Phòng, chống phân biệt đối xử trên cơ sở bản dạng giới và xu hướng tính dục trên thế giới và ở việt nam - Pdf 45

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

Lấ THU H ANH

PHòNG, CHốNG PHÂN BIệT ĐốI Xử TRÊN CƠ Sở
BảN DạNG GIớI Và XU HƯớNG TíNH DụC
TRÊN THế GIớI Và ở VIệT NAM

LUN VN THC S LUT HC

H NI - 2017


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

Lấ THU H ANH

PHòNG, CHốNG PHÂN BIệT ĐốI Xử TRÊN CƠ Sở
BảN DạNG GIớI Và XU HƯớNG TíNH DụC
TRÊN THế GIớI Và ở VIệT NAM
Chuyờn ngnh: Lut Hin Phỏp - Lut Hnh Chớnh
Mó S: 60 38 01 02

LUN VN THC S LUT HC

Ngi hng dn khoa hc: TS. NGUYN TH MINH H

H NI - 2017



Quố c gia Hà Nô ̣i đã tận tình giúp đỡ và truyền đạt kiến thức để tôi đƣơ ̣c ho ̣c
tâ ̣p và nghiên cƣ́u trong điề u kiê ̣n tố t nhấ t.
Những lời sau cùng xin dành cho gia đình, bố, mẹ, bạn bè đã luôn đồng
hành, chia sẻ khó khăn và giúp đỡ tôi.
Do nhƣ̃ng ha ̣n chế về mă ̣t thời gian nghiên cƣ́u cũng nhƣ về kiế n thƣ́c
chuyên môn của tác giả nên nhƣ̃ng trình bày trong luâ ̣n văn này không thể
tránh đƣợc những sai sót . Kính mong nhận đƣợc sự góp ý của các Thầy , Cô,
bạn bè để luâ ̣n văn đƣơ ̣c hoàn thiê ̣n hơn.
Hà Nội, ngày 18 tháng 05 năm 2017
TÁC GIẢ

Lê Thu Hà Anh


MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chƣơng 1: CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÒNG, CHỐNG PHÂN
BIỆT ĐỐI XỬ DỰA TRÊN CƠ SỞ BẢN DẠNG GIỚI VÀ
XU HƢỚNG TÍNH DỤC ................................................................... 8
1.1.
Các khái niệm nền tảng ..................................................................... 8
1.1.1. Bản dạng giới ....................................................................................... 8
1.1.2. Xu hƣớng tính dục .............................................................................. 10
1.1.3. Phân biệt đối xử và phòng, chống phân biệt đối xử dựa trên cơ

Các quy định pháp luật về phòng, chống phân biệt đối xử
dựa trên cơ sở bản dạng giới và xu hƣớng tính dục tại một số
quốc gia trên thế giới và ở Việt Nam .............................................. 33

2.1.1. Các quy định pháp luật về phòng, chống phân biệt đối xử dựa trên
cơ sở bản dạng giới và xu hƣớng tính dục tại một số quốc gia trên
thế giới ................................................................................................ 33
2.1.2. So sánh, đánh giá các quy định pháp luật về phòng, chống phân
biệt đối xử dựa trên cơ sở bản dạng giới và xu hƣớng tính dục
của Việt Nam với một số nƣớc trên thế giới ...................................... 45
2.2.

Phòng, chống phân biệt đối xử dựa trên cơ sở bản dạng giới
và xu hƣớng tính dục bằng các biện pháp xã hội ở một số
nƣớc trên thế giới và Việt Nam ....................................................... 51

2.2.1. Phòng, chống phân biệt đối xử dựa trên cơ sở bản dạng giới và
xu hƣớng tính dục bằng các biện pháp xã hội ở một số nƣớc trên
thế giới ................................................................................................ 51
2.2.2. Phòng, chống phân biệt đối xử dựa trên cơ sở bản dạng giới và
xu hƣớng tính dục bằng các biện pháp xã hội ở Việt Nam ................ 56
2.2.3. So sánh, đánh giá các biện pháp xã hội phòng, chống phân biệt
đối xử dựa trên cơ sở bản dạng giới và xu hƣớng tính dục của
Việt Nam với một số nƣớc trên thế giới............................................. 61
2.3.

Đánh giá chung về thực trạng phòng, chống phân biệt đối xử
dựa trên cơ sở bản dạng giới và xu hƣớng tính dục ở Việt
Nam hiện nay .................................................................................... 65


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

A/HRC/RES/27/32

Nghị quyết về xu hƣớng tính dục và bản dạng giới

APA

Hiệp hội Tâm lý Hoa kỳ (American Psychologica
Association)

Bộ nguyên tắc
Yogyakarta

Bộ nguyên tắc về việc Áp dụng Luật Nhân quyền quốc
tế liên quan tới xu hƣớng tính dục và bản dạng giới

CEDAW

Công ƣớc về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với
phụ nữ

HIV

Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải

ICS

Tổ chức bảo vệ và thúc đẩy quyền của ngƣời LGBT tại
Việt Nam



MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Giới tính là một trong những vẫn đề cơ bản của con ngƣời. Giới tính
của một con ngƣời đƣợc xác định khi sinh ra và sẽ là định hƣớng cho sự phát
triển của ngƣời đó từ cách ăn mặc, giáo dục, công việc, bạn bè đến tình yêu và
hôn nhân. Đa phần trong số chúng ta có sự thể hiện và cảm nhận về sự phát
triển giới tính trùng khớp với giới tính sinh học của mình hoặc rất ít khi nghĩ
đến sự tƣơng thích này. Trong khi đó, một số nhỏ những cá nhân khác ngay từ
bé đã nhận ra cơ thể mình không khớp với giới tính mà họ cảm nhận trong
tâm trí. Những ngƣời này cũng có những cảm giác riêng về mặt tình cảm.
Chính vì họ là nhóm nhỏ, họ yếu thế nên họ thƣờng xuyên bị đối xử một cách
không công bằng trong xã hội, thậm chí họ không hề đƣợc thừa nhận. Họ là
LGBT: nhóm những ngƣời đồng tính, song tính và chuyển giới.
Bình đẳng là một trong những quy luật hình thành các giá trị con ngƣời.
Không có bình đẳng thì con ngƣời sẽ không đƣợc phát triền một cách toàn
diện. Chính vì lẽ đó mà Điều đầu tiên trong Tuyên Ngôn Quốc tế về Quyền
con ngƣời 1948 ghi rằng: “Mọi người sinh ra đều tự do và bình đẳng về nhân
phẩm và các quyền”. Đây cũng là một trong những nguyên t ắc cơ b ản của
pháp luật Việt Nam cũng như trong các công ư ớc quốc tế mà Việt Nam tham
gia. Và nhóm ngƣời yếu thế này cũng cần đƣợc bình đẳng. Mặc dù trên thế
giới đã có nhiều nƣớc công nhận về quyền bình đẳng của nhóm ngƣời này
nhƣng những hiện thực về tình trạng vi phạm nhân quyền và phân biệt đối xử
vẫn còn xảy ra rất nhiều. Cộng đồng LGBT trên thế giới cũng nhƣ ở Việt
Nam luôn phải hứng chịu những sự kỳ thị, phân biệt của xã hội, ảnh hƣởng
nghiêm trọng đến các quyền tự do, bình đẳng và các quyền con ngƣời khác
của họ. Đây là vấn đề nóng và đƣợc bàn luận trên rất nhiều diễn đàn quốc tế

1

2


chỉ ở việc chƣa có một quy định cụ thể nào về chống phân biệt đối xử trên cơ
sở bản dạng giới và xu hƣớng tính dục mà còn hạn chế ngay ở những quy
định hiện hành, những quy định chỉ dành cho giới nam và giới nữ.
Với những lý do trên, tác giả đã chọn đề tài "Phòng, chống phân biệt
đối xử trên cơ sở bản dạng giới và xu hướng tính dục trên thế giới và ở Việt
Nam" làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình, với mục đích so sánh về pháp luật
và thực tiễn về vấn đề này trên thế giới và ở Việt Nam. Từ những nghiên cứu
cơ bản về pháp luật, thực tiễn sẽ mang lại những bài học, kinh nghiệm quý
báu cho Việt Nam trong việc xây dựng, sửa đổi, bổ sung pháp luật liên quan
đến chống phân đối xử trên cơ sở bản dạng giới và xu hƣớng tính dục ở Việt
Nam sao cho phù hợp với luật nhân quyền quốc tế.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Về vấn đề nghiên cứu quyền con ngƣời nói chung, trong đó có một
phần nghiên cứu về ngƣời đồng tính, song tính và chuyển giới có thể kể đến
các công trình nghiên cứu nhƣ: Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội: Giáo
trình lý luận và pháp luật về quyền con người, Nhà xuất bản Đại học quốc gia
Hà Nội, năm 2011; sách chuyên khảo Bảo hiến và vấn đề bảo vệ quyền con
người, NXB Tƣ pháp năm 2015; sách chuyên khảo Quyền con người, quyền
và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong Hiến pháp Việt Nam của Văn phòng
thƣờng trực về nhân quyền và Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh phối
hợp thực hiên, năm 2015; sách chuyên khảo Nhà nước và pháp luật Triều
Hậu Lê với việc bảo vệ quyền con người, NXB ĐHQGHN năm 2014; Thế
Huy và Phạm Quỳnh Phƣơng Viện nghiên cứu Xã hội Kinh tế và Môi trƣờng
iSEE, “Có phải bởi vì tôi là LGBT” Phân biệt đối xử dựa trên xu hướng tính
dục và bản dạng giới tại Việt Nam năm 2015… Hay các bài báo, tạp chí, các
bài kỷ yếu hội thảo của một số nhà khoa học nhƣ: ThS. Thái Thị Tuyết Dung
và ThS. Vũ Thị Thúy Bảo đảm quyền của người đồng tính, song tính, chuyển

quyền của LGBT. Mặc dù vậy, thực trạng phân biệt đối xử với nhóm LGBT

4


vẫn còn diễn ra và dẫn đến nhiều hậu quả không đáng có. Do vậy đòi hỏi cần
thiết có những đề tài đi sâu phân tích và so sánh các quy định về phòng, chống
phân biệt đối xử trên cơ sở bản dạng giới và xu hƣớng tính dục trong pháp luật
và thực trạng xã hội ở Việt Nam hiện nay. Chính vì vậy, mong muốn của tác
giả khi triển khai nghiên cứu đề tài này là góp phần làm rõ hơn cơ sở lý luận và
thực tiễn của việc quy định về phòng, chống chống phân biệt đối xử trên cơ sở
bản dạng giới và xu hƣớng tính dục tại một số quốc gia trên thế giới, so sánh
với Việt Nam từ đó đƣa ra đánh giá về thành tựu và hạn chế và nguyên nhân
của những thành tự và hạn chế đó trong việc phòng, chống phân biệt đối xử với
LGBT tại Việt Nam hiện nay. Đồng thời kiến nghị một số biện pháp pháp lý và
biện pháp xã hội cụ thể để nâng cao hiệu quả phòng, chống phân biệt đối xử
trên cơ sở bản dạng giới và xu hƣớng tính dục tại Việt Nam.
3. Mục đích
Nghiên cứu tổng quát về pháp luật chống phân biệt đối xử trên cơ sở
bản dạng giới và xu hƣớng tính dục ở Việt Nam; từ đó đƣa ra những giải pháp
cơ bản để chống lại sự phân biệt đối xử này ở Việt Nam hiện nay. Cụ thể, đề
tài tập trung giải quyết những vấn đề sau đây:
- Trình bày và phân tích ý nghĩa của việc ghi nhận các quy định về
pháp luật phòng, chống phân biệt đối xử trong hệ thống luật nhân quyền.
- Phân tích so sánh luật về pháp luật chống phân biệt đối xử trên cơ sở
bản dạng giới và xu hƣớng tính dục của một số nƣớc tiêu biểu trên thế giới.
- Đƣa ra thực trạng về phân biệt đối xử trên cơ sở bản dạng giới và xu
hƣớng tính dục của một số quốc gia trên thế giới và ở Việt Nam ở nhiều lĩnh
vực nhƣ: thị trƣờng lao động, y tế, quan niệm của gia đình và xã hội...
- Đƣa ra phân tích những thành tựu và hạn chế trong pháp luật về

Nam về phòng, chống phân biệt đối xử trên cơ sở bản dạng giới và xu hƣớng
tính dục thông qua việc chỉ ra thực trạng đang diễn ra đối với nhóm ngƣời
LGBT. Đồng thời phân tích, so sánh với các quy định của pháp luật quốc tế

6


về vấn đề này. Từ đó đƣa ra các quan điểm của Nhà nƣớc, của xã hội hiện nay
và kiến nghị các biện pháp cụ thể về pháp lý và về mặt xã hội cho Việt Nam
trong việc sửa đổi, hoàn thiện pháp luật về phòng, chống phân biệt đối xử trên
cơ sở bản dạng giới và xu hƣớng tính dục, kiến nghị dự thảo và ban hành Luật
phòng chống phân biệt đối xử trong đó có phòng, chống phân biệt đối xử trên
cơ sở bản dạng giới và xu hƣớng tính dục.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung luận văn đƣợc chia thành 03 chƣơng.
Chương 1: Các vấn đề lý luận về phòng, chống phân biệt đối xử dựa
trên cơ sở bản dạng giới và xu hƣớng tính dục.
Chương 2: Thực trạng phòng, chống phân biệt đối xử dựa trên cơ sở
bản dạng giới và xu hƣớng tính dục tại một số quốc gia trên thế giới và ở việt
nam hiện nay.
Chương 3: Quan điểm, giải pháp nâng cao hiệu quả phòng, chống phân
biệt đối xử trên cơ sở bản dạng giới và xu hƣớng tính dục tại Việt Nam.

7


Chƣơng 1
CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÒNG, CHỐNG PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ
DỰA TRÊN CƠ SỞ BẢN DẠNG GIỚI VÀ XU HƢỚNG TÍNH DỤC

quan Liên Hợp Quốc nhƣ Hội đồng Nhân quyền, Cao uỷ Nhân quyền Liên
Hợp Quốc, Uỷ ban kinh tế, xã hội và văn hoá của Liên Hợp Quốc sử dụng,
“bản dạng giới” là "cảm nhận nội tâm sâu sắc và những trải nghiệm về giới
của một ngƣời mà có thể không tƣơng ứng với giới tính khi sinh ra, bao gồm
nhận thức cá nhân về cơ thể (bao gồm, nếu đƣợc tự do lựa chọn, việc thay đổi
ngoại hình bên ngoài hay chức năng cơ thể bằng thuốc, phẫu thuật hay các
biện pháp khác) và những thể hiện về giới, bao gồm phục trang, lời nói và
điệu bộ". Đây là khái niệm tách biệt với giới tính sinh học. Thông thƣờng,
những ngƣời có bản dạng giới và giới tính sinh học trùng khớp nhau, họ ít khi
nghĩ về sự tƣơng thích giữa hai khái niệm này. Chẳng hạn nhƣ sinh ra với giới
tính sinh học là nữ, ngƣời đó phát triển và tự nhận thức, cảm nhận, thích thể
hiện ra ngoài theo đúng giới tính sinh học đƣợc xác định của mình là nữ thì
khi đó bản dạng giới đã trùng khớp với giới tính sinh học. Số đông của nhân
loại đƣợc coi là bình thƣờng khi hai khái niệm này trùng khớp nhau và đây
không phải là một quan niệm mặc định mà chỉ đơn giản vì điều này phổ biến
ở đa số mọi ngƣời.
Trong khi đó, đặc biệt là trong thời hiện đại ngày nay, một số nhỏ
những cá nhân ngay từ khi còn nhỏ đã nhận ra cơ thể mình không khớp với
giới tính mà chúng đƣợc xác định. Hoặc có những ngƣời trong quá trình dậy
thì hay thậm chí ở ngƣỡng trung niên mới nhận ra bản dạng giới của mình
khác với giới tính sinh học. Khi đó, họ chọn cách thể hiện ra bên ngoài theo
cách mà họ cảm nhận để cho xã hội biết giới tính của bản thân. Đây chính là
“thể hiện giới”. Ví dụ, khi sinh ra đứa trẻ có giới tính sinh học là nam, đứa trẻ
đó sẽ đƣợc bố mẹ cho mặc đồ nam giới, cƣ xử và dạy bảo nhƣ những đứa trẻ
là nam bình thƣờng. Gia đình và xã hội luôn gắn những kỳ vọng ngầm hoặc
rõ rệt trong việc thể hiện giới của đứa trẻ đó và chính đứa trẻ cũng ý thức rất

9




Theo định nghĩa của Hiệp hội Tâm lý Hoa Kỳ (APA) thì:
Xu hƣớng tính dục là một sự hấp dẫn có tính bền vững về
cảm xúc, sự lãng mạn, tình dục hoặc tình cảm hƣớng tới những
ngƣời khác. Nó khác với những cấu thành khác của tính dục bao
gồm giới tính sinh học, bản dạng giới (cảm nhận tâm lý mình là
nam hay nữ), và vai trò giới (sự tham gia vào quan niệm xã hội về
hành vi nam tính hay nữ tính). Xu hƣớng tính dục trải dài liên tục từ
hoàn toàn dị tính ái đến hoàn toàn đồng tính ái và nhiều dạng khác
nhau của song tính ái.Những ngƣời song tính ái có thể có bị hấp dẫn
về tình dục, tình cảm, cảm xúc với cả ngƣời cùng giới tính của họ
và giới tính đối lập. [...] Xu hƣớng tính dục khác với hành vi tình
dục bởi vì nó đề cập tới cả cảm nhận và quan niệm cá nhân. Từng
cá nhân có thể thể hiện xu hƣớng tính dục của mình thông qua hành
vi tình dục của họ, và cũng có thể không [1].
Theo Bộ nguyên tắc Yogyakarta, xu hƣớng tính dục là "khả năng một
ngƣời cảm thấy hấp dẫn về mặt cảm xúc sâu sắc, tình cảm, mối quan hệ gần
gũi với những cá nhân có giới khác, cùng hay nhiều hơn một giới". Theo cách
hiểu đƣợc chấp nhận phổ biến nhất, ngƣời có xu hƣớng tính dục hƣớng tới
ngƣời cùng giới gọi là ngƣời đồng tính, hƣớng tới ngƣời khác giới là ngƣời dị
tính, hƣớng tới cả hai giới là ngƣời song tính.
Thực tế hiện nay, có năm xu hƣớng tính dục chính, đó là:
Một là, xu hƣớng tính dục khác giới (Heterosexual) - Ngƣời bị hấp dẫn
về mặt tình cảm và tình dục với ngƣời khác giới tính, không bao giờ có mong
muốn mình có giới tính khác với giới tính khi đƣợc sinh ra), những ngƣời này
thƣờng đƣợc gọi là ngƣời dị tính.
Hai là, xu hƣớng tính dục đồng giới (Homosexual) - Ngƣời bị hấp dẫn
với ngƣời cùng giới tính, không bao giờ mong muốn mình có giới tính khác

11

12


Cần phải phân biệt rõ với hành vi tính dục, xu hƣớng tính dục bao gồm cả
những tình cảm và cảm nhận cá nhân và hành vi tính dục của một ngƣời có
thể phản ánh xu hƣớng tính dục của họ, cũng có thể không.
Không phải lúc nào xu hƣớng tính dục cũng đƣợc bộc lộ ra bên ngoài
để ngƣời khác có thể nhận thấy mà nhiều khi nó đƣợc giấu kín. Đã có nhiều
giả thuyết về nguồn gốc của sự phát triển các xu hƣớng tính dục khác nhau,
vận dụng đến cả các yếu tố di truyền hay bẩm sinh và những hoàn cảnh nuôi
dƣỡng, giáo dục trong tuổi thơ ấu. Tuy nhiên, nhiều quan điểm cho rằng xu
hƣớng tính dục đã hình thành từ rất sớm ở hầu hết mọi ngƣời ngay từ khi còn
nhỏ tuổi do những tác động qua lại phức tạp của các yếu tố sinh học, tâm lý
và xã hội. Đồng thời các nhà tâm lý xác định rằng không coi xu hƣớng tính
dục là sự lựa chọn có ý thức mà ngƣời ta có thể tùy ý thay đổi. Một số ngƣời
đã cố gắng rất nhiều trong nhiều năm để thay đổi xu hƣớng tính dục từ đồng
giới sang khác giới nhƣng đều không thành công. Vì những lý do đó, các nhà
tâm lý không coi xu hƣớng tình dục là sự lựa chọn có ý thức mà ngƣời ta có
thể tuỳ ý thay đổi đƣợc.
1.1.3. Phân biệt đối xử và phòng, chống phân biệt đối xử dựa trên cơ
sở bản dạng giới và xu hướng tính dục
Trƣớc hế t ta phải hiể u thế nào là phân biê ̣t đố i xƣ̉. Theo mô ̣t nghiên cƣ́u
của Viện iSEE thì: “Phân biê ̣t đố i xử là hành xử với những người hoặc nhữn g
nhóm người nhất định một cách khác biệt , đặc biê ̣t là theo cách tiêu cực hơn
so với cách mà bạn hành xử với người khác, dựa trên những yế u tố như chủng
tộc, giới tính, tính dục.v.v..” [13].
Phân biệt đối xử là hành xử với những ngƣời hoặc những nhóm ngƣời
nhất định một cách khác biệt, đặc biệt là theo cách tiêu cực hơn so với cách
hành xử thông thƣờng với ngƣời khác, dựa trên những yếu tố nhƣ chủng tộc,
giới tính, tính dục, v.v. Phân biệt đối xử có một vài ngoại lệ đƣợc chấp thuận.

n ha ̣i hoă ̣c

hạn chế việc n hóm LGBT đƣợc công nhận , hƣởng thu ̣ hay thƣ̣c hiê ̣n các
quyề n con ngƣời và quyề n tƣ̣ do cơ bản trên các liñ h vƣ̣c chiń h tri ̣

14

, kinh tế ,


văn hóa, xã hội hay bất kể lĩnh vục nào khác trên cơ sở bình đẳng . Sự phân
biệt đối xử đƣợc biểu hiện cụ thể trong các tình huống hàng ngày trong đời
sống xã hội. Có thể là ngay trong chính gia đình nhƣ cha mẹ ép buộc con cái
thay đổi ngoại hình, cử chỉ và la mắng, gây áp lực là các hành vi phổ biến
nhất mà ngƣời LGBT gặp phải trong gia đình của mình; hoặc các hành vi bạo
lực hơn nhƣ bị nhốt, cầm giữ, ép buộc. Hay trong vấn đề việc làm, nhóm
LGBT thƣờng bị từ chối khi xin việc, phân biệt đối xử khi trả lƣơng, khiến họ
thƣờng chỉ giữ các vị trí cấp thấp, cơ bản mà khó giữ các vị trí quản lý hoặc
cao hơn. Cũng có thể kể đến những phân biệt đối xử trong trƣờng học khi các
bạn học sinh, sinh viên trong nhóm LGBT bị các bạn cùng trang lứa chế giễu,
nhận xét và thậm chí là nạn nhân của bạo lực học đƣờng. Hoặc trong vấn đề y
tế, sự phân biệt đối xử của môi trƣờng y tế tập trung vào việc phớt lờ các quy
trình y tế chuẩn mực nhƣ tò mò quá mức về chuyện cá nhân, nhận lời khuyên
không liên quan tới việc khám, điều trị và xúc phạm bằng lời nói. Bên cạnh
đó, sự phân biệt đối xử dựa trên cơ sở bản dạng giới và xu hƣớng tính dục còn
đƣợc thể hiện trong những lĩnh vực đời sống khác. Tình trạng này vẫn đang
diễn ra và ngày càng sâu sắc trong chính những hoạt động xã hội thƣờng
ngày. Đây là tình trạng đáng báo động. Đặc biệt là khi xã hội ngày càng văn
minh, phát triển và hội nhập thì càng cần hơn nữa những hồi chuông cảnh báo
để bảo vệ quyền và lợi ích của nhóm ngƣời yếu thế này nhƣ họ vốn có và cần

gia đình là trụ cột, có nghĩa vụ phải nối dõi tông đƣờng, ngƣời phụ nữ phải
công dung, ngôn hạnh, phải sinh đẻ tốt để giúp cho gia đình chồng có con nối
dõi. Vì vậy, mục đích chủ yếu của việc kết hôn là sinh con, nối dõi tông
đƣờng. Và thật sự thì truyền thống văn hóa ảnh hƣởng rất nhiều đến quan
niệm của ngƣời Việt Nam về ngƣời đồng tính. Ngƣời ta cho rằng những hành
vi trái với tự nhiên là những hành vi sai trái với lệ làng, phép nƣớc, vì thế họ
luôn nhìn những ngƣời đồng tính với ánh mắt chứa đầy sự khinh thị. Mặt
khác có ngƣời còn cho rằng đồng tính là một loại bệnh có thể lây truyền vì thế
càng tránh xa ngƣời đồng tính ra càng tốt.

16


Một trƣờng hợp cụ thể có thể kể đến là chuyện của gia đình nhà cô T. ở
Thái Bình. Chồng cô T. quê ở tỉnh Thái Bình, nơi việc duy trì nối dõi tông
đƣờng là rất quan trọng. Vì thế, cả gia đình đã vô cùng vui mừng khi cô sinh
đứa con đầu lòng là một bé trai. Vào năm thứ hai đại học, con trai cô T. thú
nhận với gia đình rằng anh là một ngƣời đồng tính, từ lúc đó trở đi, vợ chồng
cô T. bắt đầu đối xử khác biệt với con. “Ngày trƣớc thƣơng con bao nhiêu,
bây giờ cô lại càng giận, càng ghét bỏ, thậm chí càng kinh tởm nó bấy nhiêu.
Ở ngoài xã hội ngƣời ta bảo đồng tính là đồi truỵ, cô cũng nghĩ ngƣời đồng
tính là những đứa chẳng ra gì.” – cô T. chia sẻ. Cô T. và chồng không còn
quan tâm đến đứa con trai đầu lòng của mình nữa. “Ngày nó tốt nghiệp, nó có
mời cô chú đến tham dự, nhƣng vợ chồng cô chẳng buồn đi.” Bao năm qua,
vợ chồng cô T. đã cố gắng hết sức để “chữa trị” căn bệnh đồng tính của con
trai. Họ đƣa con đi hết bệnh viện này đến bệnh viện kia, làm đủ kiểu xét
nghiệm máu và thậm chí còn tiêm cả hoóc-môn cho con. “Nghe ngƣời ta
mách rằng có thể con trai cô bị một vong nữ nhập, cô chú đã đƣa nó đến gặp
thầy pháp ở tận miền Tây. Ngƣời ta dùng phép đâm vào chỗ kín của nó trong
khi tra hỏi danh tính cái vong, vậy mà nó vẫn cứ trả lời “Con là D.”. Họ trói


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status