ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
HÒA THỊ THỦY
BÌNH ĐẲNG VÀ CHỐNG PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ VỚI
NGƢỜI KHUYẾT TẬT TRONG PHÁP LUẬT QUỐC TẾ
VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM: PHÂN TÍCH VÀ SO SÁNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
HÒA THỊ THỦY
BÌNH ĐẲNG VÀ CHỐNG PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ VỚI
NGƢỜI KHUYẾT TẬT TRONG PHÁP LUẬT QUỐC TẾ
VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM: PHÂN TÍCH VÀ SO SÁNH
Chuyên ngành
Mã số
: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
: 60 38 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
pháp-Hành chính đã tạo điều kiện giúp đỡ trong suốt thời gian khóa học và thực
hiện luận văn.
Xin cảm ơn các bạn đồng môn đã trao đổi thảo luận và cung cấp những
thông tin tư liệu hữu ích liên quan đến đề tài luận văn.
Cuối cùng, xin đặc biệt cảm ơn gia đình và những người bạn đã ủng hộ, động
viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 9/2015
Hòa Thị Thủy
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGƢỜI KHUYẾT TẬT, BÌNH ĐẲNG
VÀ CHỐNG PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ VỚI NGƢỜI KHUYẾT TẬT ........... 8
1.1. Tổng quan một số vấn đề lý luận về người khuyết tật .........................................8
1.1.1. Khái niệm ................................................................................................ 8
1.1.2. Phân loại người khuyết tật .................................................................... 12
1.1.3. Đặc điểm, vị trí, vai trò của người khuyết tật ....................................... 13
2.2.1. Việc sử dụng thuật ngữ “người khuyết tật” .......................................... 47
2.2.2. Về nội dung định nghĩa “người khuyết tật”. ......................................... 48
2.2.3. Đảm bảo quyền một số nhóm người khuyết tật đặc thù ....................... 49
2.2.4. Đảm bảo quyền của người khuyết tật trong một số lĩnh vực cụ thể. .... 52
2.2.4.1. Quyền về dạy nghề và việc làm đối với người khuyết tật ....... 52
2.2.4.2. Quyền về tiếp cận hạ tầng giao thông, công cộng ................... 59
2.2.4.3. Quyền được chăm sóc y tế và phục hồi chức năng ................. 63
2.2.4.4. Quyền về giáo dục – đào tạo.................................................... 67
2.2.4.5. Quyền về văn hóa, thể thao, giải trí, du lịch ............................ 71
2.2.4.6. Quyền được bảo trợ xã hội ...................................................... 73
2.2.4.7. Quyền tiếp cận truyền thông, công nghệ thông tin .................. 75
2.2.5. Đánh giá chung ..................................................................................... 77
Chƣơng 3
QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT BẢO ĐẢM VỀ
BÌNH ĐẲNG VÀ CHỐNG PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ VỚI NGƢỜI
KHUYẾT TẬT TẠI VIỆT NAM ................................................................. 85
3.1. Yêu cầu hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền bình đẳng và chống phân biệt đối
xử với người khuyết tật Việt Nam hiện nay ..............................................................85
3.1.1. Bối cảnh trong nước và yêu cầu hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền của
người khuyết tật............................................................................................... 85
2
3.1.2. Tình hình người khuyết tật tại Việt Nam và yêu cầu thúc đẩy, bảo đảm
quyền của người khuyết tật trên thực tế .......................................................... 89
3.1.3. Quan điểm về việc bảo đảm quyền bình đẳng và chống phân biệt đối xử
với người khuyết tật trong thời gian tới. ......................................................... 93
3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về người khuyết tật tại Việt Nam .....................95
: Công ước quốc tế về quyền của trẻ em
ILO
: Tổ chức Lao động quốc tế
ICESCR
: Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa
ICCPR
: Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị
LĐTB&XH
: Lao động, Thương Binh và Xã hội
LHQ
: Liên Hiệp Quốc
NKT
: Người khuyết tật
TKT
: Trẻ khuyết tật
chiến tranh, tình trạng khuyết tật còn do tai nạn lao động, tai nạn giao thông, tai nạn
thương tích... Dự báo trong nhiều năm tới số lượng NKT ở Việt Nam chưa giảm do
tác động của ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng của chất độc hóa học do Mỹ sử dụng
trong chiến tranh, tai nạn giao thông và tai nạn lao động, hậu quả thiên tai…
Xuất phát từ tư tưởng cho rằng tất cả mọi người, bất kể họ khác nhau về trí
lực, thể lực và các đặc điểm khác, đều có giá trị và tầm quan trọng ngang nhau.
Mỗi một con người đều có quyền được hưởng và cần được nhận sự quan tâm và tôn
trọng như nhau. Đây chính là nguyên tắc bình đẳng trong nhiều văn bản pháp luật
của mỗi quốc gia và pháp luật quốc tế. Đối với NKT, việc bản thân họ tham gia vào
cuộc sống và duy trì cuộc sống đã là một khó khăn, do đó vấn đề bình đẳng với
1
NKT là thực sự cần thiết để bảo vệ họ trong cuộc sống. Tuy nhiên, sự bình đẳng mà
chúng ta nói đến ở đây không phải là sự đối xử như nhau đối với những nhóm đối
tượng giống nhau, mà được hiểu theo một cách khác, đó là bình đẳng về cơ hội. Có
nghĩa là cần phải xóa bỏ các rào cản rào cản bên ngoài mà NKT gặp phải có thể cản
trở họ tham gia toàn diện vào đời sống xã hội. Theo cách tiếp cận này, tình trạng
khuyết tật không phải là vấn đề quan trọng mà chính những định kiến mới là cơ sở
cho vấn đề cần giải quyết, và phải nhất thiết tính đến những định kiến này nếu
muốn tạo ra những thay đổi cho môi trường xã hội cũng như môi trường thể chế để
tạo điều kiện cho NKT tiếp cận và hòa nhập cùng xã hội.
Nhà nước Việt Nam luôn khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho NKT
thực hiện bình đẳng các quyền về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và phát huy khả
năng của mình để ổn định đời sống, hoà nhập cộng đồng, tham gia các hoạt động
xã hội. Người khuyết tật được Nhà nước và xã hội trợ giúp chăm sóc sức khoẻ,
phục hồi chức năng, tạo việc làm phù hợp và được hưởng các quyền khác theo quy
định của pháp luật. Quan điểm này được phản ánh trong các bản Hiến pháp của
Việt Nam (năm 1946, 1959, 1980, 1992) khẳng định NKT là công dân, thành viên
ngoài nước dưới nhiều góc độ khác nhau.
- Các công trình khoa học nước ngoài:
Trên thế giới hiện có rất nhiều công trình nghiên cứu về quyền của NKT,
pháp luật quốc tế, pháp luật của các quốc gia về quyền của NKT, luận văn chỉ đề
cập đến một số công trình tiêu biểu như sau:
+ Dưới góc độ pháp luật quốc tế, có sách “Quyền con người và vấn đề người
khuyết tật" (Human Rights and Disabilily) của các tác giả - chủ biên Gerard Quinn
và Theresia Degener, do LHQ xuất bản, tại Geneva- Thụy Sĩ năm 2002. Đây là
công trình nghiên cứu về việc áp dụng hiện tại và khả năng áp dụng trong tương lai
các quy định của các văn kiện quốc tế về quyền con người từ góc độ bảo vệ quyền
của NKT; yêu cầu các quốc gia phải nỗ lực cải cách pháp luật, chính sách để bảo
đảm quyền của NKT.
+ Dưới góc độ nghiên cứu chính sách, pháp luật của các quốc gia, có một số
công trình sau:
Sách “Pháp luật, Quyền và vấn đề người Khuyết tật" (Law, Rights, and
Disability) do Jeremy Cooper làm chủ biên, Nhà xuất bản Jessica Kmgsley, năm
3
2000, tại Vương quốc Anh. Công trình đề cập đến thực trạng và những nỗ lực trong
việc nâng cao vị thế của NKT ở Anh và trên thế giới; vấn đề các quyền của NKT;
vai trò của pháp luật; của chính những NKT trong việc hiện thực hoá những cam
kết toàn cầu về quyền của NKT.
Sách "Những quyền của người khuyết tật (Disability Rights), do Justin
Healey làm chủ biên, Nhà xuất bản The Spliney, Sydney. Australia, năm 2005. Các
tác giả đưa ra đình nghĩa về NKT; nội dung Luật chống phân biệt NKT và cơ chế
khiếu nại vi phạm; các vấn đề thực tiễn về NKT như: hệ thống chăm sóc cộng đồng;
NKT tại nơi làm việc; doanh nghiệp với vấn đề tuyển dụng NKT; tiếp cận bình
đắng về lntemet cho NKT ở Australia.
Bên cạnh đó còn có một số báo nghiên cứu, đề tài, luận văn, luận án tiến sĩ
nghiên cứu về nội dung này như: Luận án Tiến sĩ của TS. Nguyễn Thị Báo: “Hoàn
thiện pháp luật về quyền của người khuyết tật ở Việt Nam hiện nay”, luận án đi sâu
vào nghiên cứu thực trạng pháp luật Việt Nam để đưa ra những giải pháp hoàn thiện
góp phần xây dựng Luật Người khuyết tật; Báo cáo của UNICEF và Bộ LĐTB&XH
năm 2009 nghiên cứu về việc “Tạo lập một môi trường bảo vệ trẻ em tại Việt Nam:
đánh giá luật và những chính sách bảo vệ trẻ em, đặc biệt là trẻ em có những hoàn
cảnh đặc biệt tại Việt Nam”; TS. Tường Duy Kiên với “Báo cáo phân tích so sánh
Luật quốc tế và Luật Việt Nam về quyền của trẻ em khuyết tật” (2009).
Ngoài ra, còn có một số bài nghiên cứu dưới dạng các tham luận được trình
bày tại các buổi toạ đàm và hội thảo, các bài báo, tạp chí như: các bài tham luận tại
“Hội nghị đánh giá 7 năm triển khai thi hành Pháp lệnh về người tàn tật (1998 2005); TS. Nguyễn Thị Báo “Các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa của người khuyết
tật trong pháp luật Việt Nam”, Tạp chí Luật học số 6/2005; TS. Trần Thái Dương
“Phê chuẩn Công ước về quyền của người khuyết tật và việc thực thi nghĩa vụ
thành viên công ước”...
Tuy nhiên, các công trình nói trên còn để lại nhiều thoảng trống, chưa đề
cập một cách toàn diện đến vấn đề bình đẳng và chống phân biệt đối xử với NKT
trong pháp luật quốc tế và Việt Nam là nội dung trọng tâm của luận văn này.
3. Mục tiêu nghiên cứu
3.1. Mục tiêu tổng quát: Phân tích, đánh giá pháp luật Việt Nam và pháp
luật quốc tế liên quan đến việc bảo đảm bình đẳng và chống phân biệt đối xử với
5
NKT; rút ra những bất cập, hạn chế trong pháp luật Việt Nam; từ đó đề xuất những
giải pháp hoàn thiện phù hợp.
3.2. Mục tiêu cụ thể:
- Phân tích, làm rõ một số vấn đề chung về NKT, nguyên tắc bình đẳng và
không phân biệt đối xử với NKT để cho thấy sự cần thiết phải bảo đảm bình đẳng
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận văn được cơ cấu
thành 3 chương.
Chương 1: Những vấn đề chung về NKT, bình đẳng và chống phân biệt đối
xử với người khuyết tật.
Chương 2: Pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về bình đẳng và chống
phân biệt đối xử với người khuyết tật.
Chương 3: Quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật về bình đẳng và
chống phân biệt đối xử với người khuyết tật tại Việt Nam.
7
Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGƢỜI KHUYẾT TẬT, BÌNH ĐẲNG VÀ
CHỐNG PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ VỚI NGƢỜI KHUYẾT TẬT
1.1. Tổng quan một số vấn đề lý luận về ngƣời khuyết tật
1.1.1. Khái niệm
Liên quan đến khái niệm “người khuyết tật”, có nhiều quan niệm, cách hiểu
khác nhau ở cả khía cạnh không gian và thời gian, tuy nhiên, có thể khái quát thành
hai nhóm quan điểm lớn đó là:
Nhóm quan điểm thứ nhất cho rằng vấn đề khuyết tật là ở tại chính con người
đó, vì thế chú trọng rất ít hoặc không để ý gì đến các yếu tố về môi trường xã hội và
môi trường vật thể xung quanh người đó. Theo mô hình này, một người bị suy giảm
khả năng vận động sẽ bị rơi vào hoàn cảnh khuyết tật do sự suy giảm chức năng của
riêng cá nhân đó. Người ấy có thể cố gắng vượt qua các hạn chế về chức năng do
tình trạng khuyết tật gây ra bằng cách điều trị y khoa và/hoặc sử dụng các dụng cụ
trợ giúp y tế, ví dụ như xe lăn hoặc nạng. Quan điểm này tập trung vào sự khiếm
khuyết về thể trạng, tinh thần, thính giác, thị giác, sức khỏe tâm thần…, và NKT
cần được hỗ trợ, chăm sóc, họ không thể và không đủ khả năng chăm lo cho cuộc
khuyết tật – là người có sự khác biệt về khả năng và hạn chế do khiếm khuyết về
giác quan, vận động và tâm thần để thực hiện một hoạt động được coi là bình
thường”.
Nhược điểm của các quan điểm nêu trên là nhìn nhận NKT là một vấn đề của
xã hội và cần có giải pháp để làm người đó “bình thường” [5, tr10], vì vậy dễ làm
NKT cảm thấy bị xúc phạm. Luật pháp cần sử dụng thuật ngữ một cách nhất quán và
phải thể hiện sự tôn trọng nhân phẩm con NKT.
Nhóm quan điểm thứ hai cho rằng khuyết tật là một sản phẩm của xã hội.
Vấn đề khuyết tật bắt nguồn từ việc môi trường vật thể và môi trường xã hội không
đáp ứng được những nhu cầu của từng cá nhân hoặc các nhóm đối tượng cụ thể.
Theo mô hình xã hội về khuyết tật, sự suy giảm khả năng đi lại cần được xem xét
trong bối cảnh xã hội và môi trường xung quanh. Xóa bỏ những rào cản xã hội và
đảm bảo sự tiếp cận với môi trường vật thể có ý nghĩa tích cực trong việc giảm bớt
hoặc vượt qua được những hạn chế giúp NKT hoạt động và tham gia vào mọi mặt
cuộc sống [13].
9
Khái niệm này mang ý nghĩa bao quát hơn khái niệm mô hình khuyết tật cá
nhân, và có ý nghĩa bảo vệ những NKT khỏi bị phân biệt đối xử. Khái niệm có đối
tượng bảo vệ rộng hơn, bao gồm cả những người có khuyết tật nhẹ, những người
sống chung với NKT, những người bị gán cho danh nghĩa khuyết tật cũng có thể bị
ảnh hưởng bởi sự phân biệt đối xử. Có một số văn kiện pháp lý quốc tế định nghĩa
về NKT theo quan niệm này, chẳng hạn như: Công ước số 159 của ILO về phục hồi
chức năng lao động và việc làm của người khuyết tật (năm 1983) quy định: “Người
khuyết tật dùng để chỉ một cá nhân mà khả năng có một việc làm phù hợp, trụ lâu
dài với công việc đó và thăng tiến với nó bị giảm sút đáng kể do hậu quả của một
khiếm khuyết về thể chất và tâm thần được thừa nhận” (khoản 1, Điều 1); Công ước
về Quyền của người khuyết tật của Liên hợp quốc (năm 2006) quy định: “Người
tật là một bệnh nhân cần điều trị hoặc cần từ thiện. Thay vào đó, CRPD công nhận
“mô hình xã hội” của khuyết tật. Theo mô hình xã hội này, khuyết tật là một phần
của trải nghiệm nhân loại; khuyết tật tự nó không giảm bớt quyền của trẻ em và
người lớn được lựa chọn và kiểm soát cuộc đời mình, được sống trong một môi
trường hòa nhập, được tham gia đầy đủ và đóng góp cho cộng đồng của mình
thông qua kết nhập và hòa nhập đầy đủ vào dòng chảy cuộc sống về kinh tế, chính
trị, xã hội, văn hóa và giáo dục. Hơn thế nữa, mô hình xã hội, như CRPD thừa
nhận, đặt trách nhiệm lên toàn xã hội (chứ không phải lên cá nhân NKT) phải tháo
gỡ những rào cản lý tính và thái độ đang “làm khuyết tật” những con người có
chút khiếm khuyết và cản trở họ thực hiện quyền của họ, cản trở họ hòa nhập đầy
đủ vào xã hội.
Như vậy, khái niệm người khuyết tật phụ thuộc rất nhiều vào mục tiêu mà
luật hoặc các chính sách cụ thể đó theo đuổi. Do vậy, không có một khái niệm
chung nào về khuyết tật có thể được áp dụng cho tất cả các văn bản pháp luật. Mỗi
quốc gia phải xem xét kỹ lưỡng các yếu tố kinh tế, văn hóa, lịch sử, chính sách của
quốc gia mình để đưa khái niệm phù hợp. Tuy nhiên, cũng cần khẳng định rằng
định nghĩa về NKT, dù tiếp cận dưới bất cứ góc độ nào, nhất thiết phải phản ánh
một thực tế là NKT có thể gặp các rào cản do yếu tố xã hội, môi trường hoặc con
người khi tham gia vào mọi hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Và họ phải
được đảm bảo rằng, họ có quyền và trách nhiệm tham gia vào mọi hoạt động của
đời sống như bất cứ công dân nào với tư cách là các quyền của con người [5].
11
1.1.2. Phân loại người khuyết tật
Dưới góc độ dạng khuyết tật, ở mỗi quốc gia có thể có các quy định khác
nhau về một số dạng tật, song nhìn chung hầu hết và phổ biến là các dạng khuyết tật
giống như đã được quy định tại Luật NKT Việt Nam, bao gồm: a) Khuyết tật vận
động; b) Khuyết tật nghe, nói; c) Khuyết tật nhìn; d) Khuyết tật thần kinh, tâm thầ n ;
khuyết tật trên, khuyết tật trí tuệ là tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhận thức, tư
duy biểu hiện bằng việc chậm hoặc không thể suy nghĩ, phân tích về sự vật, hiện
tượng, giải quyết sự việc. Khuyết tật thần kinh, tâm thần là tình trạng rối loạn tri
giác, trí nhớ, cảm xúc, kiểm soát hành vi, suy nghĩ và có biểu hiện với những lời
nói, hành động bất thường.
Nếu chia theo mức độ khuyết tật thì có các mức độ khuyết tật sau đây: a)
Người khuyết tật đặc biệt nặng là người do khuyết tật dẫn đến không thể tự thực
hiện việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày; b) Người khuyết tật nặng là
người do khuyết tật dẫn đến không thể tự thực hiện một số việc phục vụ nhu cầu
sinh hoạt cá nhân hàng ngày; c) Người khuyết tật nhẹ là NKT không thuộc hai
trường hợp trên.
Sự phân loại này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc thực hiện các chính
sách của nhà nước đối với NKT. Thực tế cho thấy, NKT khó có cơ hội tham gia
bình đẳng vào các hoạt động xã hội do những khiếm khuyết về cơ thể hay chức
năng, song khó khăn đó sẽ tăng thêm do ảnh hưởng bởi những rào cản khác trong
xã hội. Do đó, chính sách đối với NKT không chỉ dừng lại ở việc chăm sóc sức
khỏe, phục hồi chức năng mà còn phải tiến tới giảm thiểu hoặc xoá bỏ những rào
cản, giúp NKT chủ động hòa nhập, có cơ hội tham gia một cách bình đẳng vào các
hoạt động của xã hội.
1.1.3. Đặc điểm, vị trí, vai trò của người khuyết tật
Để có được những chính sách phù hợp bảo đảm bình đẳng thực chất cho
NKT thì cần phải có những đánh giá đầy đủ và chính xác về đặc điểm của nhóm
NKT. Những đặc điểm này sẽ là cơ sở, căn cứ quan trọng để quy định, ban hành,
thực thi, áp dụng pháp luật và chính sách với NKT. Tuy nhiên, các quy định pháp
luật, chính sách của nhà nước không phải vì NKT mà gây nên sự mất cân bằng xã
hội, cần có những điều chỉnh hợp lý để việc hòa nhập của NKT không trở thành
gánh nặng đối với “phần còn lại” của xã hội. Có như vậy, các chính sách mới có
tính khả thi và bản thân NKT không bị mặc cảm, tự ti vì sự khuyết tật. Dưới đây là
một số đặc điểm nổi bật của nhóm NKT cần được tính đến:
Người khuyết tật là một bộ phận cấu thành của xã hội không thể tách rời và
họ cũng có trách nhiệm trong việc tham gia vào các hoạt động của cộng đồng, đóng
14
góp công sức của mình vào việc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia
và cũng có quyền được hưởng đầy đủ những thành quả phát triển của nhân loại. Tuy
nhiên, khuyết tật đã gây ra nhiều khó khăn cho họ trong việc thực hiện các công
việc sinh hoạt hàng ngày, trong giáo dục, việc làm, tiếp cận các dịch vụ y tế, kết
hôn, sinh con và tham gia các hoạt động xã hội. Mặt khác, họ lại không có được
những hỗ trợ cần thiết trong việc hòa nhập nên họ không chỉ gặp khó khăn trong
sinh hoạt hàng ngày mà việc lao động kiếm sống cũng là một vấn đề rất lớn chứ
chưa nói đến việc tham gia vào các hoạt động kinh tế - xã hội khác. Kết quả là NKT
phải đối mặt với nhiều vấn đề trong cuộc sống hằng ngày trong đó kinh tế là một
vấn đề lớn.
Thực tế, rất nhiều NKT hoặc chưa bao giờ đi làm hoặc đã từng đi làm nhưng
lại bị thất nghiệp. Một số rất nhỏ trong đó nếu được tuyển dụng thì người lao động
khuyết tật thường là người được trả lương thấp, triển vọng thăng tiến trong công
việc không cao, điều kiện làm việc khó khăn.
Việc NKT có thể tạo ra thu nhập để nuôi sống được bản thân không nhiều
chứ chưa kể đến chuyên chăm lo cho gia đình. Bản thân NKT nói chung và đặc biệt
là những NKT nặng việc tự lập trong vấn đề sinh hoạt tối thiểu hàng ngày đã là một
khó khăn, chưa kể đến những trường hợp NKT bị phụ thuộc hoàn toàn vào sự chăm
sóc của người thân và gia đình còn mất đi một nguồn lực lao động chính để tạo ra
thu nhập. Vì vậy, phần lớn các hộ có NKT đều có mức sống thấp, đa số hộ thuộc
loại nghèo. Gia đình càng có nhiều NKT thì mức sống càng giảm, nhà ở tạm bợ,
học tập gián đoạn, không có khả năng tham gia lao động. Và chính những khó khăn
này lại cản trở NKT tiếp cận dịch vụ y tế, giáo dục, học nghề. tìm kiếm việc làm,
tham gia giao thông, dẫn đến khó khăn chồng lấn khó khăn.
tham gia của NKT, họ có thể là công chức, viên chức, cán bộ, những người làm
công ăn lương trong các nhà máy, xí nghiệp, các tổ chức kinh tế - xã hội hoặc làm
người chủ doanh nghiệp, người chủ trang trại, hoặc cũng có thể là những người
nông dân, những người thợ thủ công. Nhiều tấm gương tiêu biểu về NKT có ý chí
vượt qua khó khăn của số phận trở thành ông chủ doanh nghiệp đồ gỗ gia dụng,
doanh nghiệp mây tre đan... họ không những tạo được công ăn việc làm cho chính
họ mà còn tạo công ăn việc làm cho háng trăm người khác; cũng có những NKT đã
trở thành những nhà nghiên cứu thiết kế thành công bóng điện cao áp công xuất nhỏ
16
đã tiết kiệm cho người sử dụng trong quá trình sử dụng điện hàng chục tỷ đồng một
năm [9]. Người khuyết tật đã chứng minh được rằng khi có cơ hội phù hợp đi cùng
với sự tạo điều kiện hợp lý trong công việc hay trong môi trường làm việc, NKT có
thể có những đóng góp quý báu cho xã hội. Người khuyết tật cũng tích cực tham gia
vào các hoạt động nghiên cứu khoa học, văn hoá thể thao và các hoạt động xã hội
khác. Với sự trợ giúp của gia đình, cộng đồng, xã hội và nhà nước nhiều NKT cũng
đã gặt hái được những thành công trong phong trào văn hoá thể thao quần chúng và
trong các kỳ đại hội thể thao NKT khu vực và thế giới được tổ chức thường niên 5
năm một lần [9].
Trong lịch sử phát triển của nhân loại nhiều NKT đã có những đóng góp to
lớn cho sự phát triển của các quốc gia, điển hình như Tổng thống Mỹ Ruzeven hoặc
chủ tịch các tập đoàn kinh tế lớn đa quốc gia của Nhật bản. Ngay ở nước ta rất
nhiều người là NKT vẫn đảm nhiệm các chức danh Bộ trưởng, Thứ trưởng, Vụ
trưởng; Tổng giám đốc, Giám đốc doanh nghiệp… họ đã thực hiện tốt chức trách,
nhiệm vụ được giao, và có những đóng góp cống hiến đáng kể vào quá trình phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước [9]. Nhiều tấm gương các thầy giáo, cô giáo
khuyết tật vượt khó đã lưu danh từ đời này qua đời khác như: thầy đồ Nguyễn Đình
Chiểu, thầy giáo Nguyễn Ngọc Ký, thầy Phạm Văn Tường,... Và còn nhiều câu