Tác động kỳ thị và phân biệt đối xử với người khuyết tật tại Xã Tạ Xá, Huyện Cẩm Khê, Tỉnh Phú Thọ - Pdf 49

LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Cuộc sống là một chuỗi những sự kiện, biến cố đến với chúng ta và không phải
sự kiện, biến cố nào cũng mang đến cho chúng ta những niềm vui và hạnh phúc.
Thật vậy, với những người khuyết tật (NKT), dù cho là vì biến cố rủi ro bất ngờ
hay yếu tố bẩm sinh di truyền thì họ cũng đều phải chịu những đau khổ, thiệt
thòi nhất định trong cuộc sống. Theo con số của Bộ LĐ-TB&XH, tính đến
tháng 6-2015, Việt Nam có khoảng 7 triệu người khuyết tật, chiếm 7,8% dân số,
người khuyết tật đặc biệt nặng và nặng chiếm khoảng 28,9%, khoảng 58%
người khuyết tật là nữ, 28,3% người khuyết tật là trẻ em, 10,2% người khuyết
tật là người cao tuổi, khoảng 10% người khuyết tật thuộc hộ nghèo. Những
NKT này họ đang phải đối mặt với rất nhiều những khó khăn trong cuộc sống
về y tế, giáo dục, việc làm …trong đó có vấn đề kỳ thị, phân biệt với NKT.
Chính sự kỳ thị, phân biệt đối xử này đã làm cản trở, tạo nên những rào cản lớn
để NKT có thể khắc phục khó khăn, vươn lên, hòa nhập với cộng đồng, gây
những tác động, hệ quả tiêu cực đến cuộc sống của NKT cũng như gia đình họ.
Để có thể hỗ trợ được tốt nhất cho NKT giúp họ phát huy được năng lực bản
thân, hòa nhập cuộc sống, đóng góp cho gia đình và xã hội thì điều quan trọng
đặt ra là cần phải xóa bỏ được tình trạng kỳ thị, phân biệt đối xử với NKT và để
làm được điều này cần có sự tham gia, chung tay của nhiều ban ngành, lĩnh vực
và toàn xã hôi trong đó có ngành công tác xã hội, một ngành luôn hướng tới
việc xây dựng một xã hội tốt đẹp, hướng tới những đối tượng yếu thế trong xã
hội, trong đó có NKT.
Xã Tạ Xá, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ là một xã có tỷ lệ người khuyết tật
khá cao, tuy nhiên, người khuyết tật và các vấn đề liên quan đến người khuyết
tật trên địa bàn xã vẫn chưa được quan tâm đúng mức. Tình trạng kỳ thị, phân
biệt đối xử với người khuyết tật vẫn còn khá nặng nề, điều này đã có những tác
động tiêu cực không nhỏ tới đời sống của những người khuyết tật, làm cho họ bị
hạn chế đi cơ hội hòa nhập cuộc sống. Để có thể giúp cho người khuyết tật có
được cuộc sống tốt đẹp hơn, hòa nhập tốt hơn thì điều quan trọng là cần đánh
1


Phân loại khuyết tật.

Cách phân loại theo luật Người khuyết tật Việt Nam, gồm sáu nhóm khuyết tật.
1.2.1. Khuyết tật vận động
Là tình trạng giảm hoặc mất khả nặng cử động đầu, cổ, chân, tay, thân mình dẫn
đến hạn chế trong vận động, di chuyển.
Vd: trẻ bị dị tật bẩm sinh không có tay, chân; bị cụt tay, chân; bại liệt….
1.2.2. Khuyết tật nghe, nói.
Khuyết tật nghe nói là tình trạng giảm hoặc mất chức năng nghe, nói hoặc cả
nghe và nói , phát âm thành tiếng và âm rõ ràng dẫn đêna hạn chế trong giao
tiếp, trao đổi thông tin bằng lời nói
Vd: hội chứng câm, điếc, khiếm thính
1.2.3. Khuyết tật nhìn

3


Khuyết tật nhìn là tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhìn và cảm nhận ánh
sáng, màu sắc, hình ảnh, sự vật trong điều kiện ánh sáng và môi trường bình
thường.
Vd: lòa, nhìn đôi, mù màu, cận thị, loạn thị…
1.2.4. Khuyết tật thần kinh, tâm thần
Khuyết tật thần hinh, tâm thần là tình trạng rối loạn tri giác, trí nhớ, cảm xúc,
kiểm soát hành vi, suy nghĩ và có những biểu hiện với những lời nói, hành động
bất thường.
Vd: tâm thần phân liệt, rối loạn tâm trí, ..
1.2.5. Khuyết tật trí tuệ
Khuyết tật trí tuệ là tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhận thức, tư duy biểu
hiện bằng việc chậm hoặc không thể suy nghĩ, phân tích về sự vật , hiện tượng,
giải quyết sự việc.

Quan điểm cũng như cách tiếp cận người khuyết tật được thể hiện qua các văn
bản chính sách pháp luật mà Nhà nước đã ban hành cũng như những công ước,
điều luật quốc tế mà Việt Nam đã ký kết tham gia
 Công ước quốc tế về Quyền của NKT (CRPD)
Công ước quốc tê về quyền của người khuyết tật là một văn kiện nhân quyền
quốc tế do Liên hiệp quốc soạn thảo nhằm mục đích bảo vệ các quyền và nhân
phẩm của NKT. Các quốc gia tham gia công ước phải đảm bảo quyền được
hưởng thụ bình đẳng mọi dịch vụ công cộng của NKT.
Việt nam tham gia công ước về quyền của người khuyết tật ngày 22/10/2007.
Công ước này xác lập sự chuyển dịch từ phương thức tiếp cận theo hướng nhân
đạo sang hướng nhân quyền. Quan điểm của Việt Nam được thể hiện chi tiết
qua các văn bản pháp luật về người khuyết tật như:
 Luật NKT: được Quốc hội thông qua ngày 17/6/2010. Theo đó các Nghị
định số 28/ 2010/ NĐ-CP ngày 17/10/2010 của Chính Phủ, Nghị định
28/2012/NĐ-CP ngày 10/4/2012 và Thông tư 26/2012/TT- BLĐTB&XH
ngày 12/11/2012 đã được ban hành nhằm quy định chi tiết và hướng dẫn
thi hành một số điều của Luật NKT.
 Hiến pháp sửa đổi, bổ sung năm 2013: một số điều liên quan đến NKT
như: điều 16, 54, 62, 70.

5


 Nghị định số 67/2007/NĐ-CP ngày 13/4/2007 quy định về chính sách trợ
giúp các đối tượng bảo trợ xã hội và được bổ sung, sửa đổi bằng nghị
định 13/2010/NĐ-CP ngày 27/02/2010.
 Luật lao động năm 2012:mục 4, chương XI quy định về chế độ làm việc
với lao động là NKT.
 Luật dân sự quy định về chăm sóc sức khỏe , hỗ trợ nuôi dưỡng học văn
hóa , hoạt động văn hóa giáo dục thể dục thể thao và việc giúp đỡ NKT

các dịch vụ này không hề dễ dàng. Những rào cản về: thông tin, sự kỳ thị, thiếu
những dịch vụ ở cấp độ cá nhân…đã làm cho nhiều người khuyết tật không
được hưởng những dịch vụ xã hội có chất lượng.
1.5.

Các nghiên cứu liên quan đến người khuyết tật

Người khuyết tật và các vấn đề liên quan đến người khuyết tật đã và đang được
cộng đồng, xã hội cũng như các tổ chức quan tâm rất nhiều. Từ đó các công
trình nghiên cứu liên quan đến người khuyết tật ngày càng phát triển, rất nhiều
các công trình nghiên cứu quan trọng đã ra đời, trong đó có một số nghiên cứu
tiêu biểu như:
Nghiên cứu về chi phí kinh tế của sống với khuyết tật và kỳ thị ở Việt Nam.
Nghiên cứu này tìm hiểu về chi phí của khuyết tật, phân biệt đối xử với người
khuyết tật . Những phát hiện từ nghiên cứu này dựa trên kết quả khảo sát tại 8
tỉnh Việt Nam. Nghiên cứu do Viện Nghiên cứu phát triển Xã hội thực hiện với
sự hỗ trợ tài chính của AusAID và hỗ trợ kỹ thuật của các chuyên gia từ Đại học
Y Hà Nội, Viện Dân số, Sức khỏe và Phát triển, Trung tâm khuyết tật và Phát
triển và viện Y tế Toàn cầu Nossal của Đại học Tổng hợp Melboume, Úc.
Báo cáo khảo sát về đào tạo nghề và việc làm cho người khuyết tật tại Việt
Nam. Báo cáo được thực hiện bởi Tổ chức Lao động Quốc tế tháng 8- 2008.
Báo cái này cung cấp một cách nhìn tổng thể về các tổ chức của người khuyết
tật, các tổ chức đại diện cho người khuyết tật và các dịch vụ đào tạo nghề, việc

7


làm và phát triển doanh nghiệp chon ng]ời khuyết tật, đặc biệt tập trung vào các
tổ chức của phụ nữ khuyết tật và các dịch vụ dành riêng cho phụ nưc khuyết tật.
Nghiên cứu hòa nhập xã hội: “Giảm thiểu sự kì thị và phân biệt đối sử với NKT


Mỗi người khuyết tật có những nhu cầu mong muốn, năng lực nhận thức và
mức độ khuyết tật khác nhau nên làm thế nào để tiếp cận các dịch vụ giáo dục
một cách phù hợp nhất với họ.
Với vai trò là người trợ giúp và cung cấp dịch vụ cho người khuyết tật thì nhân
viên công tác xã hội cần phải nắm được các mô hình, phương thức giáo dục cho
người khuyết
tật.
Giáo dục chuyên biệt.
Giáo dục chuyên biệt là phương thức giáo dục tách biệt trẻ em có cùng dạng
khuyết tật vào cơ sở giáo dục riêng.
Những trẻ có cùng dạng, cùng mức độ khuyết tật được theo học một chương
trình riêng và với phương pháp riêng biệt.
Hầu hết các trường, lớp chuyên biệt tập trung vào hỗ trợ sự phát triển các kĩ
năng cá nhân và kĩ năng xã hội để học sinh có thể sống độc lập tới mức tối đa
sau khi hoàn thành xong chương trình.
Ví dụ như có trường dành riêng cho trẻ khiếm thị, khiếm thính, khuyết tật trí
tuệ.
Ưu, nhược điểm của Giáo dục chuyên biệt:

- Ưu điểm của phương thức giáo dục chuyên biệt là rất có hữu ích đối với
những trẻ khuyết tật vừa và nặng, cần phải có chế độ chăm sóc, trị liệu, phục hồi
chức năng đặc biệt;
Phương tiện, trang thiết bị chuyên dùng cho từng loại khuyết tật được đầu tư;
Giáo viên được đào tạo bài bản chuyên sâu nên việc chăm sóc và trị liệu cho trẻ
khuyết tật được tốt hơn.
- Nhược điểm: Giáo dục chuyên biệt có một số hạn chế là nhiều khi không đánh
giá đúng, tích cực về khả năng và tiềm năng của trẻ, sự tách biệt trẻ ra khỏi môi

9



Bản chất của giáo dục hòa nhập là mọi trẻ em được học trong môi trường giáo
dục mà trong đó, trẻ có điều kiện và cơ hội để lĩnh hội những tri thức mới theo
nhu cầu và khả năng của mình.
Ưu điểm, nhược điểm của giáo dục hòa nhập:
Ưu điểm của giáo dục hòa nhập là trong giáo dục hòa nhập, trẻ khuyết tật được
học ở môi trường bình thường, học ở trường gần nhà nhất.
Chương trình học cũng như với các chương trình học bình thường của các bạn
khác, tuy nhiên tùy thuộc vào khả năng và mức độ khuyết tật theo các loại tật
khác nhau mà chương trình và phương pháp được điều chỉnh để phù hợp với
nhu cầu, năng lực của các em.
Giáo dục hòa nhập coi trọng sự cân đối giữa kiến thức, kỹ năng học đường và
kiến thức, kỹ năng xã hội. Môi trường giáo dục thay đổi, các em được tự do
giao lưu, giúp đỡ lẫn nhau, giúp các em phát triển toàn diện hơn và thích ứng tốt
hơn với môi trường xã hội.
Giáo dục hòa nhập tạo được cơ hội, môi trường để các lực lượng tham gia giáo
dục có điều kiện hợp tác với nhau vì mục tiêu chung.
2. Thực trạng những tác động của kỳ thị, phân biệt đối xử với người
khuyết tật tại xã Tạ xá, huyện Cẩm khê, tỉnh Phú thọ
2.1.

Giới thiệu về xã Tạ Xá, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ

Tạ Xá là một xã trung du miền núi nằm phía Tây – Nam của huyện Cẩm Khê,
tỉnh Phú Thọ. Xã Tạ Xá tiếp giáp với các xã:
+Phía đông giáp xã Chương Xá
+Phía Tây giáp Hương Lung
+Phía Nam giáp với xã Yên Tập
+Phía Bắc giáp xã xã Sơn Tình và xã Phú Khê

Chính nét văn hóa đó là rất coi trọng đời sống tâm linh, sùng bái các thế lực siêu
nhiên của bà con nơi đây đã làm củng cố thêm niềm tin rằng những người bị
khuyết tật là do họ đã làm sai trái gì đó, hoặc họ phải trả nợ cho kiếp trước của
mình hoặc tổ tiên, ông bà mình. Điều này đã dẫn đến thái độ thương hại hoặc
khinh rẻ những NKT và gia đình NKT của rất nhiều người dân xã Tạ xá.

12


Năm 2007 được sự tài trợ của Quỹ Ford, Viện Nghiên cứu Phát triển xã hội
(ISDS) đã tiến hành khảo sát 4 tỉnh thành ở Việt Nam trong đó có tỉnh Phú Thọ
và đưa ra một vài con số thống kê sau đây về quan điểm của cộng đồng về
người khuyết tật - qua đó cho thấy sự phân biệt đối xử là lớn như thế nào:

Thái độ của cộng đồng với người khuyết tật

Tỉ lệ quan điểm
đồng ý

Đáng thương

98% đến 99%

Người khuyết tật là người ỷ lại

18% đến 32%
40%

đến


Kỳ thị dưới góc độ hành vi: Đó là các hành vi như từ chối, ngược đãi, phỉ bang,
không giúp đỡ, ngăn cản NKT. Những sự kỳ thị này được thể hiện rất rõ trong
ngôn ngữ khi nói về khuyết tật hay NKT .Những từ ngữ để gọi tên các khuyết
tật hay người khuyết tật thường vô tình hay hữu ý hàm chứa sự coi thường,
thương hại. Điều này tác động tiêu cực tới tâm lý của người khuyết tật. Chẳng
hạn như khi nói về NKT khiếm thính rất nhiều người sử dụng những từ ngữ tiêu
cực như: điếc, lòi, hay là thần kinh, điên, chập mạch…khi nói về NKT tâm thần.
Cũng bởi trình độ dân trí không cao cũng đã làm cho người dân xã Tạ Xá không
ý thức được hết những tác động tiêu cực của việc kỳ thị , phân biệt đối xử với
NKT đến NKT và gia đình họ cũng như cộng đồng, xóm làng của mình. Vì
thiếu hiểu biết nên họ cũng không cho rằng những thái độ, hành vi của mình với
NKT là đang kỳ thị và phân biệt đối xử. Họ vô tư dùng những từ ngữ tiêu cực
như: thần kinh, rồ, tàn tật ấy để nói về những NKT hoặc thậm chí là để nói
chuyện với những NKT.
2.3.

Biểu hiện của sự kỳ thị, phân biệt đối xử với người khuyết tật trong
các lĩnh vực

Trong giáo dục: NKT bị phân biệt đối xử trong giáo dục
 Nhận thức chung của người dân xã Tạ xá về nhu cầu học tập của NKT
còn thấp
 NKT đi học có ảnh hưởng đến người không KT: rất nhiều người dân nơi
đây coi khuyết tật như một căn bệnh truyền nhiễm, một thứ gì đó không
tốt đẹp và có thể lây truyền sang cho người khác.
 Học sinh khuyết tật(HSKT) gặp nhiều khó khăn ở nơi học tập:

14



Trong tham gia các hoạt động xã hội
• Tuỳ theo từng dạng KT, có từ 11-63% người dân cho rằng NKT
không nên tham gia các hoạt động cộng đồng;
• Hệ quả: 85.5% NKT không tham gia vào bất kỳ tổ chức nào ở địa
phương;
• 81% NKT không tham gia vào các hoạt động văn hoá, thể dục, thể
thao trong cộng đồng của mình.
Trong lĩnh vực giao thông, đi lại: Hiện nay, hầu hết các trường học, cơ sở y tế,
đường xá tại Tạ Xá chưa được xây dựng theo hướng thân thiện với NKT.
2.4.

Nguyên nhân của sự kỳ thị, phân biệt đối xử với NKT

Nguyên nhân từ phía các cấp chính quyền Nhà nước: Công tác tuyên truyền,
vận động về các vấn đề liên quan đến người khuyết tật, cũng như về các chủ
trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đã ban hành về lĩnh vực này còn
chưa thực sự sâu rộng và phát huy hiệu quả trong việc tạo sự chuyển biến về
nhận thức và hành động của các tầng lớp nhân dân.
Cùng với đó sự quan tâm của chính quyền địa phương với vấn đề kỳ thị và phân
biệt đối xử với NKT lại chưa cao nên việc triển khai các chương trình truyền
thông về vấn đề này là rất hạn chế.
Và các thông điệp , chương trình truyền thông giảm sự kỳ thị đang có những xu
hướng như:
- Bi kịch hoá hoàn cảnh
- Anh hùng hoá người khuyết tật
- Gợi ra những phản ảnh cho rằng người khuyết tật là người không bình thường,
là trường hợp đặc biệt cần trợ giúp đặc biệt
- Gắn khuyết tật với định mệnh và số phận
- Quan tâm và đưa tin quá nhiều đến cuộc sống riêng tư của NKT, chính điều
này lại càng làm cho họ thấy mình như một cá thể đặc biệt, khác biệt trong xã

biết người khuyết tật, bởi người trong gia đình sẽ không nói thật về hành vi
phân biệt đối xử của chính họ):

17


Coi thường người khuyết tật (16%);
• Coi là gánh nặng suốt cuộc đời (40%);
• Coi là vô dụng (20,7%);
• Thường xuyên lăng mạ (14,2%);
• Bỏ mặc không chăm sóc (8,5%);
• Bỏ rơi (7,1%);
• Không cho ăn (4,3%);
• Khóa/xích trong nhà (10,2%);
• Bắt đi ăn xin (1,5%).
Về tình trạng NKT tự kỳ thị thì các nghiên cứu đã chỉ ra rằng
• Chỉ có 1/5 số NKT nghĩ rằng họ “bình thường”;
• Hầu hết NKT tự cho bản thân mình là
• thấp kém hơn,


tự ti, mặc cảm,



khó hoà nhập cộng đồng,

 thường né tránh tham gia hoạt động xã hội
Chính những điều này lại càng đẩy họ rơi vào những khó khăn hơn, là rào cản
cho họ có cơ hội được hòa nhập, được phát triển.

và không đảm bảo.

 Sự kỳ thị và phân biệt đối xử làm cho NKT bị hạn chế cơ hội hòa nhập vào
các hoạt động văn hóa, chính trị, kinh tế- xã hội tại cộng đồng của NKT.
Đồng thời hạn chế cơ hội được kết hôn và sinh con của NKT. Điều đó làm
cho đời sông văn hóa, tinh thần, tình cảm của NKT bị hạn chế đi rất nhiều,
dễ dẫn tới tình trạng trầm cảm ở NKT, nhất là những trường hợp bị khuyết
tật do yếu tố bất ngờ.
Sự phân biệt đối xử đã làm cho đời sống tình cảm bị phớt lờ và ít được quan
tâm. Vì thế mà có rất ít người đang trong độ tuổi kết hôn ở đây lập gia đình
và sinh con. Đặc biệt, trong thời gian gần đây ở xã Tạ xá đã có trường hợp
một cặp đôi thanh niên anh con trai bình thường và cô gái bị khiếm thị một
mắt yêu nhau và bị gia đình ngăn cấm kịch liệt. Không đến được với nhau,
19


hai người đã rủ nhau tự tử. Thật may mắn là người nhà phát hiện ra và kịp
thời cứu chữa. Đây là câu chuyện được mang ra bàn tán và bình phẩm nhiều
nhất trong nhưng ngày sau đó. Người thương xót , người chê bai, người chế
giễu… nào là đũa mốc mà đòi chọc mâm son, lấy nhau về để làm khổ con
trai người ta ra à vân vân và vân vân nữa…Qua câu chuyện buồn này mà em
cũng thấy được phần nào sự kỳ thị, phân biệt của xã hội nói chung và người
dân ở xã Tạ Xá nói riêng về vấn đề tình yêu , kết hôn, xây dựng gia đình của
NKT là rất lớn và dường như đây đã trở thành những định kiến ăn sâu vào
trong nhận thức của những người dân nơi đây rồi.
 Những sự kỳ thị, phân biệt đối xử với những thành viên khuyết tật, giữa
những thành viên khuyết tật với thành viên không khuyết tật góp phần làm
cho bầu không khí gia đình dễ rơi vào trạng thái căng thẳng, xung đột và
mâu thuẫn với nhau.
 Những sự kỳ thị, phân biệt đối xử của mọi người xung quanh, làng xóm làm

nặng nề, xuất hiện ở khắp mọi nơi, trong hầu hết các lĩnh vực của cuộc sống ,đã
làm ngăn cản cơ hội tự lo cho bản thân, phát triển, khẳng định bản thân của
NKT. Chính vì thế, rất nhiều những NKT hiện nay còn đang phải sống phụ
thuộc vào người khác, vào nguồn trợ cấp của Nhà nước trong khi còn có khả
năng làm việc và cống hiến. Chính điều này đã làm lãng phí một phần rất lớn tài
nguyên quốc gia về nhân lực và chất xám để đầu tư cho sự phát triển của Đất
nước.
Hằng năm Nhà nước phải bỏ ra một chi phí lớn để truyền thông ngăn chặn, xóa
bỏ tình trạng kỳ thị, phân biệt đối xử với người khuyết tật.
Sự kỳ thị , phân biệt đối xử càng lớn càng làm tăng nguy cơ gây mất sự đoàn
kết trong nhân dân, làm ảnh hưởng đến khối đại đoàn kết dân tộc.
2.6.

Giải pháp

Tăng cường hơn nữa công tác tuyên truyền về xóa bỏ kỳ thị, phân biệt đối xử
với NKT. Thay đổi các hình thức, nội dung tuyên truyền còn chưa hiệu quả.
Đồng thời đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền: qua sách báo, qua các
21


phương tiện truyên thông đại chúng, panoo, áp phích, các chương trình văn hóa,
văn nghệ….
Truyền thông có hiệu quả về những tấm gương NKT xóa bỏ mặc cảm vươn lên
trong cuộc sống, truyền thông về những doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh
doanh có tiếp nhận các lao động là NKT từ đó khuyến khích các doanh nghiệp
nhận NKT vào làm việc.
Có những chính sách ưu đãi, khuyến khích nhất định cho các doanh nghiệp,
công ty, cơ sở sản xuất có lao động là NKT.
Xã hội hóa các mô hình cũng như các nguồn lực hỗ trợ cho NKT vươn lên, hòa

các chính sách, chương trình hỗ trợ của Nhà Nước cũng như địa phương dành
cho NKT và gia đình NKT.
Vận dụng vai trò là người biện hộ chính sách :để giám sát, phát hiện cũng như
đề xuất với các cơ quan có thẩm quyền để chỉnh sửa bổ sung các chính sách,
chương trình liên quan đến NKT và xóa bỏ kỳ thị, phân biệt đối xử với NKT.
Vận dụng vai trò là người tham vấn4: để tham vấn, giải tỏa tâm lý, xóa bỏ sự tự
kỳ thị của những NKT cũng như giúp họ thích ứng , đương đầu tốt với những
khó khăn, thử thách trong cuộc sống.
Vai trò là người kết nối: những NKT họ cần nhiều hơn 1 dịch vụ, sự hỗ trợ để có
thể giải quyết vấn đề. Vì thế NVXH sẽ là người giới thiệu, kết nối họ đến với
các cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ khác nhau và giúp họ tiếp cận và sử dụng
được các dịch vụ hỗ trợ đó được hiệu quả.
Để thực hiện tốt hiện tốt các vai trò của mình trên NVCTXH cần vận dụng
nhuần nhuyễn các kỹ năng của CTXH cá nhân cũng như CTXH nhóm và PTCĐ
vào quá trình làm việc của mình. Một số kỹ năng tiêu biểu đó là:
Kỹ năng lắng nghe, thấu cảm, kỹ năng giao tiếp: Những NKT thường có cảm
giác, xấu hổ, tự ti và cô đơn nên họ luôn mong muốn được chia sẻ, lắng nghe và
thấu hiểu hơn ai hết. Cũng chính vì mặc cảm bản thân nên những NKT rất nhạy
cảm với những cách giao tiếp của những người xung quanh với mình. Vì thế mà
NVXH rất cần lưu ý đến cách thức giao tiếp khi trò chuyện, làm việc với người
khuyết tật, tránh làm cho họ không vừa lòng và nghĩ rằng mình đang kỳ thị họ.
Hơn nữa NVXH sẽ vận dụng từng kiểu giao tiếp sao cho phù hợp nhất với NKT
có các laoij khuyết tật khác nhau.
23


3. Kiến nghị, đế xuất
Với cá nhân (liên hệ bản thân):
Cần học tập, trau dồi những kiến thức, kỹ năng liên quan đến lĩnh vực NKT
cũng như xóa bỏ kỳ thị, phân biệt dối xử với NKT. Đồng thời cần là người

quyền cũng như các cơ hội bình đẳng cho họ từng bước cải thiện, xóa bỏ tình
trạng kỳ thị, phân biệt đối xử với NKT. Tuy nhiên thì xuất phát từ nhiều nguyên
nhân chủ quan, khách quan khác nhau mà tình trạng này vẫn còn tồn tại và gây
nên những rào cản lớn cho NKT vươn lên , khắc phục khó khăn, hòa nhập với
cuộc sống. Để góp phần vào việc xóa bỏ kỳ thị, phân biệt đối xử với NKT cần
sự chung tay góp sức của toàn xã hội, của tất cả chúng ta. Hãy hành động vì một
xã hội không kỳ thị, không phân biệt đối xử với người khuyết tật.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status