nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử với người khuyêt tật - Pdf 34

I. khái quát chung về người khuyết tật
1. khái niệm người khuyết tật
Nhận thức về người khuyết tật là cả một quá trình lâu dài. Lịch sử phát triển
cảu vấn đề này cho thấy đã có các quan điểm khác nhau về khái niệm người khuyêt
tật. Hiện nay trên thế giới tồn tại hai quan điểm chính về khái niệm Người khuyết
tật: Quan điểm khuyết tật các nhân và quan điểm khuyết tật xã hội.
i/ Quan điểm khuyết tật cá nhân (hay qua điểm khuyết tật dưới góc độ y tế):
cho rằng khuyết tật là do hạn chế cá nhân, là ở chính con người đó, chú trọng rất ít
hoặc không để ý đến các yếu tố về môi trường xã hội và môi trường vật thể xung
quang người khuyết tật. Quan niệm này cho rằng người khuyết tật có thể hưởng lợi
từ phương pháp khoa học như thuốc điều trị và công nghệ cải thiện chức năng. Mô
hình y tế chú trọng vào việc điều trị cá nhân chứ không xem trọng việc trị liệu xã
hội. Như vậy, mô hình y tế nhìn nhận người khuyết tật là vấn đề và đưa ra giải pháp
để làm người đó bình thường. Lí giải cho quan điểm này, theo phân lọai của Tổ
chức y tế thế giới, có ba loại mức độ suy giảm là: khiếm khuyết; khuyết tật và tàn
tật. Trong đó, khiếm khuyết chỉ sự mất mát hoặc không bình thường của cấu trúc
cơ thể liên quan đến tâm lí hoặc sinh lí; Khuyết tật chỉ sự giảm thiểu chức năng của
hoạt động, là hậu quả của sự khiếm khuyết; còn tàn tật để chỉ tình thế bất lợi hoặc
thiệt thòi của người mang khiếm khuyết do tác động của môi trường xung quanh
lên tình trạng khuyết tật của họ.
Như vậy, mô hình y tế nhìn nhận người khuyết tật như những người có vấn
đề về thể chất và cần phải chữa trị. Điều này đã đẩy người khuyết tật vào thế bị
động của người bệnh. Theo đó, vấn đề khuyết tật được cho là hạn chế ở từng cá
nhân. Khi bị khuyết tật, những người này cần phải thay đổi chứ không phải môi
trường xug quang hay xã hội phải thay đổi.
1


ii/ Quan điểm khuyết tật theo mô hình xã hội: trong mô hình xã hội, khuyết
tật được nhìn nhận là hệ quả bị xã hội loại trừ phân biệt. Bởi vì xã hội được tổ chức
không tốt nên nhưng người khuyết tật phải đối mặt với một số phân biệt đối xử

thực hiện các quyền trên các lĩnh vực của đời sống.
i/ đặc điểm của người khuyết tật dưới góc độ kinh tế - xã hội.
*Góc độ kinh tế:
_ Những gia đình có người khuyết tật có xu hướng hoặc là thiếu nhân lực lao động
hoặc là có quá nhiều người sống phụ thuộc gây ra gánh nặng về kinh tế.
_ Học vấn của những thành viên trong những gia đình người khuyết tật thường
không cao. Nhiều chủ hộ gia đình lại chính là người khuyết tật có sức khỏe yếu. Tài
sản của gia đình người khuyết tật thường nghèo nàn, thu nhập ở mức thấp, vì vậy
điều kiện sống và sinh hoạt không tốt ảnh hưởng đến cuốc sống, sức khỏe của các
thành viên trong gia đình.
_ Khuyết tật là nguyên nhân làm giảm cơ hội việc làm, phát triển kinh tế của họ.
*Góc độ xã hội:
_ Khuyết tật là nguyên nhân chính gây ra nhiều khó khăn cho người khuyết tật thực
hiện các công việc sinh hoạt hàng ngày, trong giáo dục, việc làm, kết hôn, sinh con
và tham gia các hoạt động xã hội khác.
_ Người khuyết tật có xu hướng thi hẹp, tách biệt với cộng đồng .
_ Gặp rào cản trong hòa nhập do thái độ tiêu cực từ phía cộng đồng dẫn đến sự kì
thị và phân biệt đối xử.

3


ii/ đặc điểm của người khuyết tật dưới góc độ dạng tật và mức độ khuyết tật.
Trên thế giới, ở mỗi quốc gia có thể có các quy định khác nhau về một số
dạng tật song nhìn chung hầu hết và phổ biến là các dạng khuyết tật bao gồm :
khuyết tậ vận động; khuyết tật nghe, nói; khuyết tật nhìn; khuyết tật trí tuệ và
khuyết tật khác.
_ Khuyết tật vận động: là những người có cơ quan vận động bị tổn thương, biểu
hiện dễ nhận thấy là khó khăn trong ngồi, nằm, di chuyển, cầm, nắm…
_ Khuyết tật nghe, nói: là người có khó khăn đáng kể về nói và nghe dẫn đến hạn

dụ - Luật người khuyết tật của Hoa Kỳ năm 1990; Luật 7600 về cơ hội bình đẳng
cho người khuyết tật của Costa Rica năm 1996; Luật về người khuyết tật của
Ghana năm 1993 và Luật người khuyết tật của Việt Nam năm 2006…
Về phương diện pháp lí, nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử có
thể được tiếp cận ở nhiều khía cạnh khác nhau trong pháp luật và dẫn đến các hậu
quả không giống nhau. Hiện nay nguyên tắc bình đẳng được tiếp cận trên ba
phương diện: Bình đẳng trên danh nghĩa; Bình đẳng về cơ hội; Bình đẳng về kết
quả. Trong thực tế, khái niệm bình đẳng về cơ hội được sử dụng nhiều nhất trong
văn bản pháp luật ở các quốc gia. Về các hình thức phân biệt đối xử bao gồm: Phân
biệt đối xử gián tiếp; Phân biệt đối xử trực tiếp; Gây phiền nhiễu; Chỉ đạo và
khuyến khích phân biệt đối xử. Kinh nghiệm chi thấy cần quy định cả bốn hình
thức phân biệt đối xử nói trên với người khuyết tật trong pháp luật. Mặt khác để có
cơ sở xác định một hành vi có phải là bình đẳng hoặc phân biệt đối xử với người
khuyết tật hay không cần có những tiêu chí xác định mang tính chất pháp lý được
cơ quan có thẩm quyền quy định .
5


Như vậy, một cách chung nhất, nguyên tắc bình đẳng ở đây được hiểu là sự
ngang nhau trong việc tiếp cận các cơ hội về học tập, việc làm, chăm sóc sức khỏe,
dịch vị công … của người khuyết tật trong mọi điều kiện hoàn cảnh. Tuy nhiên,
nguyên tắc bình đẳng không có nghĩa là ngang bằng nhau và như nhau. Người
khuyết tật gặp phải những dạng tật khác nhau và mức độ khuyết tật khác nhau cần
phải được đảm bảo khác nhau ( ví dụ: người khuyết tật đặc biệt nặng cần phải có sự
bảo trợ của toàn xã hội, trong khi đó một người bị khuyết tật nhẹ thì không cần phải
như vậy ). Tương tự, việc ngăn cấm phân biệt đối xử không có nghĩa là quy cho
mọi hình thức là trái pháp luật ( ví dụ: trong quan hệ lao động, người sử dụng lao
động có quyền yêu cầu người lao động phải có những kĩ năng và trình độ cần thiết
mà công việc hoặc môi trường công việc đòi hỏi và những yêu cầu này là chính
đáng ). Do đó, dẫn đến khả năng loại trừ một số người khuyết tật khỏi danh sách

ĐIỀU 12 – được thừa nhận bình đẳng trước pháp luật
1. Các Quốc gia thành viên của Công ước này tái khẳng định rằng người
khuyết tật có quyền được công nhận là thể nhân trước pháp luật ở bất kỳ nơi
nào.
2. Các Quốc gia thành viên của Công ước này thừa nhận người khuyết tật có
được hưởng năng lực pháp lý trong tất cả các mặt của cuộc sống trên cơ sở
bình đẳng như những người khác.
3. Các Quốc gia thành viên của Công ước này cam kết thực hiện những biện
pháp phù hợp để tạo sự tiếp cận cho người khuyết tật đối với những hỗ trợ
pháp lý mà họ cần khi thực hiện năng lực pháp lý.
4. Các Quốc gia thành viên của Công ước này cam kết đảm bảo rằng tất cả
các biện pháp có liên quan đến việc thực hiện năng lực pháp lý quy định các
cách thức bảo hộ phù hợp và có hiệu quả nhằm ngăn ngừa sự lạm dụng theo
7


đúng các quy định của luật nhân quyền quốc tế. Các cách thức bảo hộ như
vậy phải đảm bảo rằng các biện pháp liên quan đến việc thực hiện năng lực
pháp lý phải tôn trọng các quyền, ý chí và sở thích của một cá nhân; phải
không xung đột về quyền lợi và không có ảnh hưởng một cách thái quá;
phải tương xứng và thích ứng với các điều kiện của cá nhân đó; phải áp
dụng trong một khoảng thời gian ngắn nhất có thể; và phải được một cơ
quan độc lập, trung lập và có thẩm quyền, hoặc cơ quan tư pháp đánh giá
thường xuyên. Các cách thức bảo hộ đó phải tương xứng đến một mức độ
mà các biện pháp có liên quan đến việc thực hiện năng lực pháp lý có thể
tác động đến quyền và lợi ích của các nhân đó.
5. Theo các khoản được ghi trong trong Điều 12 thì các Quốc gia thành viên
của Công ước này cam kết thực hiện những biện pháp phù hợp và hiệu quả
để đảm bảo quyền bình đẳng của người khuyết tật trong việc sở hữu hay
thừa kế tài sản, kiểm soát vấn đề tài chính của bản thân họ, và tiếp cận một

Theo số liệu khảo sát năm 2005, cả nước có khoảng 5,3 triệu người
khuyết tật, chiếm khoảng 6,34% dân số (trong đó có 1,1 triệu khuyết tật nặng,
chiếm 21,5% tổng số người khuyết tật). Bao gồm 29,41% khuyết tật vận động,
16,83% thần kinh, 13,84% thị giác, 9,32% thính giác, 7,08% ngôn ngữ, 6,52% trí
tuệ và 17% các dạng tật khác[3]. Tỷ lệ nam là người khuyết tật cao hơn nữ do các
nguyên nhân hậu quả chiến tranh, tai nạn lao động, tai nạn giao thông, tai nạn
thương tích...
Nguyên nhân gây nên khuyết tật có tới 35,8% do bẩm sinh, 32,34% do bệnh
tật, 25,56% do hậu quả chiến tranh, 3,49% do tai nạn lao động và 2,81% do các
9


nguyên nhân khác. Đời sống vật chất, tinh thần của người khuyết tật còn nhiều khó
khăn. Có tới 37% người khuyết tật đang sống trong hộ nghèo (cao gấp 3 lần so với
tỷ lệ nghèo chung cùng thời điểm); 24% ở nhà tạm, 34,4% từ 6 tuổi chưa biết chữ
và 21,24% chưa tốt nghiệp tiểu học; 79,13% trong độ tuổi lao động không có khả
năng tham gia lao động; 88,94% từ 16 tuổi chưa được đào tạo chuyên môn (trong
đó chỉ có 2% đang học nghề); 79,13% sống dựa vào gia đình, người thân...
[4]

Những khó khăn này cản trở người khuyết tật tiếp cận dịch vụ y tế, giáo dục, học

nghề, tìm kiếm việc làm, tham gia giao thông, dẫn đến khó khăn trong cuộc sống và
hòa nhập cộng đồng.
Thực tế đang diễn ra tình trạng nhiều người khuyết tật sống khép kín hoặc bị
tách ra khỏi xã hội. Có những “rào cản” đã làm hạn chế cơ hội của họ khi tham gia
vào các hoạt động xã hội, đó là: những rào cản vô hình và những rào cản hữu hình;
như: rào cản về môi trường sống, thái độ của cộng đồng, cách giao tiếp,… Điều đó
ảnh hưởng đến tâm lý của người khuyết tật, vô hình chung đã làm tăng khoảng
cách của người khuyết tật với cộng đồng.


1. Giáo trình luật người khuyết tật Việt Nam- trường Đại Học Luật Hà Nội- NXB
CAND
2. Luật người khuyết tật 2010
3. Công ước về quyền của người khuyết tật 2006
4.website:
http://sv.vhu.edu.vn/showthread.php?t=6833
http://www.drdvietnam.com/vi/component/content/article/3610-chong-ky-thi-va-phanbiet-doi-xu-voi-nguoi-khuyet-tat.html
http://www.congdoanthanhhoa.org.vn/index.php/tin-hoat-dong-cong-doan/chinh-sachphap-luat/19-tin-hoat-dong-cong-doan/21-phap-luat-chinh-sach-ktxh/254-binh-dang-hoa-nhapdoi-voi-nguoi-khuyet-tat-va-vai-tro-cua-cong-doan
http://www.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/hethongvanban?
class_id=1&_page=1&mode=detail&document_id=96045

12


Mục lục
I. khái quát chung về người khuyết tật

trang

1. khái niệm người khuyết tật
2. Đặc điểm của người khuyết tật
II .nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử với người
khuyêt tật
III. quy định của pháp luật về nguyên tắc bình đẳng và không
phân biệt đối xử với người khuyết tật và thực tiễn thực hiện
1. quy định của pháp luật
2. thực tiễn thực hiện.

13


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status