2015
ANTI DUMPING
TRƯỜNG ĐH KINH TẾ TP HCM
Khoa Thương Mại-Du lịch-Marketing
NHÓM THỰC HIỆN
Nguyễn Thị Ngọc Tuyết
Võ Thị Thảo Nguyên
Lê Phan Khắc Sanh
Nguyễn Trung Quân
Lý Thanh Toàn
Trần Ly Ly
Mai Quỳnh Hoa
Lê Thanh Ngọc Hà
GVHD: HOÀNG THU HẰNG
N
MỤC LỤC
ChươngI.
BÁN PHÁ GIÁ VÀ NHỮNG QUY ĐỊNH CƠ BẢN ........................................ 2
1.
Các quy định của WTO về bán phá giá: (ADP) ........................................................... 2
Điều kiện áp dụng biện pháp chống bán phá giá là gì? ............................................. 10
8.
Biên độ phá giá được tính như thế nào?...................................................................... 10
9.
Yếu tố “thiệt hại “ được xác định như thế nào? ......................................................... 11
10.
Ai được quyền kiện chống bán phá giá: .................................................................. 13
11.
Một vụ kiện chống bán phá giá được tiến hành như thế nào? .............................. 15
12.
Quy trình thủ tục , phòng vệ thương mại, kháng kiện ban phá giá : ................... 16
ChươngII. THỰC TRẠNG BÁN PHÁ GIÁ VÀ NGÀNH TÔM VIỆT NAM:............... 17
1.
Tình hình chống bán phá giá trên thế giới:................................................................. 17
2.
Tình hình chống bán phá giá tại Việt Nam:................................................................ 19
Về vai trò của các Hiệp hội doanh nghiệp ............................................................... 31
6.
Tình hình sau kháng kiện: ............................................................................................ 32
7.
Vụ kiện AD đầu tiên của VN và Những bài học kinh nghiệm: ................................. 36
8.
BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ LƯU Ý CHO DOANH NGHIỆP:.......................... 37
a
Giai đoạn tiền khởi kiện: .......................................................................................... 37
b
Giai đoạn chuẩn bị hồ sơ: ......................................................................................... 37
c
Giai đoạn điều tra...................................................................................................... 37
d
Một số lưu ý khác ...................................................................................................... 37
6.
Nhóm giải pháp đối phó khi bị khởi kiện:................................................................... 47
7.
Nhóm giải pháp khi bị thua kiện: ................................................................................ 48
LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, chống bán phá giá có thể xem là công cụ bảo hộ hợp pháp được sử
dụng nhiều nhất trên thế giới. Số liệu điều tra cho thấy, số vụ ngày có xu hướng
tăng khi nền kinh tế thế giới càng phát triển theo hướng tăng cường hội nhập và
liên kết. Vậy nó nói lên điều gì? Liệu có mâu thuẫn không khi chúng ta tăng
cường hội nhập là để có thể tận dụng được tài nguyên và nhân lực của từng quốc
gia, mặt khác chúng ta lại kiện lẫn nhau vì lợi thế cạnh tranh của quốc gia đó
khiến cho hàng hóa của họ rẻ hơn nội địa? Sẽ ra sao nếu không còn rào cản kinh
tế khi cả thế giới là một thị trường, mỗi quốc gia đều chuyên môn hóa, sản xuất
và tiêu dùng là một chuỗi liên tục và hoàn thiện ? Có lẽ, đây là tương lai kinh tế
mà chúng ta cần hợp sức xây dựng và kiến tạo trong một thời gian lâu dài hơn
nữa, tuy nhiên, trước khi có thể đạt đến điều đó, chúng ta vẫn cần tăng cường
năng lực nền kinh tế nội địa, tìm được lợi thế cạnh tranh hợp lý. Vì thế, đề giúp
doanh nghiêp có thể nắm rõ về quy trình cũng như cách thức đối phó với các vụ
kiện chống bán phá giá trên thế giới, nhóm chúng tôi đã đưa ra một số vấn đề và
giải pháp từ chính phủ, hiệp hội và ban ngành liên quan…nhằm phần nào hỗ trợ
doanh nghiệp trong nước có thể đương đầu với khó khăn và thách thức từ môi
trường kinh doanh quốc tế.
1|Page
người xuất khẩu và nhập khẩu tại nước nhập khẩu. Tuy nhiên, giá giao dịch có
thể không được chấp nhận là giá xuất khẩu trong trường hợp buôn bán đối lưu,
hoặc trao đổi nội bộ.
Khi giá xuất khẩu thấp hơn so với giá trị bình thường của hàng hoá thì nước nhập
khẩu được quyền áp dụng thuế chống bán phá giá để bảo hộ cho sản xuất trong
nước vì bán phá giá bị cho là hình thức cạnh tranh không lành mạnh.
Để xem xét có hiện tượng bán phá giá hay không, không những chỉ cần so sánh
các mức giá trên hai thị trường mà còn phải xác định được mức độ thiệt hại vật
chất mà bán phá giá gây ra cho ngành sản xuất của nước nhập khẩu.
Theo WTO, thiệt hại do bán phá giá gây ra có thể là: thiệt hại vật chất đối với sản
xuất công nghiệp trong nước; nguy cơ gây ra tổn thất vật chất hoặc gây cản trở
đến hoạt động của ngành công nghiệp tương tự trong nước. Đây là một tiêu thức
khó định lượng một cách rõ ràng, chính xác. Vì vậy các nước nhập khẩu có nhiều
cơ hội để áp dụng công cụ bảo hộ sản xuất trong nước bằng áp thuế chống bán
phá giá khi họ cho rằng hàng nhập khẩu có thể gây thiệt hại cho sản xuất trong
nước.
2. Tại sao lại bán phá giá:
Hành động bán phá giá xảy ra do nhiều nguyên nhân, có thể kể đến những
nguyên nhân chính sau:
- Tăng thêm thị phần nhằm tăng quy mô kinh doanh.
3|Page
- Cố tình bán phá giá để loại bỏ các đối thủ cạnh tranh trên thị trường nước nhập
khẩu để chiếm thế độc quyền.
- Tăng thêm lợi nhuận nhờ tăng doanh thu (mức thu lợi nhuận trên từng sản
phẩm có thể ít hơn, nhưng tổng lợi nhận tuyệt đối gia tăng), ngoài ra tăng lợi
nhuận nhờ giảm các chi phí do quy mô kinh doanh tăng lên.: Có thể 1 số nc làm
ra sp với giá thành rất thấp do sử dụng lao động trẻ em, tiền lương thấp và sử
thực, thực phẩm, quần áo lỗi mốt,…
VD: Ở Pháp, khi bắt đầu mùa hè đã có hàng tồn đọng như: thực phẩm sắp hết
hạn sử dụng, quần áo, dày giép lỗi mốt,…lên tới 50% số dự trữ bán ra. Loại này
được bán với giá thấp hơn 30% giá thị trường.
Đến cuối mùa, hàng tồn đọng chỉ còn vài % và được bán cho những người
chuyên nghiệp với giá =1/10 giá cũ. Họ sẽ đẩy số hàng này ra nước ngoài bán
phá giá.
+ Là công cụ quan trọng trong chính sách Ngoại thương của đất nước nhằm giúp
cho việc thực hiện những mục tiêu cụ thể trong chiến lược phát triển kinh tế xã
hội của nước đó.
-Tiêu cực:
+ Người tiêu dùng trong nước chị thiệt do phải chịu giá cao hơn so với trước đây
do có sự thỏa thuận về giá giữa các doanh nghiệp.
+ Các doanh nghiệp bán phá giá, lượng hàng hóa đó lại được bán cho chính các
doanh nghiệp trong nước mình, do đó quay lại lũng đoạn thị trường trong nước.
5|Page
+ Việc bán phá giá nhằm mục đích thu được lợi nhuận nên 1 vài nước đã sử dụng
lao động trẻ em, phụ nữ, lao động tù nhân với giá rẻ mạt. Hậu quả là người lao
động bị ngược đãi nặng nề.
Ví dụ: Trung Quốc là nước tiểu biểu sử dụng lao động tù nhân. Theo số liệu của
văn phòng Quốc tế về lao động trẻ em(BIT) thì trên toàn thế giới có trên 250
triệu trẻ em từ 5-14 tuổi đang tham gia hoạt động kinh tế.
b
Đối với nước nhập khẩu:
- Tích cực:
Đây thực chất là một quy trình Kiện→Điều tra→Kết luận
Áp dụng biện pháo chống bán phá giá (nếu có) là 1 nước nhập khẩu đối với 1
loại hàng hóa nhập khẩu từ 1 nước nhất định khi có những nghi ngờ rằng loại
hàng hóa đó bị bán phá giá vào nước nhập khẩu gây thiệt hại đáng kể cho
ngành sản xuất sản phẩm tương tự của nước nhập khẩu.
Mặc dù thường được gọi là “vụ kiện” (theo cách gọi ởViệt Nam), đây không
phải thủ tục tố tụng tại Toà án mà là thủ tục hành chính và do cơ quan hành chính
nước nhập khẩu thực hiện .Thủ tục này nhằm giải quyết một tranh chấp thương mại
giữa một bên là nghành sản xuất nội địa và một bên là các nhà sản xuất, xuất
khẩu nước ngoài; nó không liên quan đến quan hệ cấp chính phủ giữa hai nước
xuất khẩu và nhập khẩu.
7|Page
Vì trình tự, thủ tục và các vấn đề liên quan được thực hiện gần giống như trình tự
tố tụng xử lý 01 vụ kiện tại tòa nên thủ tục này còn được xem là “thủ tục bán tử
pháp”. Ngoài ra, khi kết thúc vụ kiện, nếu không đồng ý với quyết định cuối
cùng của cơ quan hành chính, các bên có thể kiện ra Toà án (lúc này, vụ việc
xử lý tại toà án thực sự là một thủ tục tố tụng tư pháp).
NHỮNG YẾU TỐ CƠ BẢN CỦA MỘT VỤ KIỆN CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ
Đối tượng: là một loại hàng hóa nhất định nhập khẩu từ một hoặc mọt số nước xuất
khẩu
Nguyên đơn: nghành sx nội địa nước NK SX ra sản phẩm tương tự với SP bị cho là
bán phá giá gây thiệt hại
Bị đơn: Tất cả các doanh nghiệp nước ngoài SX và xuất khẩu hàng hóa /sản phẩm là
đối tượng của đơn kiện
nói trên.
Bán phá giá được xác định thông qua việc so sánh về giá giữa giá thông thường và giá
xuất khẩu theo công thức: Giá thông thường →Giá xuất khẩu = X
(Trong đó các giá này phải được đưa về cùng 1 cấp độ thương mại mà thường là “giá xuất
xưởng”)
Nếu X > 0 thì có hiện tượng bán phá giá.
6. Chống bán phá giá được quy định ở đâu:
Trong WTO, các nguyên tắc về chống bán phá giá được quy định tại:
9|Page
Điều VI Hiệp định chung về thuế quan và Thương mại(GATT) (bao gồm các
nguyên tắc chung về vấn đề này);
Hiệp định về chống bán phá giá( Agreement Anditumping Practises-ADA) chi
tiết hóa Điều VI GATT(các quy tắc, điều kiện, trình tự thủ tục kiện- điều tra và
áp dụng biện pháp chống bán phá giá cụ thể)
Mỗi nước lại có quy định riêng về vấn đề chống bán phá giá (xây dựng trên cơ sở các
nguyên tắc chung liên quan cua WTO). Các vụ kiện chống bán phá giá và việc áp
thuế chống bán phá giá thực tế ở các nước tuân thủ các quy định nội địa này.
Đối với các doanh nghiệp, đề có hiểu biết chung về những vấn đê cơ bản nhất về
chống bán phá giá trong thương mại quốc tế, doang nghiệp chỉ cần tiếp cận các quy
định của WTO về vấn đề này là đủ. Tuy nhiên, để biết chi tiết về trình tự, thủ tục cơ
quan có thẩm quyền trong các vụ kiện chống bán phá giá cụ thể ở mỗi thị trường xuất
khẩu, doanh nghiệp cần tìm nhiều các quy định pháp luật về chống ban phá giá của
nước đó.
7. Điều kiện áp dụng biện pháp chống bán phá giá là gì?
Không phải cứ có hiện tượng hàng hóa nước ngòa bán phá giá là nước nhập khẩu có thể
áp dụng các biện pháp chống bán phá giá đối với hàng hóa đó.
9. Yếu tố “thiệt hại” được xác định như thế nào?
Việc xác định “thiệt hại” là một bước không thể thiếu trong một vụ điều tra chống bán
phá giá và chỉ khi kết luận điều tra khẳng định có thiệt hại đáng kể cho nghành sản xuất
nội địa nước nhập khẩu thì nước nhập khẩu mới có thể xem xét việc áp dụng các biện
pháp chống bán phá gá.
Về hình thức: các thiệt hại này có thể tồn tại dưới 2 dạng: thiệt hại thực tế, hoặc
nguy cơ thiệt hại(nguy cơ rất gần);
Về mức độ: các thiệt hại này phải ở mức đáng kể,
Về phương pháp: các thiệt hại thực tế được xem xét trên cơ sở phân tích tất cả các
yếu tố có liên quan đến thực trạng của nghành sản xuất nội địa (ví dụ tỉ lệ và mức
tăng lượng nhập khẩu, thị phần của sản phẩm nhập khẩu, thay đổi về doanh số, sản
lượng, năng suất, nhân công,…)
10. Một mặt hàng mà Việt Nam xuất khẩu không nhiều có thể bị kiện
chống bán phá giá không ?
Theo quy định của WTO, nước nhập khẩu không được tiến hành điều tra (và không được
áp thuế chống trợ cấp) nếu nước xuất khẩu là nước đang phát triển và có lượng nhập
11 | P a g e
khẩu sản phẩm liên quan dưới 3% tổng nhập khẩu hàng hóa tương tự vào nước nhập
khẩu là một nước đang phát triển, Việt Nam được hưởng quy chế này.
Tuy nhiên, quy định này sẽ không được áp dụng nếu tổng số lượng nhập khẩu sản phẩm
liên quan từ tất cả các nước xuất khẩu có hoàn cảnh tương tự ( cũng là nước đang phát
triển co lượng nhập khẩu thấp hơn 3%0 chiếm trên 7% tổng lượng nhập khẩu hàng hóa
tương tự vào nước nhập khẩu.
XÁC ĐỊNH LƯỢNG NHẬP KHẨU
“KHÔNG ĐÁNG KỂ” NHƯ THẾ NÀO?
Giả sử Trung Quốc, Việt Nam, Ấn Độ và Camphuchia ( là các nước đang phát triển)
cùng với nhiều nước khác cùng nhập khẩu 1 mặt hàng X vào nước Y.
đã bày tỏ ý kiến ủng hộ hoặc phản đối đơn kiện, và
II. Các nhà sản xuất ủng hộ đơn kiện phải có sản lượng sản phẩm tương tự
của toàn bộ nghành sản xuất trong nước
13 | P a g e
VÍ DỤ VỀ ĐIỀU KIỆN KHỞI KIỆN CỦA NGHÀNH SẢN
XUẤT NỘI ĐỊA NƯỚC NHẬP KHẨU
Giả sử ngành sx của mặt hàng A của nước B muốn kiện các nhà SX XK VN
vì đã bán ohas giá mặt hàng A vào nước B.
Nếu nghành SX mặt hàng A của nước B có tổng cộng 5 nhà sản xuất
(NSX), trong đó:
14 | P a g e
NSX 1 sx ra 9% tổng sản lượng nội địa A của nước B.
NSX 2 sx ra 5% tổng sản lượng nội địa A của nước B.
NSX 3 và 4 sx ra 15% tổng sản lượng nội địa A của nước B
NSX 5 sx ra 56 % tổng sản lượng nội địa A của nước B
Nếu NSX 4(15%) khởi kiện, các NSX 1(9%), 2(5%),3(15%) đều bày
tỏ ý kiến về việc khởi kiện này và NSX 5(56%) không có ý kiến gì
thì:
Nếu NSX 2 ( 5%) ủng hộ, NSX 1(9%) và 3( 15%) phản đối: tổng sản
mức thuế).
Bước 9: Rà soát hoàng hôn( 5 năm kể từ ngày có quyết định áp thuế chống bán
phá giá hoặc rà sát lại, cơ quan điều tra sẽ tiến hành điều tra lại để xem xét chấm
dứt việc áp dụng thuế hay tiếp tục áp thuế thêm 5 năm nữa.
Từ bước 1 đến bước 7 của một vụ điều tra chống bán phá giá thường kéo dài
khoảng 18 tháng đến 2 năm. Tuy nhiên, bước 8 và 0 có thể kéo rất dài sau đó.
15 | P a g e
13. Quy trình thủ tục, phòng vệ thương mại, kháng kiện bán phá giá :
- Thu thập thông tin về ngành sản xuất sản phẩm tương tự trong nước nhập khẩu;
- Quan sát động thái báo chí khi đề cập đến sản phẩm tương tự tại nước nhập khẩu;
Trước khi xảy ra vụ
kiện
- Thu thập thông tin về thị trường sản phẩm tương tự tiêu thụ tại nước nhập khẩu;
- Cục QLCT sẽ thông tin tới doanh nghiệp về khả năng có thể xảy ra vụ kiện dựa trên
phân tích tình hình xuất nhập khẩu;
- Phối hợp với những nhà nhập khẩu sản phẩm tại nước điều tra để thu thập
thêm thông tin và sự ủng hộ của họ;
- Nghiên cứu, xem xét phương án thuê luật sư tư vấn trong trường hợp vụ kiện
xảy ra;
Khi nguyên đơn nộp
đơn khởi kiện
- Thành lập nhóm phụ trách vụ việc tại đơn vị;
- Phối hợp chặt chẽ với Hiệp hội, các cơ quan trong và ngoài nước để có thêm
thông tin vụ việc;
soát hành chính
- Hợp tác với cơ quan điều tra trong các lần Rà soát hành chính.
ChươngII.
THỰC TRẠNG BÁN PHÁ GIÁ VÀ NGÀNH TÔM VIỆT NAM:
1. Tình hình chống bán phá giá trên thế giới:
Theo số liệu của Ban Thư ký WTO, từ năm 1995 đến hết năm 2014 trên thế giới đả
tiến hành 4757 cuộc điều tra về chống bán phá giá, đứng đầu danh sách là Ấn độ (740 vụ),
Hoa Kỳ (527 vụ) và EU (468 vụ) đây vẫn là những thị trường truyền thống về vấn đề kiện
bán phá giá trong suốt hơn 1 thập kỷ qua.Trong số 104 nước bị kiện, các nước đứng đầu
là Trung Quốc (1052 vụ), Hàn Quốc (349 vụ) và Hoa Kỳ (266 vụ). Như vậy, có thể thấy
dù nền kinh tế thế giới không ngừng vận động và biến đổi về mọi mặt, từ chất lượng cho
đến số lượng hàng hóa hay biến đổi về quan hệ cung cầu từ sản xuất đến nhu cầu tiêu
dùng, nhưng các thị trường lớn trong lĩnh vực Chống Bán Phá Giá vẫn không thay đổi
nhiều hay thậm chí là không hề thay đổi. Bởi trong số các nước phát triển, Hoa Kỳ và EU
17 | P a g e
vẫn luôn đi đầu trong việc áp dụng thuế chống bán phá giá. Ấn Độ là nước đang phát triển
sử dụng công cụ này nhiều nhất. Nhật Bản thì tương đối đặc biệt khi chỉ áp dụng thuế
chống bán phá giá có 8 lần nhưng có đến 187 lần bị áp dụng thuế chống bán phá giá.
Riêng Trung Quốc thì có có thể được coi là quốc gia "đi đầu" trong việc bán phá giá hàng
hóa sang các nước khác khi bị kiện đến 1052 lần. Tuy nhiên, các nhà xuất khẩu của Trung
Quốc hiện đang phải chịu một bất lợi lớn là nhiều nước phát triển chưa coi nền kinh tế
Trung quốc là kinh tế thị trường, do đó hàng xuất khẩu của nước này hay bị coi là bán phá
giá, mặc dù trên thực tế có thể không phải như vậy. (nguồn www.wto.org).
Tại thị trường EU, tính cho đến 31/04/2015 đã có 81 vụ kiện chống bán phá giá
mà sau đó được mở rộng thành 26 vụ kiện chính thức. Tại thị trường Hoa Kỳ, chỉ tính
ẤN ĐỘ ( 8 VỤ )
BRAXIN ( 6 VỤ )
KHÁC ( 24 VỤ )
9%
14%
11%
Nguồn: Hội đồng tư vấn về Phòng vệ thương mại-VCCI
Các nước khác gồm: CANADA 4 VỤ, THÁI LAN 4 VỤ, MALAYSIA 4 VỤ ,
INDONESIA … VV
Trong số các vụ kiện chống bán phá giá thì Hoa Kỳ và EU là 2 quốc gia chiếm tỷ
trọng lớn nhất, đồng thời đây cũng là 2 thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam. Điều
này cho thấy các doanh nghiệp Việt Nam rất thiếu chuẩn bị khi xuất khẩu hàng hóa hay
thiết lập quan hệ với các đối tác nước ngoài. Bên cạnh đó là việc thiếu quan sát và tìm
hiểu nhu cầu cũng như biến động từ thị trường nhập khẩu. Để dẫn đến tình trạng là trong
5 vụ kiện đúp Chống bán phá giá và chống trợ cấp thì đã có đến 4 vụ từ thị trường Hoa
Kỳ. Liên tiếp các vụ kiện với mức thuế suất cao và bất lợi cho doanh ngiệp xuất khẩu Việt
Nam xảy ra chỉ vì các DN của ra không được chuẩn bị và đầu tư kỹ lưỡng về các nguyên
tắc và quy định khi quyết định đầu tư ra thị trường nước ngoài.
Từ năm 1994 đến 2000 đa phần các vụ kiện đều nhỏ và không để lại hậu quả nhiều,
thông thường là tự chấm dứt hay là nguyên đơn rút đơn kiện. Có thể do thời gian đầu gia
nhập kinh tế thế giới, cả sản lượng và chất lượng hàng hóa của Việt Nam đều chưa lớn,
19 | P a g e
chưa gây khó khăn đáng kể cho ngành sản xuất nội địa của các quốc gia kiện bán phá giá.
Tuy nhiên, đây có thể coi là tiếng chuông cảnh báo cho chúng ta về luật chơi khi muốn
hòa mình vào “dòng chảy” thị trường thế giới. Thế nhưng, hầu hết các doanh nghiệp Việt
3
2
2004
2005
2006
2
2007
2008
2009
2010
2011
2012
2013
2014
2015