Quản lý nhà nước về kinh tế của chính quyền xã - Pdf 31

PHẦN I: LỜI NÓI ĐẦU
Thực tiễn những năm đổi mới kinh tế ở nước ta cho thấy, việc chuyển sang
phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cớ chế thị trường có sự
quản lý của nhà nước là một chủ trương vô cùng đúng đắn, nhờ đó mà khai thác được
tiềm năng kinh tế trong nước, đi đôi với thu hút vốn, kỹ thuật công nghệ nước ngoài,
giải phóng và phát triển lực lượng sản xuất xã hội, góp phần quyết định bảo đảm tăng
trưởng của nền kinh tế, cải thiện, nâng cao đời sống nhân dân.
Đối với đất nước ta xây dựng và phát triển kinh tế thị trường, định hướng xã
hội chủ nghĩa trong điều kiện lực lượng sản xuất, phục vụ và nâng cao đời sống nhân
dân, đảm bảo từng bước xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, xây dựng và phát
triển kinh tế thị trường, vận dụng cơ chế thị trường, sử dụng các hình thức và phương
pháp quản lý kinh tế của kinh tế thị trường để kích thích sản xuất, khuyến khích tinh
thần năng động, sáng tạo của người lao động, giải phóng sức sản xuất, thúc đẩy Công
nghiệp hoá - Hiện đại hoá tiến lên chủ nghĩa xã hội, thực hiện mục tiêu dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ và văn minh.
Trong thời đại ngày nay kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đều
cần sự quản lý của nhà nước không để bàn tay vô hình của cơ chế thị trường chi phối,
bởi ở nước ta: Nhà nước xã hội chủ nghĩa thực sự của dân, do dân, vì dân, do Đảng
lãnh đạo bảo vệ lợi ích của nhân dân lao động. Ở nước ta nhà nước quản lý nền kinh
tế thị trường theo nguyên tắc kết hợp tính định hướng và cân đối của kế hoạch với
tính năng động và nhạy cảm của thị trường và cơ chế thị trường. Bởi vì kế hoạch và
thị trường đều là công cụ phương tiện để phát triển kinh tế, quản lý của nhà nước là
để phát huy mặt tích cực, hạn chế tiêu cực của cơ chế thị trường.
Xuất phát từ quan điểm đường lối của Đảng trong tình hình và bối cảnh trên
thế giới, khu vực và của đất nước ta những năm qua và trong những năm tới có rất
nhiều thuận lợi cũng như khó khăn thách thức của cơ chế thị trường khi đất nước ta
mở cửa hội nhập với các nền kinh tế tiên tiến và hiện đại, trong khi chúng ta mới
đang trong thời kỳ quá độ, nền kinh tế nghèo nàn lạc hậu, khoa học kỹ thuật chưa
phát triển,những yếu tố đó ít nhiều tác động ảnh hưởng đến cơ sở địa phương trong
cơ chế nền kinh tế thị trường hiện nay.
1

Từ khái niệm trên thì chủ thể quản lý là các cơ quan nhà nước có chức năng
thẩm quyền nhất định, được luật pháp qui định, điều này đòi hỏi cơ quan quản lý phải
hoạt động đúng chức năng, thẩm quyền không được vượt quá thẩm quyền, không sai

2


chức năng, nhờ đó các văn bản ban hành mới có hiệu lực pháp lý, ngược lại sẽ vô
hiệu và gây ra sự rối loạn trong quản lý.
Cũng như các lĩnh vực khác, quản lý nhà nước nói chung, quản lý vĩ mô của
nhà nước nói riêng bao gồm các hệ thống, các cơ quan quản lý của nhà nước, có chức
năng thẩm quyền nhất định được phân chia thành các khẩu, các cấp, đối tượng quản
lý là các quá trình kinh tế - xã hội với sự vận động phát triển không ngừng.
Nhà nước sử dụng các công cụ, chính sách, biện pháp để tác động điều chỉnh,
dẫn dắt định hướng các hoạt động kinh tế - xã hội nhằm đạt mục tiêu nhà nước đề ra.
Hệ thống công cụ tác động mang tính nhà nước, nghĩa là có tính pháp luật bằng
luật pháp, bằng văn bản dưới luật, bằng các chính sách có hiệu lực pháp lý nhất định.
Do đó trong quản lý nhà nước ngoài tác động giáo dục, thuyết phục, động viên, việc
bắt buộc tuân thủ luật pháp là một tất yếu.
Quản lý vĩ mô của nhà nước: Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước được chia
thành các cấp khác nhau từ Trung ương đến cơ sở (xã, phường), các cơ quan này đều
có chức năng quản lý nhà nước, song khác nhau ở thẩm quyền và phạm vi địa giới
hành chính.
ở cấp Trung ương nhà nước thực hiện quản lý vĩ mô, đó là hoạt động điều hành
của các cơ quan nhà nước Trung ương đối với các quá trình kinh tế - xã hội thuộc
phạm vi cả nước, nhằm đạt mục tiêu chung của cả nước, quản lý vĩ mô của nhà nước
có đặc điểm tác động của nhà nước vừa rộng khắp cả nước, vừa có tính tổng hợp liên
quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống như kinh tế - xã hội, tâm lý, an ninh... vừa có
tính tác động dài hạn.
Quản lý nhà nước ở cấp cơ sở một mặt không trái pháp luật và quy định của cơ

sống kinh tế - xã hội.
3- Chức năng quản lý của nhà nước trong nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa.
Chức năng quản lý nhà nước về kinh tế được quy định bởi yêu cầu khách quan
của nền kinh tế, việc thực hiện và phát huy các chức năng đó đến đâu là do bản chất
của nhà nước, do yêu cầu của nhiệm vụ chính trị, kinh tế - xã hội và do tình hình kinh
tế - xã hội của từng giai đoạn lịch sử quy định, nhận rõ chức năng quản lý nhà nước
về kinh tế là cơ sở khách quan để tổ chức hệ thống bộ máy quản lý nhà nước về kinh
tế, từ chức năng và sắp xếp bộ máy, bố trí nhân sự trước đây trong cơ chế quản lý tập
trung quan liêu bao cấp. Nhà nước nắm toàn bộ nền kinh tế và không chỉ thực hiện
toàn bộ các chức năng quản lý nhà nước về kinh tế mà còn làm cả chức năng trực tiếp
quản lý sản xuất, can thiệp sâu vào hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp nay
4


chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa rất nhiều công việc
hoạt động kinh tế do thị trường và xã hội đảm nhiệm, nhà nước chỉ tập trung thực
hiện những chức năng quản lý chủ yếu nhất mà thị trường và xã hội không làm được,
không được làm và không làm tốt. Các chức năng quản lý nhà nước về kinh tế cũng
không cố định mà có sự phát triển, tuy nhiên các chức năng cơ bản vẫn ít thay đổi
trong điều kiện cụ thể, do mục tiêu và những điều kiện kinh tế xã hội thay đổi thì vai
trò và thứ tự ưu tiên của các chức năng cũng có sự thay đổi nhất định.

Đại hội IX của đảng đã nhấn mạnh các chức năng quản lý nhà nước về kinh tế
"Nhà nước tạo môi trường pháp lý thuận lợi, bình đẳng cho các doanh nghiệp cạnh
tranh và hợp tác để phát triển, bằng chiến lược quy hoạch, kế hoạch và chính sách,
kết hợp với sử dụng lực lượng vật chất của nhà nước để định hướng phát triển kinh tế
- xã hội, khai thác hợp lý các nguồn lực của đất nước, bảo đảm cân đối vĩ mô nền
kinh tế, điều tiết thu nhập, kiểm tra, kiểm soát, thanh tra mọi hoạt động kinh doanh
theo quy định của pháp luật".

nữa nhà kinh doanh và các tổ chức kinh tế được tự chủ kinh doanh, nhưng không thể
nắm được hết tình hình và xu hướng vận động của thị trường. Do đó thường chạy
theo thị trường một cách thụ động, dễ gây ra thua lỗ thất bại và đổ vỡ , gây thiệt hại
chung cho nền kinh tế. Vì vậy, Nhà nước phải định hướng nền kinh tế phát triển theo
quỹ đạo và mục tiêu kinh tế - xã hội đã được Đảng và Nhà nước định ra. Nhà nước có
chức năng định hướng phát triển kinh tế, hoạt động hướng đích theo các mục tiêu
chung của đất nước, thông qua các công cụ như: chiến lược, quy hoạch, chính sách,
kế hoạch, thông tư và nguồn lực của Nhà nước. Điều cần chú ý là trong điều kiện
chuyển đổi sang kinh tế thị trường ở nước ta, để thực hiện chức năng định hướng,
hướng dẫn Nhà nước chủ yếu sử dụng cách thức và phương pháp tác động gián tiếp
mang tính chất mềm dẻo, uyển chuyển vừa đảm bảo tính tự chủ của các cơ sở kinh tế,
vừa đảm bảo mục tiêu chung. Cách thức tác động gián tiếp, một mặt cho phép tôn
trọng các quy luật của thị trường, mặt khác tạo ra cơ chế cho phép đối tượng quản lý
gồm các cấp dưới và các doanh nghiệp tự lựa chọn giải pháp tối ưu nhất, hiệu quả
nhất.
Ba là: chức năng tổ chức
Tổ chức là một chức năng quan trọng của quản lý Nhà nước nền kinh tế, đặc
biệt trong thời kỳ quản lý kinh tế. Trong quá trình chuyển sang kinh tế thị trường như
6


hiện nay của nước ta, Nhà nước có nhiệm vụ sắp xếp tổ chức lại các đơn vị kinh tế.
Trong đó quan trọng nhất và cấp thiết nhất là sắp xếp củng cố lại các doanh nghiệp
Nhà nước, tổ chức các vùng kinh tế, các khu công nghiệp, khu chế xuất. Đây là
những công việc tạo nên cơ cấu kinh tế hợp lý. Nhà nước còn có trách nhiệm tổ chức
lại hệ thống quản lý, sắp xếp lại các cơ quan quản lý Nhà nước về kinh tế từ TW đến
cơ sở, đổi mới thể chế và thủ tục hành chính, đào tạo và đào tạo lại, sắp xếp các cán
bộ công chức quản lý Nhà nước và quản lý doanh nghiệp, thiết lập quan hệ kinh tế
với các nước và các tổ chức quốc tế.
Bốn là: Chức năng điều tiết

quyền được pháp luật quy định.
Như vậy, quản lý vĩ mô của Nhà nước tập trung vào ổn định kinh tế vĩ mô, tạo
điều kiện, môi trường cho tăng trưởng phát triển kinh tế xã hội ở phạm vi quốc gia.
Nhà nước, TW không can thiệp trực tiếp, không can thiệp sâu vào quản lý Nhà nước
cấp cơ sở và quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
5- Các chính sách và công cụ quản lý vĩ mô của nhà nước:
- Nhà nước tạo môi trường pháp lý thuận lợi kinh tế thuận lợi trong nền kinh tế
thị trường, các chủ thể kinh tế thị trường nhưng quyền chủ thể được thể chế hoá thành
pháp luật và mọi hành vi đều được theo đúng pháp luật. Do đó nhà nước ban hành hệ
thống pháp luật kinh tế đồng bộ, bảo toàn mọi hoạt động kinh tế.
- Nhà nước tạo môi trường kinh tế xã hội ổn định bằng cách xây dựng kết cấu
hạ tầng sản xuất (Mà quan trọng nhất là giao thông vận tải, thông tin liên lạc), kết cấu
hạ tầng xã hội (Trong đó quan trọng hàng đầu là giáo dục đào tạo) và các dịch vụ
công cộng khác như đảm bảo an ninh, tài chính tín dụng.
- Nhà nước soạn thảo kế hoạch quy hoạch các chương trình phát triển kinh tế
xã hội và ban hành các chính sách để hướng các chủ thể kinh tế thực hiện, các kế
hoạch quy hoạch và các chương trình bằng cách sử dụng các đòn bẩy kinh tế như ưu
đãi về thuế, về lãi xuất cho vay cho những ai đầu tư vào các ngành, những vùng mà
nhà nước cần ưu tiên phát triển.
- Nhà nước thực hiện các chính sách,biện pháp nhằm đảm bảo tăng trưởng kinh
tế đi đôi với tiến bộ công bằng xã hội, thực hiện các chính sách xã hội hướng vào
phát triển và lành mạnh hoá xã hội, thực hiện công bằng trong phân phối tạo động lực
mạnh mẽ phát triển sản xuất, tăng năng xuất lao động xã hội, thực hiện bình đẳng
trong các quan hệ xã hội, khuyến khích nhân dân làm giàu hợp pháp và đi đôi với
chương trình xoá đói giảm nghèo.

8


- Hệ thống công cụ tác động mang tính nhà nước.



quan quản lý Nhà nước về kinh tế không được "vừa là trọng tài, vừa là cầu thủ" trên
sân chơi thị trường.
6- Nhiệm vụ quản lý nhà nước về kinh tế của UBND xã.
Xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm trình HĐND cùng cấp
thông qua để trình UBND huyện phê duyệt tổ chức thực hiện kế hoạch đó.
Lập dự toán thu chi ngân sách nhà nước trên địa bàn, dự toán thu, chi ngân
sách địa phương và phương án phân bổ dự toán ngân sách cấp mình, dự toán điều
chỉnh ngân sách địa phương trong trường hợp cần thiết và lập quyết toán ngân sách
địa phương trình HĐND cùng cấp quyết định và báo cáo UBND, cơ quan tài chính
cấp trên trực tiếp.
Tổ chức thực hiện ngân sách địa phương, phối hợp với các cơ quan nhà nước
cấp trên trong việc quản lý ngân sách nhà nước trên địa bàn xã và báo cáo về ngân
sách nhà nước theo quy định của pháp luật.
Quản lý và sử dụng hợp lý, có hiệu quả quỹ đất được để lại phục vụ các nhu
cầu công ích ở địa phương, xây dựng và quản lý các công trình công cộng, đường
giao thông, trụ sở, trường học, trạm y tế, công trình điện nước theo quy định của pháp
luật.
Huy động sự đóng góp của các tổ chức, cá nhân để đầu tư xây dựng các công
trình kết cấu hạ tầng của xã trên nguyên tắc dân chủ tự nguyện, việc quản lý các
khoản đóng góp này phải công khai có kiểm tra, kiểm soát và bảo đảm sử dụng đúng
mục đích, đúng chế độ theo quy định của pháp luật.
Tổ chức việc hướng dẫn và thực hiện các chương trình kế hoạch đề án khuyến
khích phát triển và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ để phát triển sản
xuất và hướng dẫn nông dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, trong sản xuất
theo quy hoạch, kế hoạch chung và phòng trừ các bệnh dịch đối với cây trồng và vật
nuôi.
Tổ chức xây dựng các công trình thuỷ lợi nhỏ, thực hiện việc tu bổ, bảo vệ đê
điều, phòng chống và khắc phục hậu quả thiên tai, bão lụt, ngăn chặn kịp thời những

thủ công nghiệp và dịch vụ, tốc độ giá trị sản xuất tăng bình quân 10,2%/năm. Trong
đó giá trị sản xuất nông nghiệp tăng 10,1%/năm, Tiểu thủ công nghiệp và xây dựng
tăng 12,2%/năm, dịch vụ tăng 14,3%/năm.
11


Cơ cấu giá trị sản xuất chuyển dịch theo hướng tích cực, giảm tỷ trọng trong
nông nghiệp từ 72,4% xuống còn 70,2%, tiểu thủ công nghiệp 9,2% tăng lên 9,4%,
dịch vụ từ 16,2% tăng lên 20,4% trong nông nghiệp trồng trọt giảm từ 76,5% xuống
còn 62,9%, chăn nuôi từ 23,5% lên 37,1% , giá trị sản xuất bình quân đầu người tăng
từ 2,58 triệu đồng lên 4.2 triệu đồng /người/năm.
* Sản xuất nông nghiệp:
Là một xã thuần nông có trình độ thâm canh ở mức trung bình, có điều kiện địa
lý thuận lợi, mặc dù có những khó khăn thiên nhiên thời tiết, Đảng uỷ, chính quyền
cùng các cơ sở luôn coi trọng phát triển sản xuất nông nghiệp là mặt trận hàng đầu,
chuyển dần theo hướng sản xuất hàng hoá, giá trị sản xuất nông nghiệp tăng bình
quân 10,1%/năm, trong đó trồng trọt tăng bình quân 6,5%/năm, chăn nuôi tăng
19,2%/năm .
Về trồng trọt: Tuy diện tích canh tác giảm do xây dựng một số công trình của
địa phương song vẫn đảm bảo cấy hết diện tích gieo trồng là 488,65 ha, năng suất lúa
tăng 100 tạ/ha năm 2000 lên 118 tạ/ha năm 2005, lương thực bình quân đầu người
tăng từ 350 kg năm 2000 lên 420 kg năm 2005, tích cực đẩy mạnh phát triển trồng
cây ăn quả và cây có gía trị kinh tế cao.
Chăn nuôi phát triển ổn định, đàn lợn tăng từ 2961 con năm 2000 lên 5560 con
năm 2005, đàn trâu giảm, đàn bò tăng từ 129 con năm 2000 lên 449 con năm 2005,
đàn gia cầm tăng nhanh đạt từ 41553 con lên 52044 con , sản lượng cá và con đặc sản
tăng từ 50 - 55 tấn/năm đưa giá trị thu nhập từ chăn nuôi thuỷ sản tăng bình quân 5%
năm.
Công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn từng bước được đẩy mạnh các ngành
nghề và dịch vụ nông thôn phát triển mạnh mẽ đa dạng, lao động thủ công giảm đi và

* Dịch vụ: Giá trị sản xuất dịch vụ tăng bình quân 14,3% năm. Trong đó tập
trung chủ yếu vào các dịch vụ vận tải như tàu thuyền công nông, máy làm đất, say xát
và tuốt lúa .., ngoài ra địa phương còn tạo điều kiện khuyến khích cho các dịch vụ
buôn bán kinh doanh vừa và nhỏ phát triển mạnh, như các dịch vụ nông nghiệp, tiểu
thủ công nghiệp sinh hoạt đời sống, chợ nông thôn, đò bến bãi v.v, đáp ứng được nhu
cầu sản xuất và đời sống của nhân dân.
Tuy vậy các dịch vụ buôn bán kinh doanh vốn đầu tư còn thấp, hàng hoá chưa
phong phú và đa dạng do vậy chưa tạo ra được sức cạnh tranh trong thị trường cũng
như chưa đáp ứng được nhu cầu sản xuất của nhân dân.
* Giao thông thuỷ lợi:
13


+ Giao thông: Với phương châm nhà nước và nhân dân cùng làm, Đảng uỷ,
chính quyền đã phát động phong trào làm đường giao thông nông thôn bằng bê tông
hoá, trong toàn xã đã hoàn thành được 8,5 km, mở rộng và áp trúc các tuyến đường
liên thôn đảm bảo thuận tiện cho việc đi lại trong sinh hoạt và giao lưu hàng hoá.
+ Thuỷ lợi: Tu bổ kênh mương, đê điều, xây dựng kiên cố hoá kênh mương
cấp III được 3,5 km, nạo vét hàng trăm mét khối mương máng phục vụ tốt cho việc
tưới tiêu đảm bảo sản xuất.
* Về quản lý đất đai môi trường:
Quản lý đất đai theo đúng luật, sử dụng đúng mục đích, đề nghị trên cấp sổ đỏ
sử dụng đất, thực hiện tốt việc dồn ô đổi thửa, bổ sung quy hoạch sử dụng đất đai đến
năm 2010 đồng thời giải quyết xử lý vi phạm luật đất đai theo thẩm quyền.
* Về quản lý thu chi ngân sách: Hàng năm đều hoàn thành 100% chỉ tiêu
giao nộp các loại quỹ và thuế với nhà nước, tăng cường chỉ đạo khai thác các nguồn
thu, đảm bảo thu đúng, thu đủ, tổng thu ngân sách hàng năm tăng bình quân từ 10 15%/năm, công tác chi ngân sách luôn được thực hiện, tiết kiệm đúng mục đích, hàng
năm đều xây dựng dự toán cân đối ngân sách đảm bảo kịp thời cho các hoạt động của
các tổ chức trong hệ thống chính trị ở địa phương, ước tính 5 năm tổng thu Ngân sách
của xã đạt 6,111 tỷ.

nhân dân trong xã, nội bộ luôn đoàn kết thống nhất cao, nâng cao được vai trò lãnh
đạo và quản lý điều hành của chính quyền trong việc thực hiện các nhiệm vụ xây
dựng phát triển kinh tế ở địa phương.
b- Những khó khăn:
Điểm xuất phát thấp cơ sở hạ tầng còn thấp và chưa đồng bộ, diện tích canh tác
chưa đồng đều, chưa giám mạnh dạn đi sâu, chế biến tiêu thụ nông sản thực phẩm,
nên giá trị nông nghiệp thu nhập không cao, trong sản xuất tiểu thủ công nghiệp và
dịch vụ vốn đầu tư thấp, máy móc thiết bị không đáp ứng cho yêu cầu sản xuất kinh
doanh.
Trình độ năng lực điều hành còn thấp, cán bộ công chức chuyên môn còn hạn
chế chưa theo kịp với nhu cầu phát triển quản lý nhà nước về kinh tế hiện nay.
4- Thực trạng quản lý nhà nước về kinh tế của chính quyền xã Lê Ninh
trong nhưng năm vừa qua.
a- Kết quả đạt được:
+ Xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của xã.
* Về kinh tế:
- Về phát triển nông nghiệp : Đã gieo trồng các loại cây mầu là 488,65 ha,
trong đó có 10,0 ha chuyển sang nuôi trồng thuỷ sản với năng xuất đạt 120,5 tạ/ha,
15


gieo trồng tích cực chuyển đổi cây trồng quan tâm phát triển cây mầu vụ đông, tập
trung vào các loại cây hành tỏi và rau mầu khác, phát huy tốt trồng dâu nuôi tằm,
chăn nuôi bò lai, gia súc, gia cầm với quy mô lớn, cơ cấu nông nghiệp là 70,2%.
- Về tiểu thủ công nghiệp: Tiếp tục xây dựng các ngành nghề truyền thống như
ươm tơ, gạch đất nung, khai thác cát sỏi, vận chuyển với cơ cấu là 9,2%.
- Về dịch vụ: Trong đó tập trung chủ yếu các dịch vụ vận tải như tầu thuyền, xe
công nông, máy làm đất, say xát và tuốt lúa, ngoài ra khuyến khích các dịch vụ kinh
doanh khác như các hàng quán, bến đò, chợ v.v..., với cơ cấu là 14,3%.
- Về giao thông thuỷ lợi: Thực hiện kiên cố hoá các tuyến đường giao thông


182.934.000 đ

+ Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ %:

652.555.200 đ

+ Thu từ bổ xung ngân sách cấp trên:

328.895.000 đ

4.2: Dự toán chi ngân sách xã cuối năm 2008:
- Tổng chi ngân sách xã:

1.164.384.200 đ

+ Chi đầu tư XDCB:

634.251.000 đ

+ Chi thường xuyên:

530.133.200 đ

4.3: Dự toán thu và sử dụng các quỹ 6 tháng cuối năm 2008.
- Quỹ NVLĐ công ích:

76.875.000 đ

dự kiến chi:

277.700.000 đ

Dự kiến chi:

277.700.000 đ

* Sự nghiệp văn hoá

277.700.000 đ

Dự kiến chi:

277.700.000 đ

- Sự nghiệp y tế

90.000.000 đ

Dự kiến chi

90.000.000 đ

Giáo dục mầm non:

187.700.000 đ

Dự kiến chi

187.700.000 đ


506.480.000
Thu chuyển nguồn ngân sách
89.260.000

598.844.300
72.892.500
13.711.800
422.980.000
89.260.000

42
44
2
84
100

chuyển sang
Phần chi:
biểu tổng hợp
stt

chỉ tiêu

dự toán (đ)

thu (đ)

tỷ lệ đạt
%


2
3
4
II
1
2
3

chỉ tiêu

Tổng thu ngân sách
Các khoản thu xã hưởng 100%
Các khoản phân chia theo tỷ lệ %
Thu bổ sung từ ngân sách cấp huyện
Thu chuyển nguồn từ năm trước sang
Tổng chi ngân sách
Chi đầu tư
Chi thường xuyên
Chi chuyển nguồn ngân sách sang năm sau
kết dư ngân sách
Qua công tác quản lý ngân sách xã thấy.

2.066.263.310
566.639.540
46.215.770
1.333.408.000
120.000.000
2.065.878.286
1.377.079.100
599.539.186

Công tác địa chính thực hiện luật đất đai trên địa bàn xã đã dần di vào nề nếp,
việc sử dụng đất đúng mục đích đã đem lại hiệu quả kinh tế ngày càng cao.
Để làm tốt công tác quản lý khai thác sử dụng có hiệu quả không để tình trạng
nong dân bỏ đất UBND xã đã chỉ đạo quy hoạch bổ sung kế hoạch sử dụng đất đến
năm 2010, định hướng chuyển đổi sử dụng đất đúng mục đích ở những khu vực bãi
chũng, những khu vực cấy lúa đạt hiệu quả kinh tế thấp sang lập vườn đào ao, thả cá,
tạo điều kiện phát triển kinh tế hộ, đồng thời năm 2006 UBND xã cùng với đoàn đo
đạc của sở tài nguyên môi trường đo đạc lại toàn bộ diện tích lập bản đồ hiện trạng
canh tác để hoàn chỉnh hồ sơ cấp giấy CNQSD đất canh tác của hộ nông dân.
Trong các năm đặc biệt năm 2006 UBND đã kiên quyết xử lý các vi phạm luật
đất đai như xây dựng các công trình và lấn chiếm đất đai, giải quyết tốt các đơn thư
tranh chấp của công dân.

19


+ Huy động và quản lý quỹ đóng góp của nhân dân trong năm vừa qua nhân
dân đã tham gia đóng góp xây dựng trường tiểu học trên 100.000.000 đ, đều được
thực hiện theo quy chế dân chủ, thu, chi theo đúng quy định của tài chính còn ở các
thôn nhân dân đóng góp xây dựng đường giao thông thôn xóm, UBND xã đã chỉ đạo
chặt chẽ thực hiện quy chế dân chủ, đồng thời kiểm tra thu, chi đúng mục đích.
+ Xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội.
- Xây dựng đường giao thông những năm vừa qua UBND xã chỉ đạo tập trung
xây dựng đường bê tông thôn xóm bằng nguồn vốn hỗ trợ của tỉnh là 20%, xã đầu tư
10% còn lại nhân dân đóng góp bằng ngày công và tiền, đến năm 2008 đã làm được
14 Km, với tổng kinh phí gần 5 tỷ đồng.
Đến nay UBND xã tiếp tục chỉ đạo tuyên truyền vận động nhân dân ở một số
cơ sở thôn chưa hoàn thành kế hoạch tiếp tục đăng ký hoàn thành vào năm 2009.
- Xây dựng kênh mương thuỷ lợi và các phương tiện phòng chống lụt bão.
là một xã nằm cạnh thượng lưu sông Kinh Môn hàng năm bị thiên nhiên, lũ lụt

càng ơphát triển thì ô nhiễm môi trường càng lớn như chất thải chăn nuôi, rác thải
sing hoạt, phân bón thuốc trừ sâu v.v... nên việc quản lý của UBND xã đã có kế
hoạch triển khai công tác vệ sinh môi trường, quy hoạch bãi làm bãi giác thải, quy
hoạch cac khu chăn nuôi tập trung cách xa trung tâm dân cư thành các trang trại tập
trung khơi thông cống rãnh thành lập các tổ vệ sinh môi trường ở các thôn xóm có
ban chỉ đạo vệ sinh môi trường do trạm y tế làm thường trực.
+ Phát triển ngành nghề truyền thống hiện nay xã có một làng nghề ươm tơ tằm
, UBND xã luôn quan tam đến việc xây dựng thương hiệu và phát huy của làng nghề.
Đối với vấn đề vốn, môi trường UBND xã đề nghị trên quan tâm để làng nghề được
phát huy.
+ UBND xã thực hiện chế độ kiểm tra, kiểm soát ngoài việc kiểm tra giám sát
của Đảng uỷ - HĐND, UBND xã hàng năm luôn duy trì chế độ kiểm tra, kiểm soát
tới các công việc mà UBND xã tổ chức thực hiện như thực hiện kế hoạch thu chi tài
chính đôn đốc thu hồi nợ đọng hoàn thiện cho các dự toán kế hoạch năm sau, kiểm
tra sử dụng đất đai, xử lý vi phạm luật đất đai và sử dụng kế hoạch sử dụng đất, kiểm
tra tình hình phát triển nông nghiệp các dự án đầu tư cho nông nghiệp, kiểm tra việc
thực hiện cơ sở hạ tầng, kiểm tra việc công tác thuỷ lợi đe điều, tưới tiêu vệ sinh môi
trường sau kiểm tra đều có đánh giá rút kinh nghiệm và có kế hoạch chỉ đạo thực hiện
tiếp theo.
III. Phương hướng và giải pháp quản lý nhà nước về kinh tế của UBND xã Lê
Ninh trong thời gian tới.
1- Phương hướng.

21


a, Mục tiêu:
- Mục tiêu tổng quát: Tập trung khai thác mọi tiềm lực, tiềm năng thế mạnh
của địa phương, khắc phục mọi khó khăn đẩy mạnh kinh tế phát triển đa dạng, vững
chắc, tốc độ phát triển kinh tế cao, cơ cấu kinh tế phát triển theo mô hình nông

đồng đất, phấn đấu năng suất đạt 14 - 14,5 tấn/ha, mở rộng diện tích cây vụ đông từ
90 - 95%, diện tích canh tác với các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao, phù hợp với
nhu cầu thị trường, đẩy mạnh việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản
xuất, tích cực chuỷên đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi đáp ứng với nhu cầu của thị
trường.
Khuyến khích các hộ gia đình có địa hình thuận lợi đầu tư chăn nuôi đàn bò
sinh sản, định hướng phát triển quy mô trang trại, chăn nuôi gia súc gia cầm theo
phương thức công nghiệp, tận dụng ao hồ để nuôi trồng thuỷ sản, nuôi con đặc sản,
tăng cường công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật, pháp lệnh về đất đai, chăn nuôi
thú y để có phát triển sản xuất và phòng trừ dịch bệnh.
* Đẩy mạnh phát triển tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ.
+ Tiểu thủ công nghiệp: Tiếp tục duy trì và củng cố các cơ sở sản xuất đã có
khai thác mọi tiềm năng thế mạnh phát huy hiệu quả của làng nghề ươm tơ, tăng
cường mở rộng cac ngành nghề vận tải, bến bãi, khai thác cát sỏi và các ngành nghề
khác để thu hút lao động giải quyết việc làm tăng thu nhập.
Tích cực đẩy mạnh các dịch vụ vận tải như tàu, thuyền, ô tô, công nông, dịch
vụ làm đất, say xát, tuốt lúa, vật tư phục vụ sản xuất, củng cố duy trì quản lý kinh
doanh.
* Xây dựng kết cấu hạ tầng:
+ Giao thông: Tiếp tục phát động phong trào toàn dân làm đường giao thông
nông thôn bằng nguồn vốn của địa phương và đóng góp của nhân dân phấn đấu dến
năm 2010, 100% đường thôn xóm được bê tông hoá phục vụ tốt cho việc đi lại và sản
xuất, giao lưu hàng hoá.
+ Thuỷ lợi: Thường xuyên củng cố nâng cấp tốt các tuyến đê, có phương án
phòng chống lụt bão, hàng năm tổ chức củng cố nạo vét kênh mương đảm bảo phục
vụ tốt cho sản xuất.
23


* Công tác quản lý đất đai: Tăng cường quản lý đất đai theo luật, giải quyết

24


hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, cán bộ công chức nhà nước thực sự là cán bộ của
dân, làm tốt công tác quản lý kinh tế - xã hội đáp ứng và phù hợp với nền kinh tế thị
trường, định hướng xã hội chủ nghĩa để nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động,
quản lý nhà nước về kinh tế của nước ta hiện nay cần thực hiện một số giải pháp sau.
Một là: Nhận thức và xử lý tốt mối quan hệ giữa nhà nước với nhân dân, giữa
sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của nhà nước về kinh tế, giữa quản lý nhà nước và
quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Để tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, đại hội IX của Đảng đã
chỉ rõ "Thực hiện tốt quy chế dân chủ, mở rộng dân chủ trực tiếp ở cơ sở" tạo đièu
kiện để nhân dân tham gia quản lý xã hội, thảo luận và quyết định những vấn đê quan
trọng, điều đó cũng đặc biệt quan trọng đối với quản lý nhà nước ở cấp cơ sở xã,
phường.
Cần nhận thức và phân biệt rõ chức năng lãnh đạo của Đảng và chức năng
quản lý của nhà nước Đảng lãnh đạo kinh tế bằng đường lối và chính sách, còn nhà
nước thể chế hoá đường lối chính sách của Đảng thành pháp luật đảm bảo quyền làm
chủ của nhân dân, thông qua nhà nước, Đảng đưa đường lối, chính sách của Đảng
vào cuộc sống. Như vậy Đảng phải tăng cường lãnh đạo nhà nước nhưng không phải
làm thay nhà nước mà tạo điều kiện để phát huy tính chủ động và hiệu quả quản lý
điều hành của nhà nước ở cấp cơ sở, các cơ quan quản lý của nhà nước chịu sự lãnh
đạo toàn diện của đảng uỷ xã, phường.
Hai là: Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của
bộ máy quản lý nhà nước về kinh tế.
Tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản của quản lý kinh tế, nó có ý nghĩa quan
trọng đối với tổ chức và hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước về kinh tế, yêu cầu
của nguyên tắc tập trung dân chủ được thể hiện qua 2 nội dung chủ yếu sau:
- Nâng cao hiệu lực quản lý thống nhất của nhà nước Trung ương đi đôi với
phân cấp quản lý cho địa phương. Để thực hiện nguyên tắc này nhà nước Trung ương


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status