Đầu tư FDI với vấn đề tạo việc làm cho người lao động Việt nam trong tiến trình toàn cầu hóa - Pdf 31

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Lời mở đầu
Cùng với việc Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của WTO (vào ngày 7-11-
2006), Quốc hội Hoa kỳ thông qua Quy chế bình thường vĩnh viễn (PNTR. Việt
Nam việc tổ chức thành công các hoạt động trong khuôn khổ Hội nghị cấp cao
APEC tại Hà Nội( tháng 11-2006) Thì Việt Nam càng khẳng định hơn nữa vị thế
của mình trong cộng đồng quốc tế, ngày càng hội nhập sâu hơn vào thị trường khu
vực và thế giới. Từ đó làm gia tăng sự đầu tư của các tập đoàn kinh tế, các quốc gia
lớn mạnh trên thế giới, làm gia tăng dòng vốn FDI vào Việt Nam. Nhưng việc hiểu
được hết vai trò của FDI lại gặp không ít khó khăn, nhất là việc sự dụng nguồn vốn
FDI, việc tạo điều kiện cho các nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào nền kinh tế Việt
Nam còn gặp nhiều trở ngại. Làm cho những tác dụng to lớn của FDI cũng giảm
thiểu, nhất là tác dụng tạo việc làm cho nền kinh tế.
Với ý nghĩa nghiên cứu, phân tích một cách sâu sắc tỷ mỉ về FDI và việc tạo
việc làm thông qua FDI trong tiến trình toàn cầu hóa, từ đó đưa ra một số giải pháp
để thu hút FDI và tăng việc làm trong khu vực FDI. Em lựa chọn đề tài: “Đầu tư
trực tiếp nước ngoài (FDI) với vấn đề tạo việc làm cho người lao động Việt
Nam trong tiến trình toàn cầu hóa”.
Trong quá trình ngiên cứu, em sử dụng một phương pháp như phương pháp duy vật
biện chừng, phương pháp duy vật lịch sử, phương pháp liên hệ, so sánh, thống
kê, phân tích và một số phương pháp khác.
Kết cấu của đề án gồm 3 phần:
Phần một : Cơ sở lý luận về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với vấn đề tạo việc
làm cho người lao động trong tiến trình toàn cầu hóa.
Phần hai : Thực trạng về đầu tư trực tiếp nước ngoài với vấn đề tạo việc làm cho
người lao động Việt Nam trong tiến trình toàn cầu hóa.
Phần ba : Những giải pháp thúc đẩy đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với vấn đề
tạo việc làm cho người lao động Viêt Nam.
1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Phần một : Cơ sở lý luận về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với vấn đề

lượng sản xuất và của quan hệ sản xuất cùng với những mối quan hệ biện chứng
giữa chính hai yếu tố này ở quy mô toàn cầu. Động lực của "toàn cầu hóa" là sự
phát triển của lực lượng sản xuất, mà lực lượng sản xuất thì không ngừng lớn mạnh.
Ðây là quy luật chung nhất cho mọi thời đại, mọi chế độ xã hội
Toàn cầu hóa là quá trình giao lưu và quốc tế hóa trên mọi lĩnh vực của đời sống
con người và đời sống các quốc gia trong công động thế giới, trong đó toàn cầu hóa
kinh tế ngày càng trở thành yếu tố quyết định trong toàn bộ quá trình giao lưu quốc
tế. Toàn cầu hóa kinh tế làm cho các nước có quan hệ kinh tế với nhau và phụ thuộc
vào nhau chặt chẽ hơn. Động lực thúc đẩy Toàn cầu hóa phát triển là sự tiến bộ
khoa học - kĩ thuật và sự mở rộng cơ chế thị trường. Cuộc cách mạng khoa học kĩ
thuật của xã hội loài người cả về chiều rộng và chiều sâu làm cho việc quốc tế hoá
kinh tế có bước phát triển mới quan trọng.
b. Đặc điểm của toàn cầu hóa kinh tế:
1) Toàn cầu hóa diễn ra trong sự thống nhất và mâu thuẫn về lợi ích giữa các
quốc gia với nhau và lợi ích chung toàn thế giới
2) Sự phát triển của cách mạng khoa học và công nghệ, đặc biệt là sự bùng nổ
của cách mạng tin học đã hình thành nền kinh tế tri thức.
3) Sự phát triển của kinh tế thị trường hiện đại thúc đẩy tự do hóa kinh tế và sự
thâm nhập kinh tế giữa các nước.
4) Vai trò quan trọng của Nhà nước và sự điều phối của các tổ chức kinh tế thế
giới trong tiến trình toàn cầu hóa.
1.1.3- Tác dụng của toàn cầu hóa kinh tế.
a.Đối với các nước đang phát triển
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Toàn cầu hóa tạo ra những cơ hội mà các nước đang phát triển có thể tận dụng
để đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế và nâng cao mức sống. Những tác động
tích cực là:
• Toàn cầu hóa kinh tế tạo điều kiện cho các nước huy động được những nguồn
lực từ bên ngoài cho việc phát triển kinh tế quốc gia: vốn, khoa học-kỹ thuật

thể:
Di chuyển vốn kèm theo di chuyển công nghệ, kiến thức kinh doanh và quản lý
làm tăng số lượng lao động và nâng cao chất lượng lao động, vốn FDI tạo ra nhiều
việc làm mới( cả việc làm trực tiếp và gián tiếp).
Tự do hóa thương mại làm đa dạng chủng loại hàng hóa, thúc đẩy mở rộng phân
công và hiệp tác lao động giữa các nước, làm cạnh tranh về giá cả, chất lượng hàng
hóa, sản xuất, quản lý, … dẫn đến tạo việc làm mới và cũng dẫn đến thất nghiệp
nhiều do DN bị phá sản.
Cuối cùng, việc di chuyển lao động tạo thêm nhiều việc làm mới cho người lao
động, mặt khác tăng sức ép về việc làm và thất nghiệp.
Ngoài ra, các nhân tố gián tiếp khác của toàn cầu hóa kinh tế cũng tác động đến vấn
đề tạo việc làm : sự phát triển của nền kinh tế tri thức, vận tải quốc tế,…
1.2- Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI = Foreign Direct Investment)
1.2.1- Khái niệm, bản chất và đặc điểm của FDI
a. Một số khái niệm cơ bản
Đầu tư là một hoạt động quan trọng quyết định trực tiếp tới sự phát triển của nền
sản xuất xã hội, là chìa khóa của sự tăng trưởng và là điều kiện tiên quyết cho sự ra
đời, tồn tại và tiếp tục phát triển của mọi cở sở sản xuất kinh doanh dịch vụ. Đầu tư
nói chung là những hoạt động sử dụng các nguồn lực hiện tại, nhằm đem lại cho nền
kinh tế xã hội những kết quả trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để
đạt được các kết quả đó. Do đó, mục tiêu của đầu tư là tạo ra được kết quả cao hơn
5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
so vơi những hy sinh về nguồn lực ở hiện tai. Đầu tư của một quốc gia gồm có đầu
tư trong nước và đầu tư nước ngoài
Đầu tư nước ngoài ( hay còn gọi là đầu tư quốc tế) là phương thức đầu tư vốn,
tài sản ở nước ngoài để tiến hành sản xuất, kinh doanh hay dịch vụ với mục đích
tìm lợi nhuận hoặc vì những mục tiêu chính trị, xã hôi nhất định. Cũng với tiến
trình toàn cầu hóa, đầu tư nước ngoài có vai trò ngày càng to lớn đối với sự phát
triển của mỗi quốc gia, trong đó đầu tư trực tiếp nước ngoài( nguồn đầu tư của tư

Các nhà đầu tư có quyền tham gia hoạt động quản lý trong các doanh nghiệp FDI,
tùy thuộc vào tỷ lệ vốn đóng góp mà nhà đầu tư có quyền tham gia và quyền tham
gia quản lý nhiều hay ít.
Thứ ba, đi kèm với dự án FDI là 3 yếu tố: hoạt động thương mại, chuyển giao công
nghệ, di cư lao động quốc tế, trong đó di cư lao động quốc tế góp phần vào việc
chuyển giao kỹ năng quản lý doanh nghiệp FDI.
Thứ tư, FDI là hình thức kéo dài “ chu kỳ tuổi thọ sản xuất”, “ chu kỳ tuổi thọ kỹ
thuật” và “ nội bộ hóa di chuyển kỹ thuật”. Trong nền kinh tế hiện đại chính phương
thức đầu tư trực tiếp nước ngoài là một điều kiện cho sự tồn tại và phát triển của
mình. FDI sẽ giúp cho các doanh nghiệp thay đổi được dây chuyền công nghệ lạc
hậu ở nước mình nhưng dễ được chấp nhận ở nước có trình đọ phát triển thấp hơn
và góp phần kéo dài chu kỳ sản xuất.
Thứ năm, FDI là sự gặp nhau về nhu cầu của một bên là nhà đầu tư và một bên là
nước tiếp nhận đầu tư.
Thứ sáu, FDI gắn liền với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và tiến trình toàn cầu
hóa kinh tế. Chính sách về FDI của mỗi quốc gia tiếp nhận đầu tư thẻ hiên chính
sách mở cửa và quan điểm hội nhập quốc tế về đầu tư.
1.2.2- Tác dụng của FDI
Đầu tư trực tiếp nước ngoài có vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế của
một quốc gia, tác động trực tiếp đến mọi mặt của đời sống, kinh tế- xã hội và chính
trị của nước tiếp nhận đầu tư.Trước hết, FDI bổ sung một nguồn vốn quan trọng cho
7
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
tăng trưởng và phát triển kinh tế, đóng góp vào GDP, vào Ngân sách Nhà nước và
kim ngạch xuất khẩu. Đối với các nước nghèo và đang phát triển, vốn là một yếu tố
đặc biệt quan trọng đối với phát triển kinh tế,FDI là biện pháp hữu hiệu để tăng vốn
cho đầu tư, huy động các nguồn lực để phát triển kinh tế để tạo ra tăng trưởng kinh
tế dẫn đến tăng thu nhập. Từ đó, kích thích sản xuất trong nước, tạo thêm nhiều việc
làm và tăng thu nhập cho người lao động, từ đó kích thích tiêu dùng.
FDI góp phần nâng cao chất lượng lao động, phát triển nguồn nhân lực. FDI

một phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất hoặc
những phương tiện để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội.
Hay theo Tổ chức Lao động quốc tế ( ILO): “Việc làm là hoạt động được trả
công bằng tiền và bằng hiện vật”.
Thất ngiệp là một hiện tượng kinh tế-xã hội phổ biến ở các nước đang phát triển
cũng như các nước công nghiệp tiên tiến. Theo đúng nghĩa của từ thất nghiệp là mất
việc làm hay sự tách rời sức lao động khỏi tư liệu sản xuất. Thất nghiệp luôn là mối
quan tâm hàng đầu của mọi quốc gia, nó không chỉ làm lãng phí “ tài sản” quý nhất
là nguồn lực con người mà còn gây ra những hậu quả tâm lý- xã hội xấu đi kèm
những tệ nạn xã hội và tội phạm hình sự không lường.
Phạm trù việc làm và thất nghiệp luôn gắn liền với phạm trù con người, do vậy
hình thành nên khái niệm người có việc làm, người thiếu việc làm, người thất
nghiệp.
Tại Hội nghị Quốc tế lần thứ 13 của Tổ chức Lao động quốc tế ( ILO) các nhà
thống kê về Lao động đưa ra các khái niệm như sau:
Người có việc làm là người làm một việc gì đó được trả công, lợi nhuận bằng tiền
hoặc hiện vật hoặc tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi
ích hay vì thu nhập gia đình không nhận được tiền công hay hiện vật.
Người thiếu việc làm là người có số giờ làm việc trong tuần lễ điều tra dưới mức
quy định chuẩn và họ có nhu cầu làm them.
9
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Còn theo tài liệu điều tra lao động- việc làm hang năm của Bộ Lao động , Thương
binh và Xã hội thì khái niệm người thất ngiệp như sau: Người thất nghiệp là người
từ đủ 15 tuổi trở lên thuộc nhóm dân số hoạt động kinh tế mà trong tuần lễ điều tra
không có việc làm nhưng có nhu cầu làm việc và sẵn sang làm việc nhưng không
tìm được việc làm, được xác định dựa trên yếu tố:
 Có hoạt động đi tìm việc làm trong 4 tuần qua; hoặc không có hoạt động đi
tìm việc làm trong 4 tuần qua vì các lý do không biết tìm ở đâu hoặc tìm mãi
không được.

không thể thiếu vai trò của Nhà nước, cụ thể:
Về phía người sử dụng lao động
Người sử dụng lao động có vai trò tạo chỗ làm việc và duy trì chỗ làm việc. Để
tạo chỗ làm việc phải có vốn, nắm bắt được công nghệ, có kiến thức và kinh nghiệm
trong tổ chức quản lý và phải có được thị trường. Mặt khác, muốn tạo việc làm
người sử dụng lao động phải đến thị trường lao động để thuê lao động, chỉ khi
người sử dụng lao động thuê được sức lao động cho chỗ làm việc của họ thì việc
làm mới được hình thành.
Về phía người lao động
Người lao động muốn có việc làm phải có sức khỏe, kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo
phù hợp với công việc đòi hỏi. Do vậy, người lao động phải đầu tư cho chính bản
thân họ, thể hiện ở sự đầu tư nâng cao sức khỏe, đầu tư vào giáo dục và đào tạo,
chuyên môn nghề nghiệp. mặt khác, người lao động phải chủ động kiếm việc làm và
nắm bắt các cơ hội về việc làm.
Về phía Nhà nước
Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong quá trình tạo việc làm, thể hiện trong
việc tạo ra môi trường thuận lợi cho việc làm hình thành và phát triển, tạo ra môi
trường thuận lợi cho người sử dụng lao động và người lao động phát huy được khả
năng của họ, đưa ra các chính sách kiên quan đến người sử dụng lao động và người
11
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
lao động, cụ thể như các chính sách về khuyến khích đầu tư trong nước, đầu tư
nước ngoài, chính sách bảo hộ sản xuất trong nước,….và các chính sách về giáo
dục- đào tạo, chính sách về sức khỏe- y tế- xã hội. Nhà nước đảm bảo phân bổ các
nguồn lực hợp lý, tạo ra môi trường kinh doanh lành mạnh, khuyến khích các thành
phần kinh tế tham gia kinh doanh tạo việc làm. Nhà nước có vai trò trong hệ thống
hướng nghiệp, các trung tâm giao dịch, giới thiệu việc làm…,tạo ra cơ sở pháp lý
để cho thị trường lao động phát triển,…
1.3.2- Sự cần thiết phải tạo việc làm cho người lao động
Sự cần thiết phải tạo việc làm cho người lao động được thể hiện bởi các lý do

làm được trực tiếp tạo ra trong hệ thống của doanh nghiệp FDI ,đó là các việc làm
do doanh nghiệp tuyển dụng và trả lương., được tạo ra bởi chính nguồn vốn FDI,
được tính theo bảng lương của doanh nghiệp FDI.
Cùng với sự xuất hiện và lớn mạnh của khu vực FDI một số khu vực sản xuất và
cung cấp các sản phẩm, dịch vụ cho khu vực có FDI cũng phát triển theo và tạo ra
số việc làm đáng kể. Đa số các doanh nghiệp FDI có mạng lưới tiêu thụ rộng khắp
sử dụng lao động bán hàng, quảng cáo, tiếp thị,…Khu vực FDI sử dụng các nguồn
lực khác trong nước ít nhiều nhờ đó tạo ra việc làm gián tiếp cho những đơn vị cung
cấp. Các dự án FDI cũng tạo ra hàng vạn chỗ làm việc cho ngành xây dựng trong
nước thông qua nhu cầu xây dựng nhà xưởng, văn phòng, cơ sở hạ tầng,… Do vậy
khi đánh giá tác động của FDI trong tạo việc làm còn phải xác định số lượng việc
làm gián tiếp do FDI tạo ra. Số lượng việc làm gián tiếp được xác định là việc làm
tạo ra trong các hoạt động của các ngành, các tổ chức, doanh nghiệp khác ngoài khu
vực FDI nhưng lại phục vụ cho hoạt động của khu vực FDI. Nhận thấy, phần lớn
các doanh nghiệp FDI còn tạo ra việc làm gián tiếp với số lượng lớn hơn nhiều so
với số lượng việc làm trực tiếp mà nó tạo ra.
13

Trích đoạn Các giải pháp thu hút lao động làm việc trong khu vực FDI
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status