Đề bài 02:
Phân tích nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử với người khuyết
tật. Nguyên tắc này được cụ thể hóa như thế nào trong pháp luật người khuyết
tật. Liên hệ với thực tiễn.
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU.
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.
I.
1.
2.
3.
II.
Khái quát về người khuyết tật
Khái niệm người khuyết tật
Đặc điểm của người khuyết tật
Khái niệm luật người khuyết tật
Phân tích nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử với
1.
người khuyết tật
Phân tích nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử với người
khuyết tật.
2. Biểu hiện của nguyên tắc trong luật người khuyết tật Việt Nam.
2.1.
Trong chế độ chăm sóc sức khỏe người khuyết tật.
2.2.
Trong giáo dục, dạy nghề và việc làm đối với người khuyết tật.
a. Đối với giáo dục
và không phân biệt đối xử với người khuyết tật. Nguyên tắc này được cụ thể
hóa như thế nào trong pháp luật người khuyết tật. Liên hệ với thực tiễn.”.
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.
I.
1.
Khái quát về người khuyết tật
Khái niệm người khuyết tật
Có rất nhiều cách định nghĩa người khuyết tật. Cụ thể theo khoản 1
Công ước số 159 của ILO thì: “người khuyết tật dùng để chỉ một cá nhân
mà khả năng có một việc làm phù hợp, trụ lâu dài với công việc đó và khả
năng thăng tiến với nó bị giảm sút đáng kể do hậu quả của một khiếm
khuyết về thể chất và tâm thần được thừa nhận”.
Điều 1 Công ước về quyền của người khuyết tật của Liên hợp quốc năm
2006 thì: “ người khuyết tật bao gồm những người bị suy giảm về thể chất,
thần kinh, trí tuệ hay giác quan trong một thời gian dài, có ảnh hưởng qua
lại với hàng loạt những rào cản có thể cản trở sự tham gia đầy đủ và hiệu
quả của người khuyết tật vào xã hội trên cơ sở bình đẳng với những người
khác.”
2
Theo pháp luật Việt Nam thì: “ người khuyết tật có một hoặc nhiều bộ
phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng dẫn đến những hạn chế đáng kể và
lâu dài trong việc tham gia của người khuyết tật vào hoạt động xã hội trên
cơ sở bình đẳng với những chủ thể khác.”
Có thể thấy trên thế giới có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về
người khuyết tật nhưng tựu chung lại ta thấy tất cả các định nghĩa đó đều
ánh sáng, màu sắc, hình ảnh, sự vật trong điều kiện ánh sáng và môi trường
bình thường.
4. Khuyết tật thần kinh, tâm thần là tình trạng rối loạn tri giác, trí nhớ,
cảm xúc, kiểm soát hành vi, suy nghĩ và có biểu hiện với những lời nói, hành
động bất thường.
5. Khuyết tật trí tuệ là tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhận thức, tư
duy biểu hiện bằng việc chậm hoặc không thể suy nghĩ, phân tích về sự vật,
hiện tượng, giải quyết sự việc.
6. Khuyết tật khác là tình trạng giảm hoặc mất những chức năng cơ thể
khiến cho hoạt động lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn mà không
thuộc các trường hợp được quy định tại các Khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều này.
1.
Khái niệm luật người khuyết tật
Người khuyết tật - trước hết là một con người, nhưng so với những
người bình thường họ có những điểm không bình thường. Do đó luật người
khuyết tật vừa đảm bảo cái chung đồng thời chứa đựng cái riêng. Theo đó “
luật người khuyết tật là tổng thể các quy phạm pháp luật do nhà nước ban
hành hoặc thừa nhận điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá
trình đảm bảo các quyền và trách nhiệm của người khuyết tật”.
II.
Phân tích nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử với
1.
người khuyết tật.
Phân tích nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử với người
khuyết tật.
đối xử, có thể được thể hiện bằng nhiều cách khác nhau trong luật pháp.
Bình đẳng trên danh nghĩa
Theo quan điểm chính thống về sự bình đẳng, những người ở trong
hoàn cảnh như nhau cần được đối xử giống nhau. Quan điểm này thường
không tính đến sự khác biệt và bất lợi của từng cá nhân và hoàn cảnh cứ
như thể những yếu tố này không có liên quan gì. Trong khi không cho phép
5
đối xử người này hơn hoặc kém người kia, người ta lại không đặt ra về quy
định phải có những điều chỉnh và cải thiện cần thiết. Do vậy, quan điểm
này không phù hợp khi phải đáp ứng nhu cầu của một số đối tượng là
người khuyết tật.
Bình đẳng về cơ hội
Bình đẳng có thể được định nghĩa theo một cách khác, đó là bình đẳng
về cơ hội. Khái niệm này quy định về sự bình đẳng trong cơ hội chứ không
nhất thiết phải là bình đẳng về kết quả. Cách nhìn này, thừa nhận vai trò
quan trọng của những khác biệt của cá nhân và tập thể đồng thời nhận
diện những rào cản bên ngoài mà người khuyết tật gặp phải có thể cản trở
họ tham gia vào xã hội. Định kiến và môi trường không tiếp cận đều được
coi là những vật cản đối sự tham gia toàn diện vào đời sống xã hội của
người khuyết tật.Theo cách nhìn nhận này, tình trạng khuyết tật không
phải là vấn đề quan trọng mà chính những định kiến mới là cơ sở cho vấn
đề cần giải quyết, và phải nhất thiết tính đến những định kiến này nếu
muốn tạo ra những thay đổi cho môi trường xã hội cũng như môi trường
vật thể để tạo điều kiện cho người khuyết tật tiếp cận và hòa nhập cùng xã
hội.
Bình đẳng về kết quả
Bình đẳng về kết quả là sự bảo đảm các kết quả là như nhau đối với tất
cả mọi người. Nếu nhìn nhận sự bình đẳng theo góc độ này, sự khác biệt
theo đó người khuyết tật được hưởng một hoặc nhiều chế độ trong quá
trình chăm sóc sức khỏe.
Tiếp cận dịch vụ y tế: Người khuyết tật có quyền hưởng các dịch vụ
chăm sóc sức khỏe đạt tiêu chuẩn cao nhất mà không bị phân biệt đối xử vì
lý do khuyết tật. Việc hưởng dịch vụ y tế đối với người khuyết tật là thiết
yếu nhằm phục hồi chức năng, sức khỏe và khả năng lao động, học tập. Cụ
thể như:
Thứ nhất, cung cấp cho người khuyết tật các dịch vụ và chương trình y
tế cùng mức, có chất lượng, đạt tiêu chuẩn, miễn phí hoặc thu phí có thể
chấp nhận được , tương tự như cung cấp dịch vụ cho những người không
7
khuyết tật khác. Thứ hai, cung cấp các dịch vụ y tế cần thiết cần theo dạng
tật của họ, bao gồm phát hiện sớm và can thiệp sớm, nếu phù hợp và các
dịch vụ được thiết kế nhằm giảm thiểu và ngăn ngừa khuyết tật, bao gồm
trẻ em và người cao tuổi. Thứ ba, cung cấp các dịch vụ y tế này ở những nơi
càng gần với cộng đồng mà người khuyết tật sinh sống càng tốt, kể cả ở
vùng nông thôn. Đặc biệt cũng phải ngăn chặn sự từ chối cung cấp dịch vụ
chăm sóc sức khỏe hoặc chăm sóc y tế, hoặc thực phẩm và thức uống mang
tính phân biệt đối xử vì lý do khuyết tật.
Hỗ trợ chức năng và phục hồi chức năng: Người khuyết tật cần được hỗ
trợ và phụ hồi chức năng nhằm tăng cường khả năng hòa nhập của họ vào
đời sống xã hội
II.2.
Trong giáo dục, dạy nghề và việc làm đối với người khuyết tật.
a. Đối với giáo dục
Người khuyết tật cũng có nhu cầu học tập để có kiến thức như những
người bình thường khác. Nhưng vì bị khiếm khuyết nên việc học của họ trở
Đối với việc làm
Người khuyết tật cũng là người nên họ cũng có quyền được đối xử bình
đẳng như những người khác trên mọi lĩnh vực đặc biệt là lĩnh vực lao động
việc làm.(điều 33 luật người khuyết tật).
Việc ngăn cấm phân biệt đối xử không có nghĩa là quy cho mọi hình thức
phân biệt đối với người lao động và người tìm việc làm là trái pháp luật.
Người sử dụng lao động có quyền yêu cầu người lao động và người tìm việc
phải có những kỹ năng và trình độ cần thiết mà công việc hoặc môi trường
công việc đòi hỏi – và những yêu cầu này là chính đáng. Những yêu cầu
hoàn toàn chính đáng như vậy của công việc này có thể dẫn đến khả năng
loại trừ một số người khuyết tật khỏi danh sách người có khả năng tham
gia làm việc, nhưng những trường hợp như vậy không được coi là phân
biệt đối xử.
Ví dụ, khi một công ty taxi yêu cầu người tìm việc có bằng lái xe, thì công
ty này không thể nhận những người bị mù và những người vì lý do sức
khoẻ mà không thể có bằng lái xe. Những yêu cầu về bằng lái xe trong
trường hợp như trên là hợp pháp và vừa phải và do vậy nó được coi là một
yêu cầu đơn thuần mang tính nghề nghiệp hoặc là yêu cầu chính đáng.
9
Một hành vi chỉ bị coi là phân biệt đối xử khi người sử dụng lao động đối
xử không có lợi cho ứng viên hoặc người lao động vì lý do người này bị
khuyết tật, mặc dù việc người đó mang khuyết tật không ảnh hưởng hoặc
hầu như không ảnh hưởng đến công việc và có thể bỏ qua.
Các hình thức phân biệt đối xử khác nhau có thể được phân loại như
sau:
Phân biệt đối xử trực tiếp xảy ra khi một người bị đối xử kém hơn so
người khác có cùng hoàn cảnh vì một lý do là người đó có đặc điểm nhất
khác nhau nên việc hưởng thụ và tham gia đối với họ hoàn toàn không đơn
giản. Trên cơ sở đó, Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật năm
2006 xác định các quốc gia thành viên cam kết thực hiện các biện pháp phù
hợp nhằm khuyết khích và thúc đẩy người khuyết tật tham gia một cách
đầy đủ nhất vào các hoạt động thể thao, đảm bảo rằng người khuyết tật
tiếp cận được các địa điểm du lịch… ( điều 30 khoản 5 công ước). Là một
quốc gia thành viên đã kí kết tham gia và đang trong quá trình phê chuẩn
công ước, Việt Nam cũng có những quy định pháp luật quốc gia phù hợp để
đảm bảo thực hiện cam kết này. Điều 36 khoản 1 và 3 luật người khuyết tật
xác định nhà nước và xã hội tạo điều kiện để người khuyết tật được hưởng
thụ văn hóa, thể dục, thể thao, giải trí và du lịch cũng như tạo điều kiện đẻ
họ phát triển tài năng, năng khiếu về văn hóa, nghệ thuật và thể thao hoặc
tham gia sáng tác, biểu diễn nghệ thuật, luyện tập và thi đấu thể thao.
b.
Đối với việc sử dụng công trình, dịch vụ công công.
Nhằm đảm bảo các công trình xây dựng nói chung nhà chung cư và công
trình công cộng nói riêng có đủ điều kiện cho người khuyết tật tiếp cân và sử
dụng , nghĩa là công trình đó tạo dựng được môi trường kiến trúc mà người
khuyết tật có thể đến và sử dụng được các không gian chức năng trong công
trình; Bộ xây dựng đã ban hành bộ quy chuẩn và tiêu chuẩn xây dựng công
trình.Theo quy chuẩn xây dựng do Bộ Xây dựng ban hành năm 2002, các loại
công trình phải đảm bảo cho người khuyết tật tiếp cận sử dụng gồm: công
trình y tế, cơ quan hành chính các cấp (trụ sở Uỷ ban nhân dân, tòa án, viện
kiểm sát...), các công trình giáo dục, công trình thể thao, công trình văn hóa,
công trình dịch vụ công cộng (khách sạn, nhà ga xe lửa, bến xe, bưu điện,
trung tâm thương mại, chợ...), nhà chung cư, đường và vỉa hè. Tiêu chuẩn Việt
11
mục dành riêng cho họ. Tuy vậy, có những nơi trong một thời gian dài không
có người khuyết tật nào sử dụng gây lãng phí”.
Luật người khuyết tật đã quy định, người khuyết tật có quyền được sử
dụng các công trình công cộng như những người bình thường khác một cách
bình đẳng. Đó là quyền lợi chính đáng họ được hưởng chứ không phải do sự
giúp đỡ hay ban ơn của xã hội. Việc người khuyết tật chưa được quan tâm
đúng mức là do nhận thức của xã hội nói chung về quyền lợi của người
khuyết tật chưa đầy đủ và còn nhiều hạn chế. Điều này đã khiến họ thêm mặc
cảm, khó hòa nhập với cộng đồng. Do vậy, trong thời gian tới, các cơ quan
chức năng cần tăng cường tuyên truyền, nâng cao ý thức của mỗi người dân
về quyền của người khuyết tật, đồng thời, nhà nước nên có chế tài và giám sát
chặt chẽ việc thực hiện các quy định về xây dựng công trình tiếp cận người
khuyết tật của các chủ đầu tư, tránh tình trạng quy định chỉ nằm trên giấy!
II.4.
Bảo trợ xã hội
Ở Việt Nam có thể hiểu bảo trợ xã hội là sự giúp đỡ của nhà nước, xã hội
và cộng đồng bằng những biện pháp và các hình thức khác nhau đối với
các đối tượng gặp phải rủi ro, bất hạnh, nghèo đói… vì nhiều nguyên nhân
dẫn đến không đủ khả năng tự lo liệu được cuộc sống tối thiểu của bản
than và gia đình nhằm giúp họ tránh được mối đe dọa của cuộc sống
thường nhật, giúp họ vượt qua khó khăn, ổn định cuộc sống, hòa nhập cộng
đồng.
Với Việt Nam bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật được quan tâm từ
rất sớm và thực sự được ghi nhận trong pháp lệnh người tàn tật năm 1998
và một số pháp luật chuyên ngành khác. Đặc biệt kể từ khi luật người
khuyết tật 2010 có hiệu lực thì chế độ bảo trợ đối với người khuyết tật chủ
phải trả chi phí sử dụng xe lăn từ máy bay ra nhà ga khá tốn kém.
Ở Việt Nam vẫn chưa có một hệ thống đồng bộ về giao thông, công
trình xây dựng, vệ sinh, … để người khuyết tật hòa nhập cộng đồng dễ dàng.
Đường tiếp cận cho người dùng xe lăn, thiết bị hỗ trợ hướng dẫn bằng âm
thanh cho người khiếm thị ở các hè phố, tòa nhà, bến xe, xe buýt là không
có hoặc chỉ tính trên đầu ngón tay. Bộ Xây dựng đã ban hành bộ quy chuẩn
xây dựng công trình để người khuyết tật dễ tiếp cận nhưng vì không có chế
14
tài nên hầu hết các công trình đều không thực hiện. Rất nhiều công trình
xây dựng trong nước đều xây dựng các bậc tam cấp cao, hoành tráng mà
quên đi trách nhiệm đối với người khuyết tật.
Có thể nói, người khuyết tật trở thành tàn tật là do thiếu cơ hội để
tham gia các hoạt động xã hội và có một cuộc sống giống như thành viên
khác. Bên cạnh việc quan trọng là đóng góp giải quyết việc làm để người
khuyết tật hòa nhập vào cộng đồng, để người khuyết tật không cảm thấy
mình là gánh nặng của xã hội, mỗi người trong chúng ta cũng nên có nhận
thức, có văn hóa đối xử với người khuyết tật, coi đó là những thành viên
bình đẳng trong xã hội. Rõ ràng chúng ta phải công nhận những đóng góp
hiện tại và tiềm năng có giá trị mà người khuyết tật đã cống hiến cho sự
thịnh vượng và đa dạng của cộng đồng.
Dưới đây là một số hình ảnh minh họa:
Tiếp cận giao thông công cộng bình đẳng
Bình đẳng trong tìm kiếm việc làm
15
Luật người khuyết tật Việt Nam năm 2010.
17
5.
Nghị định số 28/2012/NĐ-CP QUY ĐỊNH CHI TIẾT VÀ HƯỚNG
DẪN THI HÀNH MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT NGƯỜI KHUYẾT
TẬT
Hướng tới cơ hội việc làm bình đẳng cho người khuyết tật thông qua
6.
hệ thống pháp luật, tài liệu hướng dẫn của ILO.
Một số web:
4.
www.ilo.org/hanoi/Whatwedo/Publications/WCMS.../index.htm
www.office33.gov.vn/front.../index.php?type
vietbao.vn/Xa-hoi/Binh-dang-cho-nguoi-khuyet-tat/30061143/126
www.gslhcm.org.vn/contents/hoat_dong...nguoi...
dphanoi.org.vn/index.php?option=com_content&task...id...
18