như về chiều dài, rộng… của
tấm dại, tấm ga… Nhân công được tuyển dụng dưới mọi hình thức từ người “ăn
không ngồi rồi”, từ đám ăn xin hay nhân công nước ngoài… Cùng với đó, một đội
4
Chủ nghĩa trọng thương kim tiền(như Tây Ban Nha), chủ nghĩa trọng thương công nghiệp(như Pháp), chủ
nghĩa trọng thương thương nghiệp(như Anh, Hà Lan).
5
Jean-Baptiste Colbert phụ trách tài chính 1665-1683, đương thời được miêu tả là “một người miền Nam” vì
sự lạnh lùng và ít cảm xúc. Colbert nổi lên trong việc chèo lái nền kinh tế Pháp.
SVTH: Phạm Thị Hiền – K34A CN Lịch sử
Kho¸
luËn
tèt
vững nhờ vai trò tích cực của Francois Martin. Năm 1674, F.Martin đã kiên quyết
giữ thương điếm Pondichéry khỏi sự thôn tính của người Hà Lan. Năm 1682, một
sắc lệnh cho phép CIO được tự do hoàn toàn trong hoạt động buôn bán với các xứ
vùng Ấn Độ (aux Indes, bao gồm cả Ấn Độ lẫn các nước Nam Á và Đông Nam Á).
6
Ví dụ như đạo dụ về thương mại, hàng hải (1681), nội dung của nó cho thấy thương mại đảm bảo cho nước
Pháp xây dựng và vũ trang cho những đội tàu lớn vượt biển, và dùng để tăng cường sức mạnh quân sự trên
bộ và trên biển để duy trì an ninh
SVTH: Phạm Thị Hiền – K34A CN Lịch sử
Kho¸
luËn
tèt
nghiÖp
14
Nhìn nhận lại hoạt động thực tế của các công ty trên, hai công ty Tây và
Đông Ấn được chuyên biệt hóa trong hoạt động buôn bán nô lệ (traite d’esclaves)
và được biệt đãi rất lớn. Theo đó, Nhà nước đã cung cấp gần 42% (vua góp :3 triệu
livres, quý tộc :1,3 triệu livres, quan chức triều đình: 0,8 triệu livres, khác: 5,1 triệu
livres) cho Công ty Đông Ấn, 57% cho Công ty Tây Ấn và khuyến khích mọi thành
phần trong nước đầu tư vào nó. Kết quả hoạt động của người Pháp ở hải ngoại đã
hình thành nên những thuộc địa đầu tiên của Pháp được hợp thành từ những thương
tèt
nghiÖp
15
Viễn Đông, vai trò kinh tế của CIO lại rất hạn chế. Trong thời kỳ đầu, đó là phương
tiện để chuyên chở giáo sĩ, đồng hành cùng MEP và gắn bó tương hỗ cho dù lợi ích
về thương mại luôn đứng ở vị trí thứ yếu nhất.
1.1.1.3. Từ Chế độ Bảo trợ sang Chế độ Cộng hòa
Theo nhiều nhà nghiên cứu giáo sử, Quyền Bảo trợ (Jus patronatus, Droit de
patronage, vẫn hay được biết đến với từ padroado) là một khái niệm pháp lý và
thực tế có từ sớm trong lịch sử giáo hội. Cùng với thời gian khái niệm, nội hàm của
quyền này cũng có như thay đổi mạnh mẽ, gắn liền với sự hưng suy của giáo hội.
Trong lịch sử giáo hội, Padroado mang dấu ấn của hai nước là Bồ Đào Nha và Tây
Ban Nha. Vua hai nước này nghiễm nhiên cho mình là có trách nhiệm bảo trợ hay
được giao quyền bảo trợ. Trong bối cảnh lúc đó, việc bảo trợ này được cho là chính
đáng và cần thiết.
Sau những chuyển biến mạnh mẽ ở châu Âu, nhất là các cuộc phát kiếm địa
lý từ cuối thế kỷ XV, các vùng đất mới trở thành điểm đến của hai nước thực dân
trên. Trong thời gian này, do hai nước luôn có những cuộc va chạm, ngày 4-5-1493
Giáo hoàng quyết định (qua sắc chỉ Inter coetera) phân chia vùng hoạt động: ranh
giới là một đường tưởng tượng, cách Tây Acores7 100 dặm (khoảng 600km lúc đó)
kéo xuống Cap Vert, theo đó phía Tây của đường ranh giới này thuộc quyền của
Tây Ban Nha và phía Đông thuộc Bố Đào Nha. Mặc dù còn tranh cãi rốt cuộc ngày
7-6-1494 hai nước ký cùng Hiệp ước Tordesillas, Tây Ban Nha) dịch chuyển đường
ranh giới cách Acores 370 dặm (2.220 km) về phía Tây. Hiệp ước được Tây Ban
Nha phê chuẩn ngày 2-7-1494, Bồ Đào Nhà phê duyệt ngày 5-9-1497, mãi sau đó
mới được Giáo hoàng Jules II phê duyệt ngày 4-1-15078. Sau đó, ngày 22-4-1529,
9
một , và nằm trong tay của vị vua chúa Bồ Đào Nha hay Tây Ban Nha. Cùng với
thời gian, vì rất nhiều nguyên nhân, trong bối cảnh mới, Tòa thánh tìm cách thoát ra
khỏi cơ chế bảo trợ, thoát khỏi ảnh hưởng của vua Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha để
nắm quyền kiểm soát toàn bộ hoạt động truyền giảng trên khắp thế giới nhất là
những vùng đất mới phát hiện sau các cuộc phát kiến.
Từ sau công đồng Trento, năm 1599 Giáo hoàng Clementê VIII lập Thánh bộ
truyền bá đức tin nhưng chỉ hoạt động được vài năm. Phải đến ngày 22-6-1622, Giáo
hoàng Gregorio XV lập Bộ vẫn mang tên trên, chính thức quy chế hoạt động, và tên
này quen được gọi là Thánh bộ truyền giáo (Bộ truyền giáo, thường chỉ viết tắt là
Propaganda. Theo đó, các thừa sai Dòng và Triều được vận động để phải trực thuộc
Thánh bộ thay vì trước nay vẫn lệ thuộc vào hai vua Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha.
Việc thành lập Bộ truyền giáo là một thay đổi lớn trong giáo hội. Giờ đây
giáo hội có ý thức hơn về thế giới bao la, không còn bó hẹp ở châu Âu hay rải rác ở
Trung Đông mà bình diện đã lan ra khắp thế giới. Chính mục đích thống nhất hành
động, để hiều hành mọi việc liên quan đến truyền giáo, chỉnh đốn phương pháp đã
dẫn đến việc phải sớm thành lập một Bộ trong giáo truyền lúc đó. Liên quan đến
Đông Ấn, Bộ truyền giáo muốn lập các giáo phận ở đây trực thuộc hoàn toàn Bộ và
Giáo hoàng, không còn bị chế độ bảo trợ Bồ Đào Nha chi phối nặng nề như trước
nên đã lập “cơ chế” mới – cơ chế đại diện tông tòa (vicarius apostolicus). Cùng với
đó, muốn lập giáo phận chính thức, tức giáo phận chính tòa ở các miền truyền giáo
trong chế độ bảo trợ thì phải có sự đồng thuận của các vua Bồ. Nếu lập giáo phận
tông tòa, Tòa thánh không cần hỏi ý kiến chính quyền liên hệ vì Giám mục Đại diện
tông tòa không phải là giám mục chính tòa, chỉ là đại diện của Giáo hoàng coi sóc
giáo phận đó.
Như vậy trong lịch sử giáo hội công giáo, thời kỳ Tông tòa đánh dấu một
đường hướng truyền giáo mới trong việc rút lại quyền Bảo trợ truyền giáo. Để giảm
9
cơ sở trên một cơ tầng văn hóa bản đại, bằng việc sử dụng tiếng bản xứ cả trong lễ
nghi lẫn trong việc thoát giải sự bó buộc về quyền bảo trợ”10 … hành động kịp thời,
vận động Giáo hoàng thay chân người Bồ ở Viễn Đông”. Sau khi “bị trục xuất”…
bề trên đã khôn ngoan cho rằng không nên phải đến đó nữa, vì là một phiêu lưu mạo
hiểm, làm cho chúa đó giận giữ và ghét giáo dân. Với ý nghĩ chờ cho cơn giận qua
đi, các ngài quyết định phái tôi trở về Âu châu tìm viện trợ tinh thần và vật chất.
Các ngài cho rằng tôi đủ hiểu biết tất cả nhu cầu lớn lao của đất nước mà tôi đã ở
trong bao nhiêu năm”.
Về đại thể, công việc của de Phodes sau khi rời khỏi Đại Việt đã diễn ra như
sau: - Xin Giáo hoàng cử giám mục sang Đại Việt; - Vận động cho hoạt động truyền
giáo ở đây; - Tăng nhân sự truyền giảng… diễn ra từ năm 1650-1652.
Tháng 7-1652, Bộ Truyền giáo và Giáo hoàng chỉ thống nhất được một việc
là cử một linh mục đi điều tra, Giáo hoàng đồng ý cử một linh mục Triều (không
phải linh mục Dòng) điều tra lại chỗ trước khi tính đến những khả năng thực tế của
de Rhodes. Nếu như thông tin sau đây là chính xác, có 2 sự kiện rất đáng kể: Thứ
nhất, ngay từ đầu Giáo hoàng chỉ có thể cử 1 hoặc 2 giám mục đến Đại Việt (theo
phiên họp ngày 5-3-1653); Thứ hai, Giáo hoàng Innocent X đã có lần ngỏ ý de
10
Cũng trong tác phẩm này, J.L.Pichon đã cho biết về “di thư” 4 điểm của A.de Rhodes.
SVTH: Phạm Thị Hiền – K34A CN Lịch sử
Kho¸
luËn
tèt
những thông tin về các trọng vụ đó đều được ghi vụ thể: (1) lý do sứ mệnh, (2)
11
Tác giả đưa ra các nguyên nhân tại sao Đắc Lộ từ chối, trong đó tác giả có cho rằng sẽ gây mâu thuẫn thêm
giữa Bồ Đào Nha và Pháp, và do sợ “tuổi cao, sức yếu” nếu có trở lại Đại Việt. Điều này được viện dẫn trong
Hành trình và truyền giáo(t.263) “tôi cũng cảm thấy mình già tuổi yếu, gần đất xa trời rồi”(lúc này de
Rhodes 59 tuổi).
SVTH: Phạm Thị Hiền – K34A CN Lịch sử
Kho¸
luËn
tèt
nghiÖp
19
Người cử đi, (3) ngày tháng năm đi và đến). Nếu như (3) có được nhắc đến sau khi
từ biệt Giáo hoàng rời Roma ngày 11-9-1652, thì những thông tin (1),(2) không thể
tìm thấy trong hồi ký của mình. Bénigne Vachet (1641-1720), từng có thời gian ở
Đàng Trong với Lambert de la Motte, cho rằng người phái de Rhodes sang Pháp với
chỉ thị giới thiệu ứng viên Giám mục, trong 3 chỉ thị có chỉ thị thứ 3 là Đừng giới
thiệu người Pháp . Mặt khác, căn cứ vào tư liệu do H.Chappoulie cung cấp, tác giả
Đỗ Quang Chính cho rằng de Rhodes sang Pháp do Bộ Truyền giáo cử đi và hiểu
ngầm là Bề trên Cả Dòng Tên cũng không đồng ý.
Sau khi tiến cử những ứng viên Giám mục này lên Thánh Bộ, các Hồng y đã
luËn
tèt
nghiÖp
20
người Pháp giữ trọng trách này, còn vua Bồ Đào Nha thì cực lực phản đối, lại còn
dọa, nếu Tòa thành cử người Pháp vào sứ vụ này, đế quốc rộng lớn Bồ Đào Nha sẽ
không vâng phục Tòa thánh nữa. Sợ! Đức Thánh cha liền yêu cầu Cha Bề trên cả
Dòng Tên Goswinus Nickel chuyển de Rhodes đi khỏi Pháp”. Cuối năm 1654, Giáo
hoàng Innocent XI qua đời. Tháng 4-1655 Tân Giáo hoàng chính thức nhậm chức,
lấy danh hiệu là Alexandre VII (được bầu làm Giáo hoàng ngày 7-4, lúc đó là 56
tuổi, mất ngày 22-5-1667). Ngay sau đó, Bộ truyền giáo thông báo sẵn sàng cử các
Giám mục sang Viễn Đông, quỹ tài trợ phải được đặt ở Roma hay Avingon. Để
nhanh chóng xúc tiến công việc và hiệu quả, Vincent de Meur “tông đồ” (16281668) đề nghị phải sang tận Roma vận động. Tháng 5-1656, phái đoàn gồm 5
người, đứng đầu là linh mục Vincent de Meur, có mới theo F.Pallu đi cùng sang
Roma. Tuy nhiên trước đó, ngày 13-4-1655, Hội nghị giáo sĩ Pháp đã đồng ý với đề
nghị của Thánh Bộ về tài trợ và địa điểm đặt quỹ. Giữa tháng 5-1656, Hội nghị đệ
đơn lên Giáo hoàng xin cắt cử giám mục. Phái đoàn của Vincent de Meur đến Roma
cuối tháng 5-1657. Đến giữa tháng 7-1657 phái đoàn mời được bệ kiến Đức Giáo
hoàng. Văn bản trình lên Giáo hoàng gồm 3 nội dung chính như nỗ lực của cha de
Rhodes ở Đông Ấn và Pháp, về kinh phí và trụ sở tài trợ, về lộ trình chuyến đi.
Ngày 13-5-1658, Bộ truyền giáo của giám mục là F.Pallu và Lambert de la Motte
lên Đức giáo hoàng. Cuối tháng 7-1658, Đức Giáo hoàng chính thức bổ nhiệm
(đoản sắc Apostolatus officium) cha F.Pallu làm Giám mục hiệu tòa Héliopolis ,
Lambert de la Motte là Giám mục hiệu tòa Béryte, cả hai đều là giám mục trong
phần đất dân ngoại. Giám mục Héliopolis coi sóc giáo phận Đànq