Thực tiễn nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia - Pdf 31

A-

ĐẶT VẤN ĐỀ

Nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế là những tư tưởng chính trị, pháp lý mang
tính chỉ đạo, bao trùm, có giá trị bắt buộc chung, điều chỉnh những quan hệ giữa các
chủ thể của Luật quốc tế, hình thành hệ thống cấu trúc bên trong của Luật quốc tế.
Bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia, một nguyên tắc mang tính nền tảng
trong hệ thống các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế. Về mặt lý luận, hiểu một
cách khái quát, mỗi quốc gia có chủ quyền tức là có quyền lực tối cao trong quan hệ
đối nội và quyền lực độc lập trong quan hệ đối ngoại. Nguyên tắc này nhằm đảm bảo
sự công bằng cho các quốc gia trong việc hưởng quyền cũng như thực hiện nghĩa vụ
khi tham gia vào quan hệ quốc tế. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy khả năng tham gia
vào quan hệ quốc tế của mỗi quốc gia là không giống nhau, do đó, các quy phạm
pháp luật quốc tế cũng sẽ có những điều chỉnh cho phù hợp với từng hoàn cảnh. Bài
tiểu luận sẽ phân tích cụ thể về nội dung và thực tiễn nguyên tắc bình đẳng về chủ
quyền giữa các quốc gia, với hai phần chính:
-

Phần I: Nội dung nguyên tắc
Phần II: Đánh giá thực tiễn thực hiện nguyên tắc
B- GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I.

Nội dung nguyên tắc :

1. Sự hình thành nguyên tắc
Xuất hiện từ rất sớm, khi loài người chuyển từ chế độ phong kiến sang tư bản chủ
nghĩa, đây được xem là nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế thời bấy giờ. Hiến pháp
tư sản cũng ghi nhận nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền dân tộc như một tôn chỉ
của mình. Tuy vây, trên thực tế trong thời kỳ đó, nguyên tắc này vẫn chưa được tôn

quốc gia trong quan hệ quốc tế. Trong phạm vi lãnh thổ, mỗi quốc gia có quyền tối
thượng về lập pháp, hành pháp và tư pháp mà không có bất kỳ sự can thiệp nào từ
bên ngoài, đồng thời quốc gia được tự do lựa chọn cho mình phương thức thích hợp
nhất để thực thi quyền lực trong phạm vi lãnh thổ. Trong quan hệ quốc tế, mỗi quốc
gia có quyền tự quyết định chính sách đối ngoại của mình mà không có sự áp đặt từ
chủ thể khác trên cơ sở tôn trọng chủ quyền của mọi quốc Điều này có nghĩa là các
quốc gia dù lớn hay nhỏ, gia trong cộng đồng quốc tế dù giàu hay nghèo đều có
quyền độc lập như nhau trong quan hệ quốc tế.

2


Bình đẳng được đề cập đến trong nguyên tắc này không được hiểu theo
nghĩa "ngang bằng nhau" về tất cả các quyền và nghĩa vụ, mà là bình đẳng trong
quyền tự quyết mọi vấn đề liên quan đến đối nội và đối ngoại của mỗi quốc gia.
Thực tiễn quan hệ quốc tế cho thấy, khả năng tham gia vào các quan hệ quốc tế của
các quốc gia không giống nhau, do đó Luật quốc tế trong một số trường hợp đã có
những quy phạm nhằm trao cho một số quốc gia nhất định những quyền đặc biệt mà
các quốc gia khác không có (Ví dụ: quyền phủ quyết của 5 thành viên thường trực
Hội đồng bảo an Liên Hợp Quốc). Tuy nhiên, việc được hưởng các quyền đặc biệt
này bao giờ cũng đồng nghĩa với việc các quốc gia này phải gánh vác thêm những
nghĩa vụ đặc biệt khác.
3, Nội dung pháp lý:
Bình đẳng về chủ quyền của quốc gia bao gồm:
- Các quốc gia bình đẳng về mặt pháp lý
- Mỗi quốc gia có chủ quyền hoàn toàn và đầy đủ;
- Mỗi quốc gia có nghĩa vụ tôn trọng quyền năng chủ thể của các quốc gia khác;
- Sự toàn vẹn lãnh thổ và tính độc lập về chính trị là bất di bất dịch;
- Mỗi quốc gia có quyền tự do lựa chọn và phát triển chế độ chính trị, xã hội, kinh tế
và văn hóa của mình;

quyền quốc gia vô cùng quan trọng. Nó nhằm khẳng định địa vị quốc tế của quốc gia
và được thể hiện qua quyền tự quyết về đối nội cũng như đối ngoại của quốc gia.
Ví dụ: Khi xây dựng Công ước luật biền 1982, các quốc gia đã thảo luận trên
cơ sở nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền và nhất trí ghi nhận điều 87 :
Biển cả được bỏ ngỏ cho tất cả quốc gia có biển hay không có biển đều bình
đẳng và tự do trong việc sử dụng biển. Quyền tự do trên biển cả bao gồm: tự do hàng
hải, tự do hàng không, tự do đặt dây cáp và ống dẫn ngầm với điều kiện tuân thủ
phần VII công ước Viên quy định về thềm lục địa, tự do đánh bắt hải sản, tự do
nghiên cứu khoa học. Tuy nhiên các quốc gia khi thực hiện quyền tự do này phải
tính dến lợi ích của việc thực hiện tự do trên biển cả của các quốc gia khác, cũng
như đến các quyền được Công ước thừa nhận liên quan đến các hoạt động trong
vùng

4


.b. Trong việc thực thi pháp luật quốc tế
Cùng với quá trình hình thành và phát triển của luật quốc tế thì vấn đề thực thi
luật quốc tế cũng là một yêu cầu tất yếu. Hiểu đơn giản, thực thi luật quốc tế là quá
trình hiện thực hóa các quy định của luật quốc tế vào đời sống sinh hoạt quốc tế. Do
bản chất của luật quốc tế là tự thỏa thuận, tự cưỡng chế nên trong hệ thống pháp luật
quốc tế không có các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp như pháp luật quốc gia
mọi hoạt động liên quan đến việc xây dựng và thực thi luật quốc tế trong đời sống
sinh hoạt quốc tế đều do các chủ thể luật quốc tế tự thỏa thuận theo nguyên tắc bình
đẳng về chủ quyền của các quốc gia. Các chủ thể căn cứ vào nguyên tắc cơ bản đó
để xác định, thực thi các quyền và nghĩa vụ mà pháp luật quốc tế quy định, tiến hành
các hoạt động mà luật quốc tế cho phép.
Ví dụ: WTO thừa nhận 3 hình thức của các biện pháp chống bán phá giá, đó
là: biện pháp tạm thời, cam kết về giá và thuế chống bán phá giá chính thức. Ba biện
pháp đó được điều chỉnh bởi Hiệp định Chống bán phá giá. Theo các quy định của

tắc cơ bản của luật quốc tế đều không có giá trị pháp lý.
Ví dụ: Nếu trong các văn bản pháp luật quốc tế như Công ước về hàng không
dân dụng có quy định đi ngược lại nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền thì quy định
đó không có giá trị pháp lý
Đối với các lĩnh vực có nguyên tắc chuyên biệt như Luật biển quốc tế, Luật
hàng không dân dụng quốc tế… bên cạnh việc tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của
luật quốc tế, các bên còn phải chấp hành các nguyên tắc chuyên biệt trong từng lĩnh
vực cụ thể.
Ví dụ : trong luật biển quốc tế có ghi nhận một loạt các nguyên tắc chuyên
ngành như: nguyên tắc tự do biển cả, nguyên tắc đất thống trị biển… các quốc gia
khi tham gia quan hệ quốc tế liên quan đến biển song song với việc thực hiện
nghiêm chỉnh các nguyên tắc chuyên ngành, họ cũng phải tuân thủ nguyên tắc cơ
bản “ bình đẳng về chủ quyến” của luật quốc tế.
2, Các trường hợp đặc biệt
Trong thực tiễn quan hệ quốc tế, các chủ thể của luật quốc tế đã thừa nhận một số
ngoại lệ của nguyên tắc này. Những ngoại lệ này không hề tạo ra sự bất bình đẳng
chủ quyền giữa các quốc gia mà hoàn toàn phù hợp với luật pháp quốc tế và được
cộng đồng quốc tế thừa nhận. Và hiện nay, tồn tại hai trường hợp ngoại lệ như sau:
a.

Quốc gia bị hạn chế chủ quyền.

6


Trường hợp này đặt ra đối với chủ thể có hành vi vi phạm nghiêm trọng pháp luật
quốc tế và việc bị hạn chế chủ quyền là các biện pháp chế tài hoặc sự trừng phạt của
cộng đồng quốc tế đối với hành vi của họ.
Ví dụ như: Ngày 6 tháng 8, 1990, sau khi Iraq xâm chiếm Kuwait, Hội đồng Bảo
an Liên hiệp quốc thông qua Nghị quyết 661 áp đặt trừng phạt kinh tế lên Iraq,

Thụy Sỹ đã tự hạn chế quyền của mình để theo đuổi chính sách đối ngoại
trung lập nhằm giữ độc lập và bảo vệ lợi ích của mình. Mục tiêu của chính sách đối
ngoại là bảo vệ, tăng cường vị thế chính trị và kinh tế của Thụy Sỹ trên thế giới.
Chính sách đối ngoại trung lập là công cụ quan trọng, xuyên suốt và là nội dung chủ
yếu của nền ngoại giao Thụy Sỹ từ 1815 tới nay. Đây là một chính sách đối ngoại vô
cùng khôn khéo giúp Thụy Sỹ tránh được hai cuộc chiến tranh thế giới.
Quốc gia hạn chế quyền bằng cách trao quyền cho 1 thế chế khác:
Ví dụ: Công quốc Mô-na-cô cho phép Pháp thay mặt họ trong mọi quan hệ đối
ngoại, dù nó là một quốc gia độc lập, có chủ quyền. Mô-na-cô theo chế độ quân chủ
cha truyền con nối; Bộ trưởng nhà nước do Công tước bổ nhiệm từ danh sách 3 ứng
cử viên người Pháp do Chính phủ Pháp đề cử.
Mô-na-cô là một nước nhỏ ở châu Âu, từ thế kỷ XIII đã phụ thuộc vào các
vương triều ở Pháp và Bắc I-ta-lia. Từ năm 1918, theo thoả thuận ký với Pháp, Môna-cô trao cho Pháp quyền đại diện ngoại giao; Pháp bảo hộ nền kinh tế - tài chính,
quốc phòng, an ninh. Việc công quốc Mônacô đã tự hạn chế quyền hạn chủ quyền
của mình khi ủy quyền ngoại giao cho Pháp và cho Pháp can thiệp vào chế độ chính
trị của mình nhằm lấy được sự bảo hộ của Pháp, tránh sự can thiệp hay xâm lược từ
các quốc gia lớn khách.
c. Trường hợp quyền phủ quyết của Hội đồng bảo an
Quyền phủ quyết (veto): Là việc một nước thành viên thường trực Hội đồng
Bảo an có khả năng ngăn cản việc thông qua một nghị quyết không liên quan đến
thủ tục bằng một phiếu chống của mình kể cả khi tất cả các nước thành viên khác,
8


thường trực và không thường trực, bỏ phiếu tán thành. Nói cách khác, đây là việc
thực hiện nguyên tắc nhất trí giữa năm nước ủy viên thường trực. Trong suốt quá
trình hoạt động của mình với tư cách ủy viên thường trực, tất cả năm nước này đều
đã áp dụng quyền phủ quyết của mình trong đó hai nước Mỹ và Liên Xô (cũ) là
những nước sử dụng nhiều nhất. Kể tử năm 1945, thời điểm Liên Hợp Quốc được
thành lập, Liên Xô cũ và Nga sử dụng 120 lần quyền phủ quyết trong Hội đồng Bảo

Ví dụ: nhằm gia tăng sức ép với Nga, Mỹ đã soạn một dự thảo Nghị quyết
yêu cầu Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc lên án cuộc trưng cầu ý dân vào ngày
16/3/2014 tại nước Cộng hòa tự trị Crimea về kế hoạch sáp nhập vào Nga, đồng
thời kêu gọi các nước và tổ chức quốc tế không công nhận kết quả cuộc bỏ phiếu
này. Bản dự thảo Nghị quyết của Mỹ nhận được sự ủng hộ của 13 nước thành viên
của Hội đồng Bảo an, tuy nhiên Nga đã phủ quyết dự thảo, trong khi Trung Quốc bỏ
phiếu trắng. Nga đã sử dụng quyền phủ quyết vì cho rằng Nghị quyết này đi ngược
với nguyên tắc quyền bình đẳng và tự quyết của các dân tộc được ghi trong Điều 1
của Hiến chương Liên Hợp Quốc.
3. Một số ví dụ về hành vi thiếu trách nhiệm trong quan hệ quốc tế
Thực tế quan hệ quốc tế cho thấy quốc gia theo đuổi những lợi ích vị kỉ, có
thái độ và hành động thiếu cân nhắc về hậu quả, làm phương hại đến lợi ích chung
của cộng đồng quốc tế và lợi ích chính đáng của các quốc gia khác. Có thể kể đến
một số hành động thiếu trách nhiệm sau:
a. Không tôn trọng, tuân thủ các tiêu chuẩn, chuẩn mực, thể chế quốc tế
Hai nhiệm kì cầm quyền của Tổng thống G. W. Bush làm cho uy tín của Mỹ bị giảm
sút nghiêm trọng trên trường quốc tế. Lý do cơ bản bởi chính quyền của Tổng thống
Bush theo đuổi một loạt các hành động theo đuổi lợi ích quốc gia vị kỉ, ưu tiên các
biện pháp đơn phương, và coi trọng sử dụng sức mạnh trong chính sách đối ngoại.
Cụ thể, chính quyền Mỹ từ chối tham gia Nghị định thư Kyoto về cắt giảm khí thải
gây hiệu ứng nhà kính, không phê chuẩn Hiệp ước Cấm thử vũ khí hạt nhân toàn
10


diện (CTBT), và rút ra khỏi Hiệp ước Phòng thủ tên lửa ABM (kí năm 1972 với Liên
Xô) hòng tìm kiếm lợi thế về vũ khí chiến lược trong bối cảnh nước Nga gặp nhiều
khó khăn. Đỉnh cao của sự thiếu trách nhiệm là Mỹ quyết định sử dụng vũ lực xâm
lược I-rắc năm 2003 mà không có sự cho phép của Liên Hợp Quốc. Sự can thiệp của
Mỹ dù với lý do gì “can thiệp nhân đạo”, “truyền bá dân chủ” hay “đánh đòn phủ
đầu để đảm bảo an ninh” tạo ra sự lo ngại sâu sắc trong cộng đồng quốc tế. Uy tín

Thái Lan và Cam-pu-chia trong việc giải quyết tranh chấp ngôi đền Praeh Vihear.
Hai nước này đã để xảy ra các xung đột vũ trang nhỏ liên tiếp, đồng thời tạo ra nhiều
xáo trộn với các hành vi làm gia tăng căng thẳng. Đặc biệt là việc Cam-pu-chia mời
cựu Thủ tướng Thái Lan Thaksin Shinawatra, người đang bị chính quyền Thủ tướng
Abisit Vejjajiva truy tố, về làm cố vấn kinh tế cho chính phủ Phnôm Pênh. Những
hành động như vậy đi ngược lại tinh thần của Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác
ASEAN (TAC).
Một trường hợp khác là Ấn Độ tố cáo Pa-kít-xtan là quốc gia thiếu trách
nhiệm trong việc bao che, tạo điều kiện cho các phần tử khủng bố tấn công vào lãnh
thổ Ấn Độ, đặc biệt là cuộc tấn công đẫm máu vào thành phố Mumbai cuối năm
2008. Nhà nước Taliban ở Áp-ga-ni-xtan cũng đã từng bị tố cáo che chở và nuôi
dưỡng mạng lưới khủng bố Al Qeada, những kẻ chủ mưu và thực hiện vụ tấn công
đẫm máu 11/9 tại Mỹ năm 2001.
d. Không thiện chí đóng góp, hoặc đóng góp không tương xứng với khả
năng vào các nỗ lực quốc tế để giải quyết các hiểm họa toàn cầu
Thế giới ngày hôm nay đối mặt với nhiều mối đe dọa trên quy mô khu vực
và toàn cầu, ví dụ như vấn đề ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu, đói nghèo, thiên
tai, sự lan truyền của các dịch bệnh hiểm nghèo, phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt,
thiếu hụt nguồn nước… Chưa bao giờ, khái niệm an ninh con người được chú ý
12


nhiều đến như vậy. Nạn đói ở châu Phi, các thảm họa tự nhiên như sóng thần, động
đất cướp đi nhiều sinh mạng hơn cả các cuộc chiến tranh đang diễn ra hiện nay. Các
vấn đề an ninh năng lượng, an ninh lương thực, các nguy cơ khủng hoảng kinh tế –
tài chính đe dọa sự ổn định chính trị và thành tích phát triển kinh tế của tất cả các
quốc gia.
Việc đối phó và giải quyết tận gốc các vấn đề này cần có sự chia sẻ trách
nhiệm giữa các quốc gia. Tuy nhiên, do nhiều lý do khác nhau, các quốc gia vẫn bị
bó buộc bởi chính trị nội bộ, hoặc chưa nhận thức đầy đủ, hoặc dành quá ít nguồn

bất kì phương pháp nào vẫn chịu sức ép chủ yếu từ những người dân mà họ cai trị. Ở
quốc gia càng dân chủ, các chính trị gia càng bị chi phối bởi ý chí chung của người
dân. Để được bầu hoặc tái bầu, các chính trị gia chỉ tìm cách làm hài lòng cử tri
trong khu vực bầu cử của họ, dẫn đến các quyết định và hành động có thể làm
phương hại đến lợi ích của cộng đồng khác. Thứ ba, do tính chất nhiệm kỳ của bộ
máy chính trị, các chính trị gia có xu hướng bận tâm nhiều hơn đến lợi ích hữu hình,
ngắn hạn hơn là các lợi ích dài hạn, vô hình.

14




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status