1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
-----------------------
LÊ THỊ THANH KHUYÊN
TÍCH HỢP GIÁO DỤC GIỚI TÍNH TRONG
DẠY HỌC SINH HỌC BẬC THPT
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Vinh, năm 2012
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LÊ THỊ THANH KHUYÊN
TÍCH HỢP GIÁO DỤC GIỚI TÍNH TRONG
DẠYHỌC SINH HỌC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học Sinh học
Mã số: 60.14.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN....................................................
...3
DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ HÌNH................................................................
...4
MỞ ĐẦU.............................................................................................................
...6
1. Lý do chọn đề tài.............................................................................................
...6
2. Mục đích nghiên cứu.......................................................................................
...7
3. Nhiệm vụ nghiên cứu......................................................................................
...7
4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu.................................................................
...7
5. Giả thiết khoa học............................................................................................
...7
6. Phương pháp nghiên cứu.................................................................................
...8
7. Những đóng góp mới của đề tài......................................................................
.11
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU..................................................................................
.12
Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc vận dụng tích hợp giáo dục giới
tính trong dạy học sinh học ở trường THPT........................................................
.12
1.1. Cơ sở lý luận.................................................................................................
.12
5
3.2. Nhiệm vụ thực nghiệm...................................................................................88
6
3.3. Nội dung thực nghiệm.......................................................................................88
3.4. Phương pháp thực nghiệm................................................................................88
3.4.1. Chọn đối tượng thực nghiệm..........................................................................88
3.4.2. Bố trí thực nghiệm.........................................................................................89
3.4.3. Tiến hành kiểm tra..........................................................................................89
3.5. Xử lí số liệu......................................................................................................89
3.6. Kết quả thực nghiệm..........................................................................................90
3.6.1. Phân tích định lượng......................................................................................90
3.6.2. Phân tích định tính..........................................................................................98
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ..................................................................................99
1. Kết luận................................................................................................................99
2. Kiến nghị...............................................................................................................99
TÀI LIỆU THAM KHẢO......................................................................................101
CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Nội dung
Từ viết tắt
Đối chứng
ĐC
7
Bảng 3.1: Kết quả một lần kiểm tra thực nghiệm ở HS lớp 10
Bảng 3.2: Tần suất fi ( %) số học sinh lớp 10 đạt điểm Xi
Bảng 3.3 : Tần số hội tụ tiến ( f↑ ) số HS lớp 10 đạt điểm Xi trở lên
8
Bảng 3.4: Bảng so sánh các tham số đặc trưng giữa lớp TN và lớp ĐC
Bảng 3.5: Kết quả hai lần kiểm tra thực nghiệm ở HS lớp 11
Bảng 3.6: Kết quả bài kiểm tra lần 1 của HS lớp 11
Bảng 3.7: Tần suất (%) số HS lớp 11 đạt điểm Xi trong bài kiểm tra 1
Bảng 3.8: Tần số hội tụ tiến ( f↑ ) số HS lớp 11 đạt điểm X i trở lên trong bài kiểm
tra 1
Bảng 3.9: Bảng so sánh các tham số đặc trưng giữa lớp TN và lớp ĐC (lớp 11) trong
bài kiểm tra 1
Bảng 3.10: Kết quả bài kiểm tra lần 2 của HS lớp 11
Bảng 3.11: Tần suất (%) số HS lớp 11 đạt điểm Xi trong bài kiểm tra 2
Bảng 3.12: Tần số hội tụ tiến ( f↑ )số HS lớp 11 đạt điểm X i trở lên trong bài kiểm
tra 2
Bảng 3.13: Bảng so sánh các tham số đặc trưng giữa lớp TN và lớp ĐC (lớp 11) trong
bài kiểm tra 2
Bảng 3.14: Bảng so sánh các tham số đặc trưng qua 3 bài kiểm tra
Bảng 3.15: Tỉ lệ xếp loại HS qua 3 lần kiểm tra
Hình 2.1: Quá trình hình thành trứng, tinh trùng
Hình 2.2: Sự phát triển của nang trứng
Hình 2.3: Hình ảnh nang trứng cấp 1
Hình 2.4: Cấu trúc của virut HIV
Hình 2.5: Virut HIV tấn công và phá huỷ tế bào limphô T
Hình 2.6: Virut Herpes
Hình 2.7: Virut viêm gan siêu vi B
Hình 3.1: Biểu đồ biểu diễn tần suất ( fi ) bài kiểm tra của HS lớp 10
Hình 3.2: Đường biểu diễn tần suất hội tụ tiến ( f↑ ) bài kiểm tra của HS lớp 10
Hình 3.3: Đường biểu diễn tần suất hội tụ tiến ( f↑ ) bài kiểm tra lần 1
Hình 3.4: Đường biểu diễn tần suất hội tụ tiến ( f↑ ) bài kiểm tra lần 2
Hình 3.5: Biểu đồ phân loại HS qua các bài kiểm tra
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
10
Việt Nam đang trong giai đoạn phát triển và hội nhập. Sự phát triển của
thông tin đại chúng, nhu cầu giao lưu, học hỏi của giới trẻ đặt ra thử thách mới cho
giáo dục là phải đổi mới về nội dung và hình thức. Nội dung giáo dục kỹ năng sống
đã được nhiều quốc gia trên thế giới đưa vào dạy học cho học sinh ở trường phổ
thông dưới nhiều hình thức khác nhau. Ở Việt Nam, giáo dục kỹ năng sống đang
được tiếp cận thông qua các khoá tập huấn cho giáo viên các trường phổ thông. Một
trong những nội dung quan trọng của giáo dục kỹ năng sống đó là giáo dục giới
tính, giáo dục sức khoẻ vị thành niên, tình dục an toàn, đựoc gọi tắt là giáo dục giới
tính.
Quỹ dân số Liên hiệp quốc đánh giá thanh thiếu niên Việt Nam đang thiếu sự
giáo dục cơ bản về sức khoẻ sinh sản nhưng lại đang được tăng cường những trải
nghiệm thực tế tình dục. Theo số liệu công bố của Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày 27
tháng 11 năm 2008, ở Việt Nam có khoảng 23,8 triệu người ở độ tuổi vị thành niên
và thành niên. Trong đó có 7,6% số người có quan hệ tình dục trước hôn nhân. Việt
Nam vẫn đang là nước có tỷ lệ nạo phá thai cao nhất thế giới. Tính trung bình mỗi
năm có khoảng 300 nghìn ca nạo phá thai ở độ tuổi 15 đến 19.
Hiện nay vấn đề giới tính và tình dục đã được nhìn nhận cởi mở và thẳng
thắn hơn, nhưng tâm lí e ngại vẫn còn. Giới trẻ được tiếp cận thông tin chưa đầy đủ
dụng tích hợp kiến thức giáo dục giới tính
- Thiết kế một số giáo án mẫu có vận dụng tích hợp giáo dục giới tính.
- Thực nghiệm giảng dạy các giáo án mẫu để kiểm nghiệm hiệu quả của việc
tích hợp giáo dục giới tính trong dạy học sinh học.
4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Chương trình sinh học THPT
- Khách thể nghiên cứu: Giáo viên dạy sinh học và học sinh một số trường
THPT trên địa bàn tỉnh Nghệ An.
5. Giả thuyết khoa học
Nếu vận dụng tích hợp giáo dục giới tính một cách hợp lí thì sẽ giúp nâng
cao nhận thức của học sinh về sức khoẻ sinh sản vị thành niên và tình dục an toàn
mà không ảnh hưởng đến nội dung, thời gian của môn học.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Nghiên cứu tổng quan các tài liệu về chủ trương, đường lối của Đảng và nhà
nước trong công tác giáo dục và đổi mới phương pháp dạy học.
Nghiên cứu các tài liệu : Lý luận dạy học sinh học, tài liệu bồi dưỡng chuyên
môn và các tài liệu có liên quan đến đề tài làm cơ sở lý luận cho đề tài.
Nghiên cứu tài liệu lý luận về dạy học tích hợp và việc vận dung tích hợp
GDMT trong dạy học sinh học THPT.
6.2. Phương pháp chuyên gia
Gặp gỡ, trao đổi với những nhà sư phạm, các chuyên gia về lĩnh vực mình
đang nghiên cứu, lắng nghe sự tư vấn của các chuyên gia để định hướng cho việc
triển khai đề tài.
6.3. Phương pháp điều tra cơ bản
Điều tra về thực trạng, phân tích nguyên nhân hạn chế của việc tích hợp
GDGT trong dạy học sinh học THPT và thực trạng hiểu biết của học sinh THPT về
kiến thức GDGT.
6.4. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
6.4.1.Thực nghiệm thăm dò
kê, được tính theo công thức sau:
1 10
x = ∑ ni xi
n i =1
- Sai số trung bình cộng: m =
s
n
- Phương sai:
s
2
=
1 10
∑ ( xi
n 1
2
− x) .n
i
- Độ lệch tiêu chuẩn: Biểu thị mức độ phân tán của các số liệu quanh giá trị
trung bình cộng.
X
ĐC
TN
ĐC
= X của lớp TN
= X của lớp ĐC
- Độ tin cậy (Tđ): Kiểm định độ tin cậy về sự chênh lệch của 2 giá trị trung
bình cộng của TN và ĐC bằng đại lượng kiểm định td theo công thức:
t
d
=
x
s
n
TN
2
TN
TN
− x DC
- Bổ sung lý luận tích hợp kiến thức giáo dục giới tính, giáo dục sức khỏe
sinh sản vị thành niên, tình dục an toàn trong dạy học môn sinh học ở trường THPT
- Xây dựng tư liệu, bộ giáo án sử dụng tích hợp kiến thức giáo dục giới tính,
giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên, tình dục an toàn trong dạy học môn sinh
học ở trường THPT
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC VẬN DỤNG
TÍCH HỢP GIÁO DỤC GIỚI TÍNH TRONG DẠY HỌC SINH HỌC
Ở TRƯỜNG THPT
15
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Lý thuyết về vận dụng tích hợp giáo dục giới tính trong giáo dục
a. Tâm sinh lí học sinh THPT.
Trong tâm lý học lứa tuổi người ta định nghĩa tuổi thanh niên là giai đoạn
phát triển từ lúc dậy thì và kết thúc khi bước vào tuổi người lớn. Theo định nghĩa
này thì tuổi thanh niên là thời kì từ 14, 15 đến 25 tuổi. Còn từ 14, 15 tuổi đến 17, 18
tuổi là giai đoạn đầu thanh niên (lứa tuổi học sinh THPT).
* Sự phát triển thể chất:
Tuổi đầu thanh niên là tuổi đạt được sự trưởng thành về mặt cơ thể. Sự khác
biệt về cơ thể giữa thanh niên mới lớn với người lớn không đáng kể. Nhưng sự phát
triển thể lực của các em còn kém so với người lớn. Từ 14, 15 - 17, 18 tuổi là giai
đoạn phát triển thể chất của con người vào giai đoạn hoàn chỉnh được thể hiện ở
chỗ sự gia tăng chiều cao giảm dần, con gái khoảng 16, 17 tuổi, con trai khoảng 17,
18 tuổi (+ 13 tháng). Điều này giúp hình thành một cơ thể cân đối, đẹp khỏe của
người thanh niên.
Học sinh đầu tuổi thanh niên cũng bắt đầu bộc lộ những tình cảm đạo đức
như khâm phục kính trọng những con người dũng cảm, kiên cường coi trọng những
giá trị đạo đức cũng như lương tâm.
Một loại tình cảm rất đặc trưng ở lứa tuổi này là tình yêu trai gái. Dễ quan
sát thấy những biểu hiện ở sự phải lòng, thậm chí có sự xuất hiện của những mối
tình đầu đầy lãng mạn. Những biểu hiện của loại tình cảm này rất phức tạp, không
đồng đều. Theo những nghiên cứu về giới tính người ta thấy rằng những em gái bộc
lộ sớm hơn các em trai, ít lúng túng hơn và cũng ít xung đột hơn. Sự không đều còn
thể hiện ở chỗ trong khi một số em bộc lộ mạnh mẽ với người khác giới thì nhiều
em khác vẫn tỏ ra thờ ơ, không quan tâm. Điều này phụ thuộc vào yếu tố phát dục
trưởng thành mà phụ thuộc vào kế hoạch đời người của cá nhân người trẻ tuổi, phụ
thuộc vào điều kiện giáo dục của gia đình, nhà trường và xã hội.
Một điều rất rõ mà khoa học là thực tiễn cuộc sống đã khẳng định là ở độ
tuổi này sự chín muồi về sinh lý, tình dục đã đi trước một bước, còn sự trưởng
thành về tâm lý xã hội, kinh nghiệm sống chậm hơn nhiều. Bởi vậy những điều kiện
cần và đủ cho cuộc sống tình yêu trai gái ở độ tuổi này chưa được hội tụ. [7]
b. Vấn đề giáo dục giới tính trong trường học
Nhân cách của mỗi con người được hình thành và ngày càng hoàn thiện
thông qua quá trình giáo dục. Giáo dục là nền tảng góp phần truyền thụ, phổ biến tri
thức, phổ biến văn hoá của xã hội loài người từ thế hệ này sang thế hệ khác. Sự giáo
dục của mỗi cá nhân bắt đầu từ khi mới sinh ra và tiếp tục trong suốt cuộc đời. Quá
trình giáo dục được thực hiện trong ba môi trường: Trong gia đình, trong nhà
trường và trong xã hội.
Giáo dục trong nhà trường được xem là môi trường quan trọng nhất trong
việc hình thành nhân cách. Người thầy vừa đóng vai trò là người truyền thụ tri thức
cho học sinh, vừa hướng tâm hồn các em tới cái đẹp, cái thiện của cuộc sống. Nội
dung giáo dục được biên soạn trong các cuốn sách được phân loại theo các môn
học, phù hợp với lứa tuổi, và nội dung giáo dục luôn được bổ sung, chỉnh sửa để
phù hợp với xu thế phát triển của thời đại.
Xã hội đang đối diện với nhiều vấn nạn liên quan đến giáo dục giới tính, sức
Trường học dựa trên các chương trình giáo dục đặc trưng, có ưu thế trong
việc cung cấp thông tin và cơ hội để phát triển các kỹ năng và chọn lọc thái độ rõ
rệt theo phong cách trang trọng hơn thông qua các bài học trong chương trình giảng
dạy ở các cấp học. [16]
Vậy giáo dục giới tính là giáo dục về những gì?
* Giới tính là những đặc điểm, tính chất riêng biệt để tạo nên sự khác biệt
giữa giống đực và giống cái của các loài sinh vật, trong đó có loài người.
* Giáo dục giới tính con người là giáo dục về những đặc điểm, tính chất
riêng biệt giữa phái nam và phái nữ, cho biết về những thay đổi trong cơ thể và tâm
lý của mỗi giới.
* Giáo dục giới tính là giúp trẻ hiểu biết về cơ thể và sự phát triển của cơ thể
mỗi giới, hiểu về sinh lý của bản thân, để chúng biết làm chủ bản thân mình.
18
* Giáo dục giới tính là giúp trẻ hiểu được chức năng của các bộ phận sinh
dục, để hiểu rõ được cách làm việc của chúng và tránh được những căn bệnh bên
trong vùng “kín”.
* Giáo dục giới tính giúp trẻ hiểu được các vấn đề trong quan hệ tình dục,
những bệnh thường lây truyền khi quan hệ tình dục, vai trò của hai giới trong quan
hệ tình dục cũng như ngoài xã hội.
* Giáo dục giới tính giúp trẻ hiểu được quá trình thụ thai và cách ngừa thai,
biết tự kiềm chế nhu cầu sinh lý của bản thân, biết cách đối xử với người khác phái,
biết kiểm soát sự sinh sản và biết phòng ngừa bệnh tật. [21]
Ở cấp tiểu học (Từ lớp 1 đến lớp 4), giáo dục giới tính trong thời kì này phải
thoả mãn sự tò mò rất tự nhiên và chính đáng của các em, bài học có thể bắt đầu từ
một sự kiện, một câu chuyện thực tế nào đó mà trẻ em đã chứng kiến. Bài giảng
được tiến hành như một buổi chuyện trò, trao đổi giữa thầy giáo và học sinh. Trong
giai đoạn này có thể dạy trẻ các nội dung về giới tính như:
- Tình bạn và tình yêu.
- Sự lựa chọn người yêu và chuẩn bị cho cuộc sống vợ chồng.
- Tính di truyền của một số bệnh.
- Quyền lợi và nghĩa vụ của gia đình, hứa hôn, kết hôn, li hôn, sinh con ngoài
giá thú.
- Các hình thức tình dục dị biệt và vi phạm pháp luật: Tình dục đồng giới,
hiếp dâm, bạo dâm, bệnh cưỡng dâm trẻ em.
- Nạo phá thai và các rủi ro, bệnh vô sinh.
- Đa dâm và mại dâm, tác hại đối với cộng đồng?
- Các bệnh tình dục.
- Bệnh liệt dương, lãnh cảm của đàn ông và phụ nữ.
- Tình yêu, tình dục trong văn học, điện ảnh.
Mục đích của toàn bộ chương trình giáo dục giới tính từ tuổi ấu thơ tới tuổi
trưởng thành không chỉ là trang bị kiến thức, xây dựng ý thức tình dục lành mạnh
mà điều quan trọng là xây dựng những quan niệm đúng đắn về vai trò, trách nhiệm
của người đàn ông và phụ nữ trong cuộc sống vợ chồng, trong gia đình và trong xã
hội. [20]
c. Tích hợp giáo dục giới tính trong trường học
Hiện nay, trên thế giới mỗi ngày có khoảng 2000 cuốn sách được xuất bản,
thông tin ấy đủ nói lên rằng không thể học tập và giảng dạy như cũ theo chương
trình sách giáo khoa gồm quá nhiều môn học riêng rẽ, biệt lập với nhau. Mặt khác,
sự phát triển của khoa học trên thế giới ngày càng nhanh, nhiều vấn đề mới cần phải
đưa vào nhà trường như: Bảo vệ môi trường, giáo dục giới tính, giáo dục pháp luật,
phòng chống ma tuý, giáo dục sức khoẻ, an toàn giao thông...nhưng quỹ thời gian
có hạn, không thể tăng số môn học lên được. Việc tích hợp những nội dung này với
một số môn học là giải pháp có thể thực hiện được nhiệm vụ giáo dục nhiều mặt
cho học sinh mà không làm cho chương trình quá tải.
Vậy quan điểm giáo dục tích hợp được hiểu như thế nào?
Tích hợp là một khái niệm rộng, không chỉ dùng trong lĩnh vực lí luận dạy
học, khái niệm tích hợp được sử dụng trong rất nhiều lĩnh vực. Theo từ điển tiếng
kiến thức trong thực tế cuộc sống không chỉ bó hẹp ở khái niệm những môn học
riêng rẽ, mà có sự liên hệ, ràng buộc và bổ trợ lẫn nhau. Như vậy dạy học tích hợp
giúp học sinh tri thức xác thực và toàn diện, phát triển tư duy tổng hợp và hệ thống,
nâng cao năng lực hành động thực tiễn của người học. Nhiều nhà nghiên cứu có
quan điểm cho rằng dạy học tích hợp là giải pháp quan trọng để năng cao chất
lượng và hiệu quả giáo dục, đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực cho thế kỷ 21.
Trong dạy học, tích hợp được hiểu là sự kết hợp, tổ hợp các nội dung từ các
môn học, lĩnh vực học tập khác nhau thành một “môn học” mới hoặc lồng ghép các
nội dung cần thiết vào những nội dung vốn có của môn học, ví dụ lồng ghép nội
dung giáo dục giới tính, giáo dục dân số, giáo dục môi trường, giáo dục an toàn giao
thông, giáo dục sức khoẻ...trong các môn học Đạo đức, Tự nhiên xã hội, Khoa học,
Tiếng việt (ở cấp tiểu học), môn Sinh học, Giáo dục công dân, Địa lí... (ở cấp trung
học và phổ thông).
21
Tuỳ theo quan điểm mà có những phương thức khác nhau trong việc thực
hiện tích hợp các môn học. Theo D’Hainaut, có thể chấp nhận bốn quan điểm tích
hợp khác nhau :
- Quan điểm “trong nội bộ môn học”: Trong đó ưu tiên các nội dung khái
quát cốt lõi của môn học. Quan điểm này nhằm duy trì các môn học riêng.
- Quan điểm “đa môn”: Đề nghị những tình huống, những “đề tài” có thể
được nghiên cứu theo những quan điểm khác nhau. Ví dụ, giáo dục về vấn đề bình
đẳng giới có thể được thực hiện thông qua nhiều môn học khác nhau (Sinh học,
Giáo dục công dân) v.v ... Theo quan điểm này, giáo dục về vấn đề bình đẳng giới
được tiếp cận một cách riêng rẽ và chỉ gặp nhau ở một số thời điểm trong quá trình
nghiên cứu các đề tài. Nó không thực sự được tích hợp.
- Quan điểm “liên môn”: Đề xuất những tình huống chỉ có thể được tiếp cận
một cách hợp lí qua sự soi sáng của nhiều môn học. Ví dụ, câu hỏi “Các con đường
với môi trường, đặc biệt môi trường nhiệt đới có gió mùa, có tác dụng tích cực
trong việc giáo dục thế giới quan, nhân sinh quan, nhằm nâng cao chất lượng cuộc
sống. Kiến thức sinh học chiếm một tỉ trọng lớn trong môn Tự nhiên và Xã hội,
Khoa học ở tiểu học và trở thành một môn học chính thức từ lớp 6 đến lớp 12.
Các kiến thức trong chương trình Trung học cơ sở đề cập tới các đối tượng
cụ thể (vi sinh vật, nấm, thực vật, động vật và con người), trong đó chủ yếu trình
bày các kiến thức về cấu tạo và chức năng của các cơ quan, hệ cơ quan trong cơ thể.
Riêng lớp 9 đề cập tới các mối quan hệ di truyền và biến dị, sinh vật và môi trường.
Các kiến thức sinh học trong chương trình Trung học phổ thông được trình
bày theo các cấp tổ chức sống, từ các hệ nhỏ đến các hệ lớn: Tế bào → cơ thể →
quần thể - loài → quần xã → hệ sinh thái – sinh quyển, cuối cùng tổng kết những
đặc điểm chung của các tổ chức sống theo quan điểm tiến hoá – sinh thái. Các kiến
thức được trình bày trong chương trình Trung học phổ thông là những kiến thức
sinh học đại cương, chỉ ra những nguyên tắc tổ chức, những quy luật vận động
chung cho thế giới sinh vật. Quan điểm này được thể hiện theo các ngành nhỏ trong
Sinh học: Tế bào học, Vi sinh vật học, Di truyền học, Tiến hoá, Sinh thái học, Sinh
lý học thực vật, Sinh lý học người - động vật.
Chương trình được thiết kế theo mạch kiến thức và theo kiểu đồng tâm, mở
rộng qua các cấp học, chương trình Trung học phổ thông dựa trên chương trình
Trung học cơ sở nhưng kiến thức bắt đầu được nâng cao dần về chiều sâu và bề
rộng.
Chương trình phản ánh sắc thái của môn khoa học thực nghiệm nên thời
lượng của chương trình luôn có một quỹ thời gian cho các buổi thực hành, các buổi
thảo luận – sinh hoạt chuyên đề, các buổi ngoại khoá (hoạt động ngoài giờ lên lớp).
Tuỳ điều kiện của từng trường Trung học cơ sở, Trung học phổ thông mà các hoạt
động đó được thực hiện ở các mức độ khác nhau.
Với đặc thù của bộ môn như vậy hoàn toàn cho phép chúng ta tích hợp được
các nội dung có liên quan đến bộ môn như: Lồng ghép kiến thức giáo dục môi
trường trong phần Sinh thái học, Vi sinh vật học; lồng ghép kiến thức giáo dục sức
khoẻ, giáo dục giới tính, giáo dục dân số, phòng chống ma tuý và HIV/AIDS...trong
kiểm tra bài cũ, kiểm tra 15’, kiểm tra 45’...)
- Tích hợp giáo dục giới tính trong một bài đọc thêm hay một mục thông tin
ngắn sau bài học (mục “Em có biết”). Tuy nhiên những phần nội dung này không
nằm trong chương trình dạy học nên một số học sinh dễ bỏ qua. Vì vậy để thu hút
được sự chú ý của các em, những nội dung này cần ngắn gọn, xúc tích, dễ hiểu, dễ
nhớ, có thể kèm theo những hình ảnh minh hoạ sinh động. Người giáo viên cũng
cần nhắc nhở các em về nhà đọc các thông tin hữu ích này.
- Tích hợp giáo dục giới tính trong một buổi ngoại khoá, một buổi sinh hoạt
chuyên đề. Việc giảng dạy về nội dung giáo dục giới tính đòi hỏi người giảng dạy
phải nắm rõ thực tiễn và các kiến thức giới tính chính xác, hình ảnh hay ví dụ minh
họa rõ ràng gần gũi với đối tượng cần giảng dạy vì thế việc tổ chức một tiết dạy đòi
hỏi có sự chuẩn bị trước. Giáo viên có thể dần dần từ một buổi truyền đạt kiến thức,
thông tin về giới tính rồi sau đó cho các em tạo nhóm, tìm hiểu một số tình huống
trong đời sống và tạo dựng các vở kịch trình diễn ở những tiết sau, cho các nhóm
24
khác đặt các câu hỏi tình huống để nhóm trình diễn trả lời, kết thúc các tiết mục thì
giáo viên sẽ nhận xét và tư vấn những thiếu sót cho các em rút kinh nghiệm.
Giáo dục giới tính là vấn đề nhạy cảm, đòi hỏi sự khéo léo của người giáo
viên. Một số yêu cầu cần đạt được trong dạy học là:
- Nội dung kiến thức khoa học chính xác, phù hợp với lứa tuổi, không né
tránh gây những hiểu biết sai lầm của học sinh.
- Phương pháp dạy học đa dạng, sinh động, lôi cuốn.
- Không làm thay đổi tính đặc trưng môn học, không biến bài học của bộ
môn thành bài giáo dục kiến thức về giới tính.
- Khai thác nội dung giáo dục giới tính có chọn lọc, có tính tập trung vào
những chương, mục nhất định.
- Khuyến khích việc tự tìm hiểu, nghiên cứu của học sinh.
hợp là một trong những quan điểm giáo dục nhằm nâng cao năng lực của người học,
giúp đào tạo những người có đầy đủ phẩm chất và năng lực để giải quyết các vấn đề
của cuộc sống hiện đại. Nhiều nước trong khu vực Châu Á và trên thế giới đã thực
hiện quan điểm tích hợp giáo dục giới tính toàn diện trong hoạt động giáo dục và
trong dạy học, bước đầu đã đạt được những hiệu quả nhất định.
Trong bất kỳ một vấn đề nào liên quan đến giáo dục ngoài nhà trường thì vai
trò của gia đình cũng hết sức quan trọng. Ở các nước phương Tây, việc nói chuyện
xung quanh những chủ đề về giới tính, về “XXX” không có gì phải “lăn tăn”. Các
em học sinh không hề thấy ngại ngần khi chia sẻ với bố mẹ. Không giống như văn
hoá phương Tây cởi mở và phóng khoáng, văn hoá phương Đông có xu hướng khép
kín hơn nhất là vấn đề giới tính và tình dục. Có lẽ bởi vậy mà vấn đề này không
phải là câu chuyện dễ chia sẻ giữa cha mẹ và con cái. Giáo dục giới tính trong gia
đình chỉ hạn chế trong những lời răn dạy về đạo đức và chỉ dừng lại ở góc độ dạy vệ
sinh thân thể ở tuổi dậy thì. Còn lại giáo dục tình dục hầu như chưa bao giờ được
đặt ra. [21]
Trên thế giới, các quốc gia như Hà Lan, nơi mà nhiều gia đình coi giáo dục
giới tính như là một trách nhiệm quan trọng - họ nói chuyện cởi mở với con cái về
giới tính, tình dục, điều này góp phần cải thiện sức khỏe tình dục cho thanh thiếu
niên. [12]
Tại Mỹ, 88% cha mẹ của học sinh Trung học tin rằng: Giáo dục giới tính
trong trường học sẽ giúp họ nói chuyện dễ dàng hơn đối với con cái ở tuổi dậy thì
về giới tính, tình dục và tính dục. Có 94% số người được cung cấp kiến thức giới
tính khi còn học Phổ thông, trong đó 84% là bậc Trung học. Đó là kết quả nghiiên
cứu của Hội đồng Giáo dục giới tính và Sức khoẻ sinh sản của Mỹ (SIECUS). Cũng
trong nghiên cứu này thì có tới 92% số học sinh muốn được trao đổi với cha mẹ về
giới tính, tình dục để có sự hiểu biết toàn diện hơn so với những gì các em đã được
học tại trường lớp. [23]
Theo ông Sani B. Hermawan, nhà tâm lý học Indonesia, cho biết cha mẹ cần
trang bị cho mình những kiến thức về giới tính và nên trở thành người thông minh
hơn khi đưa ra những câu trả lời cho trẻ. Bởi vì các câu hỏi của trẻ em ngày nay