Thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành và kỳ thị, phân biệt đối xử với người nhiễm HIVAIDS của người dân thành phố tam kỳ, tỉnh quảng nam năm 2016 - Pdf 43

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

LÊ ĐỖ MƯỜI THƯƠNG

THỰC TRẠNG KIẾN THỨC, THỎI ĐỘ, THỰC
HàNH Và KỲ THỊ, PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ VỚI
NGƯỜI NHIỄM HIV/AIDS CỦA NGƯỜI DÂN
THàNH PHỐ TAM KỲ, TỈNH QUẢNG NAM
NĂM 2016

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

Hà Nội – 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

LÊ ĐỖ MƯỜI THƯƠNG

THỰC TRẠNG KIẾN THỨC, THỎI ĐỘ, THỰC
HàNH Và KỲ THỊ, PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ VỚI
NGƯỜI NHIỄM HIV/AIDS CỦA NGƯỜI DÂN
THàNH PHỐ TAM KỲ, TỈNH QUẢNG NAM


Lê Đỗ Mười Thương


LỜI CAM ĐOAN
Tôi là: Lê Đỗ Mười Thương, học viên cao học Y tế công cộng khóa 24
Trường Đại học Y Hà Nội, chuyên ngành Y tế công cộng, xin cam đoan:
1. Đây là luận văn do bản thân tôi trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫn của
TS. Phan Thị Thu Hương và PGS.TS. Trần Xuân Bách.
2. Công trình này không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào khác đã được
công bố tại Việt Nam.
3. Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu là hoàn toàn chính xác, trung thực
và khách quan, đã được xác nhận và chấp thuận của cơ sở nơi nghiên cứu.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về những cam kết này.
Hà Nội, Ngày 21 tháng 6 năm 2017
Học viên

Lê Đỗ Mười Thương


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
AIDS

: Acquired immunodeficiency syndrome
(Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải )

BKT

: Bơm kim tiêm


KAP

: Knowledge, attitude and practice
(Kiến thức, thái độ, thực hành)

MSM

: Man who have sex with man
(Nam quan hệ tình dục đồng giới )

NMT

: Nghiện ma túy

PNMD

: Phụ nữ mại dâm

QHTD

: Quan hệ tình dục

TCMT

: Tiêm chích ma túy

UNAIDS

: Joint United Nations Programme on HIV/AIDS
(Chương trình phối hợp của Liên hợp quốc về phòng

2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn......................................................................21
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ.........................................................................21
2.2. Địa điểm nghiên cứu............................................................................21
2.3. Thời gian nghiên cứu............................................................................21


2.4. Thiết kế nghiên cứu..............................................................................21
2.5. Mẫu và cỡ mẫu.....................................................................................21
2.5.1. Cỡ mẫu..........................................................................................21
2.5.2. Phương pháp chọn mẫu.................................................................22
2.6. Bộ công cụ và thang đo........................................................................23
2.7. Kỹ thuật thu thập số liệu......................................................................23
2.8. Xử lý và phân tích số liệu.....................................................................24
2.9. Sai số và khống chế sai số....................................................................24
2.10. Đạo đức nghiên cứu..........................................................................25
2.11. Các biến số, chỉ số..............................................................................25
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU.........................................................32
3.1. Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu..........................................32
3.2. Thực trạng kiến thức, thái độ và thực hành về phòng chống lây nhiễm
HIV của người dân tại thành phố Tam Kỳ năm 2016...........................34
3.2.1. Thực trạng về kiến thức phòng chống lây nhiễm HIV của người
dân thành phố Tam Kỳ năm 2016.................................................34
3.2.2. Thực trạng về Thái độ về phòng chống lây nhiễm HIV của người
dân thành phố Tam Kỳ năm 2016.................................................40
3.2.3. Thực trạng về thực hành phòng chống lây nhiễm HIV của người
dân thành phố Tam Kỳ năm 2016.................................................43
3.3. Thực trạng kỳ thị, phân biệt đối xử với người nhiễm HIV/AIDS và một
số yếu tố liên quan.................................................................................46
3.3.1. Thực trạng kỳ thị, phân biệt đối xử với người nhiễm HIV/AIDS. 46
3.3.2. Các yếu tố liên quan đến sự kỳ thị, phân biệt đối xử với người


DANH MỤC BIỂU ĐỒ


1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo chương trình phối hợp của Liên Hiệp Quốc về Phòng chống AIDS
(UNAIDS), đến năm 2015 toàn thế giới có 36,7 triệu người hiện mắc
HIV/AIDS, mỗi năm trên thế giới ghi nhận hơn 1 triệu trường hợp tử vong
liên quan đến HIV/AIDS và 2 triệu trường hợp mắc mới. Những khu vực bị
ảnh hưởng nhiều nhất là Châu Phi, Nam Mỹ và Châu Á Thái Bình Dương .
Việt Nam là quốc gia nằm trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương có số hiện
mắc HIV/AIDS cao theo phân loại của UNAIDS. Tính đến cuối năm 2016,
toàn quốc có 227.154 ca nhiễm HIV đang còn sống được báo cáo. Trong 6
tháng đầu năm 2016 Việt Nam ghi nhận 3.684 trường hợp mắc mới và 862 ca
tử vong . Tỉnh Quảng Nam nói chung và thành phố Tam Kỳ nói riêng là địa
phương có tỷ lệ hiện mắc HIV/AIDS thấp so với mặt bằng chung của cả nước.
Đến cuối năm 2016, toàn tỉnh Quảng Nam ghi nhận 929 ca nhiễm HIV/AIDS
tích lũy . Số ca nhiễm HIV/AIDS tích lũy của thành phố Tam Kỳ là 93 ca tính
đến tháng 6 năm 2016. Tuy có tỷ lệ hiện mắc thấp nhưng công tác phòng
chống HIV/AIDS của thành phố Tam Kỳ còn đang gặp nhiều khó khăn khi có
tới 26,9% đối tượng nhiễm HIV/AIDS tại địa bàn hiện không thể quản lý,
đồng thời số liệu liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống
HIV/AIDS của người dân và tình trạng kỳ thị, phân biệt đối xử của người dân
với người nhiễm HIV còn rất hạn chế .
Kiến thức, thái độ, thực hành kém có thể là điều kiện thuận lợi cho dịch
HIV/AIDS lan truyền. Chính vì vậy, Chiến lược Quốc gia về phòng, chống
HIV/AIDS đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 đã đặt mục tiêu 80% người
dân từ 15 đến 49 tuổi có hiểu biết đầy đủ về HIV/AIDS . Mục tiêu ngắn hạn


3

Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1.

Tình hình dịch tễ học HIV/AIDS.

1.1.1. Tình hình dịch tễ học HIV/AIDS trên thế giới.
Tính đến năm 2015, số người hiện mắc HIV/AIDS trên toàn thế giới
là 36,7 triệu người (34 triệu – 39,8 triệu người). Khu vực chịu ảnh hưởng
nặng nề nhất là Đông và Nam phi với 19,1 triệu người hiện mắc (17,7 triệu20,5 triệu người). Với khoảng 5,1 triệu người hiện mắc, khu vực Châu Á –
Thái Bình Dương xếp thứ 3 chỉ sau khu vực Tây và Trung phi (hình 1.1). Số
mắc mới trong năm 2015 tại Châu Á-Thái Bình Dương năm 2015 là 290.000
người. Theo tổ chức y tế thế giới, cứ mỗi ngày trôi qua lại có gần 6.000
người mắc mới HIV. Các trường hợp mắc mới tập trung chủ yếu ở các nước
kém và đang phát triển, chủ yếu là ở Châu Phi hay khu vực Châu Á-Thái
Bình Dương.
Trong năm 2016, mỗi ngày trên thế giới lại ghi nhận gần 1,2 triệu
trường hợp tử vong liên quan đến AIDS. Trong đó khu vực Châu Á-Thái Bình
Dương ghi nhận gần 240.000 trường hợp tử vong do HIV/AIDS một ngày.
Các đối tượng có nguy cơ cao được chú ý nhiều là gái mại dâm, quan hệ đồng
tính nam và tiêm chích ma túy .
Khu vực Đông Nam Á là khu vực của châu Á chịu ảnh hưởng nặng nề
nhất của dịch HIV/AIDS. Hiện nay, khu vực này có gần 4 triệu người đang
nhiễm HIV/AIDS. Các nước có số lượng người hiện mắc cao trong khu vực là
Indonesia (660.000 người), Thái Lan (450.000 người), Việt Nam (260.000)
người. Đặc điểm truyền nhiễm của bệnh cũng chuyển dần từ nhóm có tỷ lệ
nhiễm cao trước đây là đối tượng tiêm chích ma túy sang nhóm gái mại dâm
và quan hệ đồng tính nam .

trong đó khoảng 250.000 người trên 15 tuổi, 10.000 trẻ em dưới 15 tuổi.
Trong năm 2014 cũng có khoảng 15.000 người mắc mới, 11.000 người tử
vong do AIDS .
Tỷ lệ người nhiễm HIV được phát hiện lây truyền qua đường tình dục
ngày càng gia tăng, lây truyền qua đường máu có xu hướng giảm. Trong số
người nhiễm HIV được phát hiện báo cáo trong năm 2012 cho thấy: số người
lây truyền qua đường tình dục chiếm tỷ lệ cao nhất 45% tiếp đến số người
nhiễm HIV lây truyền qua đường máu chiếm 42,4% giảm khoảng 0,3% so với
cùng kỳ năm 2011, tỷ lệ người nhiễm HIV lây truyền từ mẹ sang con chiếm
2,4%, tỷ lệ người nhiễm HIV không rõ đường lây truyền là 10,1% ,.
1.1.3. Tình hình dịch tễ học HIV/AIDS tỉnh Quảng Nam.
Từ 5 ca nhiễm HIV phát hiện đầu tiên năm 1993. Tính đến hết năm
2012, toàn tỉnh Quảng Nam có số tích lũy các trường hợp nhiễm HIV/AIDS
là 762 người, tích lũy số trường hợp AIDS là 381 người, trong đó số nhiễm


6

HIV đã tử vong là 296 người. Trong năm 2012, số mắc mới phát hiện trên
toàn tỉnh là 61 người, số người chuyển qua AIDS trong năm là 31 người và 19
người nhiễm HIV đã tử vong .
Đến cuối 2016, số trường hợp nhiễm HIV của Quảng Nam là 929 người
trong đó có 84 trường hợp đã chuyển sang giai đoạn AIDS và 426 trường hợp
tử vong do AIDS và liên quan. Toàn tỉnh có 142/244 xã, phường, thị trấn,
17/18 huyện, thị, thành phố có người bị nhiễm HIV, Phước Sơn là nơi có tổng
số người nhiễm HIV/AIDS được phát hiện cao nhất (94 người), tiếp theo là
Tam Kỳ (92 người), Thăng Bình (92 người)...; một số xã, phường phát hiện
nhiều trường hợp nhiễm HIV như Thị trấn Khâm Đức (Phước Sơn), Bình Trị,
Bình Định (Thăng Bình), Tam Dân, Tam Đàn (Phú Ninh), An Sơn, An Xuân,
Hòa Hương, Tam Ngọc (Tam Kỳ).

1.2.1. Một số nghiên cứu KAP về HIV trên thế giới.
Các nghiên cứu về kiến thức, thái độ và thực hành (KAP) về phòng
chống HIV/AIDS luôn thu hút được sự quan tâm của những nhà dịch tễ học,
đặc biệt là những người đang trực tiếp phòng chống HIV/AIDS. Kiến thức,
thái độ, thực hành góp phần quyết định đến thành công của công tác phòng
chống dịch do HIV/AIDS đến nay vẫn chưa có vaccine dự phòng cũng như
thuốc điều trị đặc hiệu. Tại các nước kém và đang phát triển, các nghiên cứu
KAP lại càng quan trọng, nó cho phép nhà khoa học tìm hiểu các vấn đề còn
tồn tại trong cộng đồng nhằm tìm ra chiến lược truyền thông tốt nhất để cải
thiện hành vi của người dân.
Tại Ethiopia, năm 1993, Ismail S và công sự đã thực hiện một khảo sát
KAP liên quan đến các hành vi nguy cơ cao lây truyền HIV/AIDS trên cộng
đồng nông thôn tại Dembia. Trong 89 nam giới được lựa chọn để phỏng vấn,


8

74,2% báo cáo đã nghe về HIV/AIDS, 89,9% nam giới không biết bất cứu
điều gì về bao cao su. Về thái độ, 60,7% sợ bị nhiễm HIV/AIDS. Về thực
hành, trong ba tháng gần nhất của cuộc điều tra có 7,5% nam giới báo cáo
quan hệ tình dục ngoài hôn nhân. Tác giả cũng tìm ra mối liên quan giữa kiến
thức với thái độ của đối tượng, tuy nhiên không có mối liên quan giữa kiến
thức với thực hành được tìm thấy trong nghiên cứu .
Cũng tại Ethiopia, năm 2003, Negash Y và cộng sự đã tiến hành một
nghiên cứu KAP trên 359 cá nhân trên 15 tuổi tại Gambell. Kết quả cho thấy
phần lớn người dân đã nghe đến HIV/AIDS (96%) chủ yếu qua các phương
tiện truyền thông đại chúng (82,2%). Đa số cho rằng quan hệ tình dục không
an toàn (79,7%) và truyền máu không an toàn (64,2%) là cách lây nhiễm HIV
phổ biến. Về thái độ, khoảng 80% đồng ý về việc sàng lọc trước khi kết hôn và
xét nghiệm tương ứng. Độ tuổi quan hệ tình dục lần đầu của nam là 16,6 và của

quan hệ tình dục, trong số đối tượng này 70,2% có sử dụng bao cao su khi
quan hệ tình dục .
1.2.2. Một số nghiên cứu KAP về HIV tại Việt Nam
Nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống HIV/AIDS
cũng rất được chú ý tại Việt Nam. Điều tra Đánh giá các mục tiêu trẻ em và
phụ nữ Việt Nam năm 2011 của Tổng cụ thống kê, UNICEF và UNFPA cho
thấy, trong nhóm phụ nữ tuổi từ 15-49, tỷ lệ có hiểu biết đúng về phòng tránh
HIV là 45,1%; Tỷ lệ phụ nữ hiểu biết HIV có thể lây truyền từ mẹ sang con
49,6%; Tỷ lệ phụ nữ chấp nhận quan niệm sống chung với người nhiễm HIV
28,9%; Tỷ lệ phụ nữ biết nơi xét nghiệm HIV 61,1%; Tỷ lệ phụ nữ đã từng
xét nghiệm HIV và biết kết quả 6,6%; Tỷ lệ phụ nữ có QHTD đã từng xét
nghiệm HIV và biết kết quả 7,9%; Tỷ lệ phụ nữ sinh được cung cấp thông tin
HIV khi đi khám thai 20,9%, đã xét nghiệm HIV trong khi khám thai và nhận
được kết quả xét nghiệm 28,6%. Hầu như tất cả phụ nữ trẻ độ tuổi 15–24 tại
Việt Nam (96,5%) đều đã nghe nói về AIDS. Khoảng 81% phụ nữ có hiểu
biết đúng về phòng chống lây truyền HIV .


10

Nghiên cứu của Nguyễn Hồng Sơn và cộng sự, đánh giá kiến thức, thái
độ, thực hành phòng chống HIV/AIDS của nam thanh niên 15-24 tuổi, tại
thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, năm 2005. Nghiên cứu tiến hành phỏng
vấn và lấy máu xét nghiệm HIV cho 637 nam thanh niên 15-24 tuổi tại một
phường của thành phố Hạ Long. Kết quả cho thấy: Tỷ lệ nhiễm HIV của nam
thanh niên 15-24 là 0,6%; có 78,9% biết chính xác 3 biện pháp chủ yếu phòng
chống HIV/AIDS, 26,6% cho rằng do muỗi đốt, 10,1% cho rằng ăn chung có
thể lây HIV .
Nghiên cứu của Nguyễn Văn Kính và cộng sự - Đại học Y Dược TP.
Hồ Chí Minh năm 2009 về kiến thức, thái độ, và thực hành phòng chống

Nghiên cứu được triển khai trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế của
Nguyễn Dung và cộng sự cho thấy 40,7% người dân trả lời đúng hoàn toàn 5
câu hỏi về phòng tránh lây nhiễm HIV/AIDS và phản đối những quan niệm sai
lầm phổ biến về HIV. Có 97,3% đối tượng nghiên cứu đã từng QHTD và
37,3% thường xuyên sử dụng BCS trong tháng qua khi QHTD, 18,5% không
sử dụng BCS với các lý do: không có sẵn BCS (32,7%), bạn tình không chấp
thuận (20%), cảm giác khó chịu khi sử dụng (47,3%). Nơi cung cấp BCS chủ
yếu là hiệu thuốc (42%), trạm y tế (29,4%) và chợ, quầy bán lẻ (22,7%).
Những ban ngành tham gia tuyên truyền phòng chống HIV/AIDS phù hợp
nhất là y tế (52,3%) và ban ngành, đoàn thể (58,2%); bạn bè đồng đẳng
(45,1%); chính quyền địa phương (31,2%) .
Mặc dù HIV/AIDS là căn bệnh phổ biến (trên 80% người dân tại các
nghiên cứu có nghe đến HIV/AIDS), tuy nhiên các nghiên cứu về kiến thức,
thái độ, thực hành phòng chống HIV/AIDS tại các quốc gia, vùng miền có đặc
điểm tương đồng cho thấy tỷ lệ người dân có kiến thức, thái độ và thực hành về
phòng chống HIV/AIDS đều ở mức thấp (từ 15 đến 50%). Tại Tam Kỳ hiện
nay vẫn chưa có một nghiên cứu nào về thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành
của người dân. Chính vì vậy, nghiên cứu triển khai sẽ góp phần giúp người làm


12

công tác phòng chống HIV/AIDS tại Tam Kỳ có các chứng cứ cụ thể nhằm xây
dựng các chiến lược truyền thông về HIV/AIDS phù hợp.
1.3.

Kỳ thị, phân biệt đối xử với người nhiễm HIV.

1.3.1. Khái niệm kỳ thị
Kỳ thị người nhiễm HIV là thái độ khinh thường hay thiếu tôn trọng

nhiễm HIV. Sự kỳ thị và phân biệt đối xử vi phạm đến các quyền cơ bản của
con người, ở các cấp độ khác nhau từ chính trị đến kinh tế, xã hội, tâm lý và
thể chế.
Một khi có sự kỳ thị thì người ta thường muốn làm ngơ trước tình trạng
thực sự hoặc có thể nhiễm HIV của mình. Điều này dẫn đến nguy cơ làm cho
bệnh tật tiến triển nhanh hơn đối với bản thân họ cũng như nguy cơ gây lây
nhiễm HIV sang những người khác .
1.3.3. Một số nghiên cứu về kỳ thị, phân biệt đối xử với người nhiễm
HIV/AIDS.
Tình trạng kỳ thị, phân biệt đối xử với người nhiễm HIV/AIDS được
quan tâm nhiều trong thời gian gần đây. Đặc biệt là các khu vực nhu Châu Á
Thái Bình Dương. Tại Trung Quốc, điều tra năm 2009 cho thấy 57% số người
nhiễm HIV sợ bị tiết lộ tình trạng bản thân bởi người nhiễm HIV khác, gần
một nửa (48,6%) sợ bị tiết lộ thông tin bản thân bởi người khác. Tình trạng tự
kỳ thị cũng là vấn đề phổ biến ở những người sống chung với HIV ở Trung
Quốc, 62,1% số người được hỏi cho thấy họ tự cảm thấy xấu hổ với bản thân,
74,5% số người đổ lỗi cho bản thân hay mình có lòng tự trọng thấp chiếm đến
75,4%. Gần một nửa số người được hỏi đã nghĩ đến ý định tự tử. Tự kỳ thị
cũng được mô tả trong cuộc điều tra thông qua các chỉ số khác như tự cô lập
bản thân với các hoạt động xã hội, hoặc ngừng làm việc. Có 41,7% số người
được phỏng vấn cho biết họ phải đối mặt với ít nhất 1 loại phân biệt đối xử
liên quan đến HIV; 12,1% số người được hỏi đã bị từ chối chăm sóc y tế ít
nhất 1 lần kể từ khi họ xét nghiệm dương tính với HIV, một số lượng người


14

đáng kể cho biết họ đã bị mất công việc, bị từ chối tuyển dụng (14,8%), bị di
chuyển vị trí việc (16,8%) làm hay từ chối cơ hội thăng tiến (3,8%). Có 6,2%
người dưới 25 tuổi nhiễm HIV cho biết họ phải nghỉ học ít nhất 1 lần, 36,2%

của bản thân được mô tả qua các hành động như từ bỏ tham gia các hoạt
động xã hội (22%), tự cô lập với gia đình, bạn bè (13%), ngừng làm việc
(19%), ngừng các hoạt động giáo dục (13%), không quan hệ tình dục (13%),
không có thêm con (58%), tránh đến các phòng khám (36%). Đồng thời, tự
kỳ thị cũng được thể hiện qua các cảm giác như bị xì xào bàn tán (59%), bị
lăng mạ (42%), bị quấy rối (26%), bị hành hung (13%) và 45% bị từ chối
tình dục .
Tại Philippines nghiên cứu năm 2010 của 80 cá nhân nhiễm HIV tham
gia cho kết quả: 17,5% số đối tượng cho biết họ bị loại bỏ khỏi các hoạt động
xã hội, 9/80 người bị loại bỏ khỏi các hoạt động của gia đình ít nhất 1 lần,
39/80 người cảm thấy có sự xì xào bàn tán của xã hội, 23 người cho thấy bị
xúc phạm, đe dọa hay quấy rối, 5 người đã bị hàng hung trong vòng 12 tháng
gần nhất. Về nơi cư trú và công việc, 10% số người cho biết phải di chuyển
nơi cư trú và 21% bị mất việc do tình trạng nhiễm HIV của bản thân. Một đặc
điểm đáng lưu ý trong báo cáo của Philippines là tỷ lệ tự kỳ thị bản thân ở
những người sống chung với HIV khá cao. Có 73,8% người cảm thấy xấu hổ,
76,3% cảm thấy có lỗi, 37,5% có ý định tự tử ,.
Các chỉ số kỳ thị (Stigma index) lần đầu tiên được triển khai bởi VNP+
năm 2011. Trong năm 2014, VNP+ đã triển khai vòng thứ 2 để phân tích sự
kỳ thị và phân biệt đối xử với những người sống chung với HIV tại Việt Nam.
Đồng thời, cho phép đánh giá những tích cực/tiêu cực trong 3 năm. Kết quả
cho thấy, số người nhiễm HIV báo cáo vi phạm các quyền của mình giảm
đáng kể từ 21,8% xuống 11,2%, số người nghe nói về luật phòng chống HIV
tăng từ 61,6% đến 69,6%, tuy nhiên có sự thay đổi không có ý nghĩa thống kê
về số người đã đọc và thảo luận các nội dung của luật cũng như tìm cách sửa



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status