Phòng, chống phân biệt đối xử với người sống chung với HIV ở việt nam hiện nay - Pdf 44

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

ĐỖ TRỌNG TUÂN

PHÒNG, CHỐNG PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ VỚI NGƯỜI
SỐNG CHUNG VỚI HIV Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội - 2017


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

ĐỖ TRỌNG TUÂN

PHÒNG, CHỐNG PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ VỚI NGƯỜI
SỐNG CHUNG VỚI HIV Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và luật hành chính
Mã số: 60 38 01 02

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: GS.TS. Nguyễn Đăng Dung

Hà Nội - 2017



Bối cảnh của vấn đề nhiễm HIV. ....................................................... 8

1.1.1. Tình hình nhiễm HIV hiện nay. ............................................................ 8
1.1.2. HIV; người sống chung với HIV. ...................................................... 11
1.1.3. Thực trạng của người sống chung với HIV hiện nay. ........................ 19
1.2.

Sự phân biệt đối xử đối với người sống chung với HIV. ............... 21

1.2.1. Từ phía gia đình, người thân. .............................................................. 31
1.2.2. Từ phía cộng đồng, xã hội. ................................................................. 32
1.3.

Phòng, chống phân biệt đối xử. ....................................................... 33

1.3.1. Quyền của người sống chung với HIV. .............................................. 33
1.3.2. Phòng, chống phân biệt đối xử với người sống chung với HIV. ........ 49
Chương 2: PHÁP LUẬT VÀ VIỆC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ
PHÒNG, CHỐNG PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ VỚI NGƯỜI SỐNG
CHUNG VỚI HIV Ở VIỆT NAM. .................................................. 61
2.1.

Chính sách, pháp luật của Việt Nam về phòng, chống phân biệt
đối xử với người sống chung với HIV/AIDS.................................. 61

2.1.1. Quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước về quyền bình đẳng của
con người và của người sống chung với HIV/AIDS. ......................... 61


2.1.2. Khuôn khổ pháp luật về phòng, chống sự phân biệt đối xử với người

cộng đồng và toàn xã hội .................................................................... 95
KẾT LUẬN .................................................................................................... 97
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 101


DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ICCPR:

International Covenant on Civil and Political Rights (Công ước
quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị 1966).

AIDS:

Acquired Immune Deficiency Syndrome (Hội chứng suy giảm
miễn dịch mắc phải).

HIV:

Human immunodeficiency virus (Virus gây ra hội chứng suy
giảm miễn dịch mắc phải ở người).

CRC:

Convetion on the Rights of the Child (Công ước quốc tế về
quyền trẻ em).

ICESCR:

International Convenant on Economic, Social and Cultural
Rights (Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn

Hầu hết các quốc gia trên thế giới đang hướng tới sự ổn định, hòa bình,
phát triển kinh tế gắn với an sinh xã hội. Ngày nay, con người được sống
trong môi trường dân chủ, hòa bình và bình đẳng. Quyền con người và quyền
công dân được đảm bảo bằng hệ thống các văn bản pháp luật quốc tế và pháp
luật ở mỗi quốc gia. Con người sinh ra ai cũng có quyền bình đẳng...Tuy
nhiên, hiện nay vẫn còn những nhóm thiểu số đang phải giành giật sự sống
hàng ngày, do những điều kiện khách quan, truyền thống lịch sử, hay do tác
động của những nhóm xã hội khác...mà họ bị hạn chế trong việc hưởng các
quyền vốn có, trong đó có cộng đồng người sống chung với HIV/AIDS. Đây
là nhóm xã hội dễ bị tổn thương cả về vật chất lẫn tinh thần. Có nhiều nguyên
nhân dẫn tới việc họ phải sống chung với HIV/AIDS, nhưng có một điểm
chung là không ai trong số họ mong muốn như vậy, họ khao khát được sống,
được làm việc, được học tập, được đối xử bình đẳng như những người bình
thường trong xã hội. Thực tế cho thấy, không chỉ ở Việt Nam mà ở nhiều
quốc gia trên thế giới, những người sống chung với HIV/AIDS luôn bị đối xử
bất bình đẳng, bị kỳ thị, phân biệt, bị vi phạm nghiêm trọng quyền con người.
Thậm chí cả những người thân, con cái của họ cũng chịu không ít sự ghẻ lạnh
từ xã hội. Họ không được lao động, học tập thậm chí không được sống như
những người bình thường khác.
Chúng ta đều biết rằng sự kỳ thị phân biệt đối xử liên quan đến HIV là
rào cản chính của công cuộc phòng chống HIV/AIDS. Sự kỳ thị phân biệt đối
xử liên quan đến HIV/AIDS cũng chính là nhân tố làm ảnh hưởng đến việc
thực hiện đầy đủ quyền con người mà nhân loại tiến bộ luôn luôn hướng đến.
Các quyền con người cơ bản cho sự sinh tồn và phát triển của nhóm thiểu số

1


này bao gồm quyền bình đẳng và không bị phân biệt, đối xử. Người sống
chung với HIV có xu hướng che dấu tình trạng của mình hoặc người thân của

Trong thời gian gần đây, đã có khá nhiều những công trình nghiên cứu của các
cơ quan nhà nước, các tổ chức và cá nhân về vấn đề quyền của người sống
chung với HIV/AIDS. Những công trình nghiên cứu đó đã giúp cho chúng ta có
cái nhìn tổng

quan hơn về vấn đề quyền con người, quyền của người sống

chung với HIV/AIDS. Một số công trình tiêu biểu có thể kể tới như:
“Luật quốc tế về quyền của các nhóm người dễ bị tổn thương” của Trung
tâm nghiên cứu quyền con người và quyền công dân thuộc Khoa Luật Đại học
quốc gia Hà Nội đã đề cập tới quyền của những người sống chung với
HIV/AIDS theo luật quốc tế. Công trình đã khái quát lịch sử phát triển của vấn
đề quyền của những người sống chung với HIV/AIDS, nêu lên những nội dung
chủ yếu của các văn kiện hướng dẫn quốc tế về HIV/AIDS và quyền con người.
“HIV/AIDS và quyền con người” của Viện nghiên cứu quyền con người
đã giới thiệu phương pháp tiếp cận mới đã được phân tích về mặt khoa học và
được kiểm chứng thực tiễn, đó là phòng chống HIV/AIDS dựa trên quyền con
người. Tài liệu này đã làm rõ cơ sở pháp lý, chính trị, đặc điểm trong phòng
chống HIV. Đồng thời cũng nêu bật lên mối quan hệ giữa việc đảm bảo các
quyền con người bao gồm các quyền dân sự chính trị, kinh tế, văn hóa – xã
hội và quyền của phụ nữ, trẻ em...với phòng chống HIV/AIDS. Nội dung của
tài liệu còn đưa ra những giải pháp nhằm tăng cường việc đảm bảo quyền con
người của những người sống chung với HIV/AIDS.
“ Học về quyền của bạn – Cẩm nang giảng dạy về Luật và HIV” của
Viện Nghiên cứu chính sách, pháp luật và phát triển (PLD Việt Nam), cùng
với sự tham gia của những chuyên gia và tình nguyện viên từ Babsea CLE đã
biên soạn và phát hành mục đích giúp cho cộng đồng người có HIV có thể sử
dụng như một công cụ pháp lý trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
3



trọng của các tổ chức xã hội, các tổ chức phi chính phủ trong công tác phòng,
chống HIV/AIDS ở Việt Nam. Sự cần thiết phối hợp với các tổ chức này
trong hoạt động thúc đẩy và bảo vệ quyền của người sống chung với
HIV/AIDS.
Các công trình nghiên cứu trên về quyền của những người sống chung
với HIV/AIDS đã đạt được những thành tựu quan trọng. Tuy nhiên cần có cái
nhìn toàn cảnh, trọn vẹn về nguyên nhân và thực trạng của việc phân biệt đối
xử với người sống chung với HIV/AIDS ở Việt Nam hiện nay, các quy định
của pháp luật quốc tế và của Việt Nam về phòng, chống phân biệt đối xử với
người sống chung với HIV/AIDS, từ đó đưa ra những ý kiến, quan điểm,
phương pháp phù hợp nhất thúc đẩy việc bảo vệ quyền, và thực hiện công tác
phòng, chống phân biệt đối xử với người sống chung với HIV. Luận văn góp
phần bổ sung những nghiên cứu về vấn đề này nhằm thực hiện hiệu quả công
tác phòng, chống phân biệt đối xử với người sống chung với HIV tại Việt
Nam hiện nay.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu.
Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu nhằm giúp bản thân, cộng đồng và xã hội hiểu rõ hơn về
HIV, những quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, pháp luật quốc tế về
quyền của những người sống chung với HIV. Đồng thời để cộng đồng, xã hội
nhìn nhận nhóm người dễ bị tổn thương này dưới con mắt nhân đạo, tránh sự
kỳ thị, xa lánh, sự phân biệt đối xử, để cộng đồng này thực sự được tôn trọng,
được sống trong môi trường hòa đồng, bình đẳng.
Trên cơ sở lý luận, thực tiễn theo các quy định của pháp luật quốc tế và
Việt Nam hiện hành có thể đề xuất, đóng góp ý kiến nhằm tăng cường công
tác bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cộng đồng người sống chung với HIV
tại Việt Nam.
5



của người sống chung với HIV ở mức cao nhất.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn.
Đề tài là luận văn bảo vệ tốt nghiệp cao học, ngoài ra nó còn là tài liệu
tham khảo cho những sinh viên, học viên quan tâm đến vấn đề này. Giúp
cộng đồng, xã hội hiểu rõ hơn về HIV, cách phòng, chống phân biệt đối xử và
các cơ chế đảm bảo việc thực hiện quyền của những người sống chung với
HIV theo pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam.
Đồng thời cùng với những đề xuất, góp ý của người viết, hy vọng luận
văn sẽ đóng góp tiếng nói kêu gọi các cơ quan nhà nước, các tổ chức phi
chính phủ, cộng đồng và toàn thể xã hội thực hiện nghiêm chỉnh các quy định
của pháp luật về phòng, chống phân biệt đối xử và đảm bảo quyền của những
người sống chung với HIV. Để cộng đồng này được sống trong môi trường
bình đẳng, hòa nhập như những người bình thường khác.
7. Kết cấu của Luận văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn chia làm 3
chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về phòng, chống phân biệt đối xử với
người sống chung với HIV.
Chương 2:Pháp luật và việc thực hiện pháp luật về phòng, chống phân
biệt đối xử với người sống chung với HIV ở Việt Nam.
Chương 3: Giải pháp và đề xuất nhằm đảm bảo cho việc phòng, chống
phân biệt đối xử với người sống chung với HIV ở Việt Nam hiện nay.

7


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÒNG, CHỐNG PHÂN BIỆT
ĐỐI XỬ VỚI NGƯỜI SỐNG CHUNG VỚI HIV

35,2

chung với HIV

(34,2 – 41,4)

(33,2 – 37,2)

(32,2 – 38,8)

Nhiễm mới HIV

2,0 ( 1,9 – 2,2)

2,1 ( 1,9 - 2,4)

2,3 ( 1,9 – 2,7)

Số người chết

1,2 ( 1,0 – 1,5)

1,5 ( 1,4 – 1,7)

1,6 ( 1,4 – 1,9)

Nội dung

(Nguồn:UNAIDS Global Report 2014)
8

trong đó 89.210 người nhiễm HIV đã tử vong. Trong số những người nhiễm
HIV theo báo cáo từ các tỉnh, thành trên cả nước, chỉ có 80 – 85% trường hợp
quản lý và theo dõi được. Nam giới chiếm 69,8%, nữ giới chiếm 30,2%, lây
nhiễm qua đường tình dục chiếm 56%, qua đường máu 34%, từ mẹ truyền
sang con 2%, còn lại không rõ nguyên nhân lây nhiễm. So sánh với cùng kỳ
năm 2015, số người nhiễm HIV trong năm 2016 giảm 89 trường hợp. Tuy
nhiên số bệnh nhân AIDS tăng 822 trường hợp, số người tử vong do AIDS
tăng 267 trường hợp.
( Theo Báo cáo Công tác phòng, chống HIV/AIDS 6 tháng đầu năm 2016 và
nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2016 của Bộ Y tế ngày 09/08/2016).
Qua những số liệu trên, thấy rằng tỷ lệ nhiễm mới HIV trên toàn thế giới
đang giảm dần qua các năm, chứng tỏ các biện pháp can thiệp có hiệu quả. Để
thực hiện làm giảm sự ảnh hưởng của HIV trên toàn cầu, bên cạnh sự cố gắng
của các hệ thống y tế thì cần sự hỗ trợ từ chính mỗi con người chúng ta. Thực
hiện đúng khuyến cáo của WHO, đồng thời tăng cường công tác phòng,
chống phân biệt kỳ thị, đối xử với người sống chung với HIV, có lối sống
10


lành mạnh, tăng cường sự hiểu biết về HIV/AIDS...hãy chung tay góp sức
mình nhằm đẩy lùi đại dịch HIV/AIDS, hướng tới mục tiêu 3 không: Không
còn người nhiễm mới HIV; không còn người tử vong do AIDS; không còn kỳ
thị, phân biệt đối xử liên quan đến HIV/AIDS.
1.1.2. HIV; người sống chung với HIV.
Theo Luật phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn
dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS) năm 2006. HIV là chữ viết tắt của cụm từ
“Human immunodeficiency virus” có nghĩa là virus gây ra hội chứng suy
giảm miễn dịch mắc phải ở người, làm cho cơ thể suy giảm khả năng chống
lại các tác nhân gây bệnh. HIV lây truyền qua các đường chính như đường
tình dục, qua đường máu hoặc truyền từ mẹ sang con trong thời kỳ mang thai,

có quan hệ tình dục đồng giới không an toàn...
HIV/AIDS thực sự trở thành hiểm họa lớn đe dọa trực tiếp đến sức khỏe,
tính mạng con người, trật tự an toàn xã hội, ảnh hưởng giống nòi, thậm chí
ảnh hưởng đến sự phát triển của đất nước, tương lai quốc gia.
HIV lây truyền như thế nào ?
HIV có trong dịch sinh học cơ thể người: Mặc dù HIV có trong nhiều
loại dịch cơ thể khác nhau của một người sống với HIV, nhưng chỉ có một số
dịch cơ thể chứa một lượng vi rút đủ lớn để làm lây nhiễm HIV, đó là: máu,
tinh dịch, dịch âm đạo, sữa mẹ. Một người sẽ bị nhiễm HIV khi để các dịch
cơ thể có chứa HIV xâm nhập vào cơ thể, tuy nhiên, không phải khi nào phơi
nhiễm với dịch cơ thể có chứa HIV cũng sẽ bị lây nhiễm HIV.
HIV lây truyền từ người này sang người khác theo những cách sau: Sử
dụng bơm kim tiêm hoặc các dụng cụ sắc nhọn khác; quan hệ tình dục xâm
nhập không bảo vệ (qua âm đạo hoặc hậu môn hay đường miệng) với người
nhiễm HIV; từ mẹ nhiễm HIV lây truyền sang con trong quá trình mang thai,
sinh nở, và cho con bú; truyền máu hoặc các sản phẩm của máu có chứa HIV.
12


Những hiểu biết chưa đúng về HIV
Tắm rửa sau khi quan hệ tình dục sẽ phòng tránh được HIV; quan hệ
tình dục với người còn trinh tiết, sau khi đã quan hệ tình dục với người khác
thì sẽ không bị nhiễm HIV; có thể bị lây nhiễm HIV từ việc dùng chung nhà
vệ sinh; HIV và AIDS là như nhau; bắt tay có thể làm lây nhiễm HIV; dùng
chung cốc chén có thể làm lây nhiễm HIV; phụ nữ có HIV hoặc AIDS thì
không thể có con; nhìn bên ngoài có thể nhận biết được một người có nhiễm
HIV hay không; muỗi làm lây nhiễm HIV; kết quả xét nghiệm HIV không
đáng tin cậy.
Làm thế nào để giảm nguy cơ lây nhiễm HIV ?
Một số biện pháp nhằm giảm nguy cơ lây nhiễm HIV như: Không dùng

HIV có thể có các dấu hiệu và triệu chứng như sau:
Giảm hơn 10% trọng lượng cơ thể;
Sốt kéo dài hơn một tháng;
Các bệnh ở hệ bạch huyết, hệ bạch huyết bao gồm các hạch bạch huyết
(tuyến bạch huyết) và các mạch bạch huyết (như các dây nhỏ nối các hạch
bạch huyết). Hệ thống này thông thường có chức năng giúp chống lại các
nhiễm khuẩn;
Tiêu chảy kéo dài hơn một tháng; Các vết loét ở da; Mệt mỏi trong thời
gian dài; Đổ mồ hôi về đêm; Ho khan kéo dài.
(Bộ Y tế - Hướng dẫn chuẩn đoán và điều trị HIV/AIDS ngày 19/08/2009)
Cho dù có hay không những triệu chứng khi nhiễm HIV, thì người mới
nhiễm HIV trong một số tuần đầu sau khi nhiễm có khả năng lây truyền vi rút
ở mức độ cao. Lúc này, lượng HIV trong máu ở mức độ cao, họ dễ dàng lây
truyền HIV sang người khác, nếu không thực hiện những hành vi an toàn.
Ở giai đoạn HIV tiến triển, người sống với HIV có thể mắc lao, viêm
phổi, tiêu chảy hoặc các bệnh nhiễm trùng mãn tính, thường được gọi là “các
14


bệnh nhiễm trùng cơ hội” vì nhân cơ hội hệ miễn dịch của cơ thể bị suy yếu,
các loại bệnh này xuất hiện. Các bệnh nhiễm trùng cơ hội này làm cho người
sống chung với HIV ốm yếu thậm chí có thể tử vong.
Các loại thuốc điều trị ARV
ARV là viết tắt tiếng Anh của từ “Anti-RetroVirus drugs” các thuốc
kháng vi rút liên quan đến điều trị kháng vi rút – ART (anti-retroviral
therapy). Mặc dù ARV không thể chữa khỏi HIV, nhưng hiện tại, các thuốc
ARV vẫn là một trong những biện pháp tốt nhất để kéo dài thời gian sống và
cải thiện tình trạng sức khỏe của người sống với HIV. ARV là các loại thuốc
có hiệu quả nhất trong việc làm giảm các biến chứng lâu dài, đồng thời ngăn
chặn quá trình nhân lên của HIV. ARV cũng giúp phục hồi chức năng của hệ

những người bị lây nhiễm do tiêm chích ma túy và mại dâm không an toàn,
thế hệ thứ hai là những người bị lây nhiễm từ người thân của thế hệ thứ nhất
như vợ hoặc chồng..., thế hệ thứ ba bao gồm con cái của những người có HIV
và những người bởi nhiều lý do khác nhau như rủi ro nghề nghiệp hoặc bị
phơi nhiễm. Nhóm này vừa bị tổn thương về mặt sức khỏe thể trạng khi bị vi
rút tấn công hệ miễn dịch đồng thời xuất hiện nhiều bệnh lây nhiễm khác như
bệnh lao hay những bệnh truyền nhiễm do hệ miễn dịch bị phá hoại, có nguy
cơ phải đối mặt với cái chết, họ không chỉ bị tổn thương về thể chất mà còn bị
tổn thương về mặt tinh thần khi bị những người xung quanh hắt hủi, xa lánh,
kỳ thị.
Thứ hai: Nhóm có người thân bị nhiễm HIV (vợ, chồng, bố, mẹ, con
cái). Đây là nhóm mặc dù bản thân không bị nhiễm HIV nhưng có nguy cơ rất
cao trước việc bị lây nhiễm do thường xuyên tiếp xúc với người bệnh, mang
gánh nặng kinh tế khi phải chạy chữa điều trị cho người bệnh, đồng thời họ
cũng chịu sự phân biệt đối xử, chịu đựng sự kỳ thị từ phía cộng đồng, xã hội.

16


Thứ ba: Nhóm những người đang có hành vi nguy cơ cao lây nhiễm đó
là những người tiêm chích ma túy, hoạt động mại dâm, những người có cuộc
sống tình dục không an toàn, những người có quan hệ tình dục đồng giới...họ
là những người mặc dù chưa mắc bệnh trong người, nhưng có khả năng
nhiễm bệnh rất cao, nhưng không có cơ chế bảo vệ do nhóm người này bị
phân biệt đối xử, bị kỳ thị vì xã hội cho rằng họ là những có người có lối sống
lệch lạc, thiếu lành mạnh, suy đồi về đạo đức, lối sống, họ đáng bị lên án.
Sở dĩ người sống chung với HIV được coi là những nhóm người dễ bị
tổn thương là vì:
Thứ nhất: Do đặc điểm dịch tễ và phương pháp y tế công truyền thống,
HIV là hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải, người bệnh khi nhiễm loại vi

hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không nghề nghiệp. Nhóm người này thuộc tầng
lớp nghèo khổ, thiếu hiểu biết, thiếu điều kiện để tự bảo vệ mình. Một bộ
phận khác bị lây nhiễm thuộc nhóm người lao động xa gia đình như lái xe
đường dài, thợ khai thác than, đào vàng, hay những người vì hoàn cảnh gia
đình mà phải hành nghề mại dâm. Sau khi nhiễm bệnh, điều kiện kinh tế còn
khó khăn hơn nhiều lần khi phải cố gắng chạy chữa và những người này họ
trở thành gánh nặng cho gia đình, sức khỏe suy kiệt, cơ thể không còn khả
năng miễn dịch, không thể sống bình thường như người khỏe mạnh, đồng thời
họ phải đối diện với sự phân biệt đối xử và kỳ thị từ phía gia đình, cộng đồng.
Họ bị tổn thương sâu sắc về tinh thần, thể chất suy sụp, những người sống
chung với HIV dưới hình thức này hay hình thức khác, chủ quan hay khách
quan cũng bị gạt ra ngoài xã hội.
Với nhận thức còn chưa đầy đủ về HIV/AIDS, quan niện sai lầm của xã
hội vô hình chung đã xâm hại nặng nề tới quyền của những người sống chung
với HIV.

18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status