Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khóa luận tốt nghiệp
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Bộ nhện (Araneae) là một trong những nhóm động vật chân khớp cổ có
tính đa dạng sinh học cao, phân bố rộng khắp và phổ biến nhất. Các nhà khoa
học đã tìm thấy hoá thạch nhện 300 triệu năm tại Bắc Mỹ. Nhện được tìm
thấy ở mọi nơi: trong nhà, trong rừng, vườn cây, trên cánh đồng lúa, công
viên, bụi cây, ven sông, ven suối,... Nhện không chỉ đa dạng về số loài mà còn
chiếm ưu thế về mặt số lượng trong quần thể các nhóm chân khớp. Trên thế
giới đã xác định được 38.998 loài, 3.607 giống thuộc 110 họ nhện khác nhau
(Platnick, 2005) [19].
Các loài nhện lớn góp phần tích cực vào việc hạn chế sự phát triển của
côn trùng gây hại trên các cây trồng nông nghiệp. Con mồi của nhện là nhiều
loài côn trùng và sâu hại như rệp, rầy các loại, ruồi đục quả, bọ nhảy, sâu non
và trưởng thành các loài thuộc bộ cánh vảy,... (Song và Zhu, 1999) [21].
Hầu hết các nước trên thế giới đã công bố nhiều công trình nghiên cứu
về nhện có tầm quan trọng đặc biệt cho khoa học và thực tiễn. Các nghiên cứu
cơ bản về khu hệ nhện của mỗi nước đã và đang được hoàn thiện, chuyển
sang nghiên cứu ở các lĩnh vực sâu hơn (nghiên cứu nọc độc, nghiên cứu tơ
nhện ở cấp độ phân tử, ...).
Khu hệ nhện Việt Nam được đánh giá là có mức đa dạng sinh học cao,
nhưng chưa được tập trung nghiên cứu. Trong những năm gần đây đã có một
số công trình nghiên cứu về nhện. Các nghiên cứu này mới chỉ tập trung trên
một số cây trồng nông nghiệp như lúa, đậu tương, nhãn vải. Trong danh sách
275 loài đã được ghi nhận ở Việt Nam hiện nay, có 68 loài mới cho khoa học.
Việc nghiên cứu đa dạng sinh vật nói chung và đa dạng thành phần loài
nhện nói riêng ở nhiều sinh cảnh khác nhau có ý nghĩa quan trọng trong việc
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tiến hành khảo sát, điều tra, thu thập mẫu vật nhện tại một số sinh
cảnh điểnhình của khu vực nghiên cứu.
- Phân tích mẫu vật thu thập được trong phòng thí nghiệm.
- Xử lý số liệu.
Lâm Thị Thu Hiền
2
K35B - SP Sinh
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khóa luận tốt nghiệp
3. Nội dung nghiên cứu
- Điều tra xác định thành phần và số lượng các loài nhện tại Trạm đa
dạng Sinh học Mê Linh, Vĩnh Phúc và phụ cận.
- Xác định sự phân bố và thích nghi của nhện tại các sinh cảnh ở vùng
nghiên cứu.
- Xác định kích thước quần thể của các loài nhện và các loài ưu thế tại
điểm nghiên cứu.
4. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn
- Ý nghĩa lí luận: Góp phần bổ sung vào nguồn tài liệu nghiên cứu
thành phần và phân bố nhện ở Việt Nam
- Ý nghĩa thực tiễn: Góp phần khôi phục và bảo vệ tính đa dạng sinh
học
giáp đầu ngực bao gồm tấm lưng ngực và tấm bụng ngực. Phía trên đầu của
giáp đầu ngực có miệng và 1 đôi chân kìm, bên cạnh chân kìm là 1 đôi chân
xúc giác. Các mắt nằm trên tấm lưng ngực, thông thường có 8 mắt đơn. Bộ
phận sinh dục con cái nằm ở phần giữa mặt dưới của bụng. Cuối bụng có 1
đến 4 đôi núm tơ (bộ phận nhả tơ). Nhện có 4 đôi chân bò nằm trên phần giáp
đầu ngực. Nhện đực và nhện cái phân biệt với nhau qua đốt ngoài cùng của
đôi chân xúc giác (đốt này gọi là xúc biện). Xúc biện nhện đực phình rất to ở
Lâm Thị Thu Hiền
4
K35B - SP Sinh
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khóa luận tốt nghiệp
đầu, chân xúc giác nhện cái thuôn dài. Nhện phát triển qua các giai đoạn:
trứng - nhện non - nhện trưởng thành.
Việc phân loại nhện chỉ tiến hành trên nhện trưởng thành, đặc điểm cơ
bản nhất sử dụng trong phân loại là xúc biện của con đực (đốt ngoài cùng của
chân xúc giác) và bộ phận sinh dục của con cái.
1.2.Tình hình nghiên cứu nhện (Araneae) trên thế giới
Nhận thức rõ tầm quan trọng của các loài nhện trong khoa học và thực
tiễn đời sống, năm 1999 một tổ chức với tên gọi là Hội nhện Quốc tế
(International Society of Arachnology) đã được thành lập với sự tham gia của
hơn 600 nhà khoa học từ 60 nước khác nhau trên toàn thế giới. Từ sau hội
nghị nhện quốc tế lần thứ XV năm 2001, nghiên cứu về nhện đã thực sự trở
Song và Zhu [21] đưa ra danh sách 2361 loài thuộc 450 giống của 56 họ nhện
đã ghi nhận được ở nước này.
Tác giả Davies (1986) [15] đã nghiên cứu và xây dựng khoá định loại
tới họ của bộ nhện và khoá định loại tới loài của nhóm nhện chăng lưới đã ghi
nhận được tại Ôxtrâylia.
1.2.2. Về sinh học, sinh thái học, tập tính và vai trò của nhện
Theo Foelix (1996) [16] nhện phát triển qua 3 giai đoạn là trứng, nhện
non và nhện trưởng thành. Giai đoạn nhện non có thể đạt tới 15 tuổi. Về kích
thước cơ thể thì nhện cái luôn luôn lớn hơn nhện đực. Hầu hết con đực bị chết
sau khi giao phối. Vòng đời của nhện có thời gian phát dục khác nhau tuỳ
từng loài. Sinh trưởng của nhện non phải qua các lần lột xác. Tinh dịch của
nhện được cất giữ tại chân xúc giác nhện đực.
Thức ăn chính của nhện là các động vật chân khớp nhỏ, thậm chí chúng
có thể ăn thịt lẫn nhau. Các loài nhện chăng tơ bắt mồi theo kiểu thụ động,
chờ con mồi dính vào lưới rồi nhện băng ra tiêm nọc độc vào con mồi cho tê
liệt trước khi ăn.
Các nghiên cứu về sự xuất hiện của nhện trong năm chỉ ra rằng nhện
trong vườn cây ăn quả trú ẩn qua đông trên các cây trồng như táo, lê, vải,
bưởi (Schaefer, 1987) [20].
Tất cả các loài nhện đều có bộ phận sản xuất tơ. Bản chất của tơ nhện
là Protein, được cấu thành bởi nhiều amino acid, trong đó có một số amino
acid đặc biệt, nên tơ nhện có độ bền vững cao và được sử dụng trong sản xuất
áo quân sự và kính chống đạn. So sánh các vật liệu tự nhiên và vật liệu nhân
tạo thì tơ nhện là vật liệu đáng chú ý: nó có độ bền và sự dẻo dai gấp 2 đến 3
Lâm Thị Thu Hiền
6
K35B - SP Sinh
Phạm Đình Sắc và Khuất Đăng Long (2001) [7] đã công bố thành phần loài
nhện trên đậu tương tại 3 tỉnh Hà Nội, Hoà Bình và Bắc Ninh bao gồm 26 loài
thuộc 9 họ nhện.
Lâm Thị Thu Hiền
7
K35B - SP Sinh
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khóa luận tốt nghiệp
Một số công trình nghiên cứu thành phần loài nhện trên cây vải thiều đã
được công bố. Phạm Đình Sắc và Vũ Quang Côn (2002) [5] đã ghi nhận được
29 loài nhện trên cây vải thiều ở Mê Linh - Vĩnh Phúc.
Khu hệ nhện ở các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên của Việt
Nam rất ít được nghiên cứu. Lần đầu tiên ở Việt Nam, một loài nhện độc họ
Theraphosidae đã được tìm thấy ở vườn quốc gia Tam Đảo - Vĩnh Phúc và
khu bảo tồn thiên nhiên Hữu Liên - Lạng Sơn (Phạm Đình Sắc và Vũ Quang
Côn, 2005) [6]. Kết quả thống kê từ tất cả các công trình đã công bố cho thấy
hiện nay Việt Nam đã ghi nhận được 275 loài thuộc 144 giống của 30 họ nhện
(Phạm Đình Sắc, 2005) [4].
1.3.2. Về sinh học, sinh thái học, tập tính và vai trò của nhện
Các nghiên cứu về sinh học sinh thái của nhện ở Việt Nam còn rất ít.
Cho đến nay, 2 loài được nghiên cứu về đặc tính sinh học sinh thái bao gồm
nhện sói Pardosa pseudoannulata và nhện linh miêu Oxyopes javanus. Kết
quả nghiên cứu của Bùi Hải Sơn (1995) [10] cho thấy: loài nhện Pardosa
nguyên Sinh vật
2.3. Địa điểm nghiên cứu
Đề tài được thực hiện tại khu vực Trạm Đa dạng Sinh học Mê Linh Vĩnh Phúc bao gồm Trạm đa dạng Sinh học và khu vực phụ cận.
Năm sinh cảnh được chọn để nghiên cứu là:
+ Sinh cảnh rừng thứ sinh
+ Sinh cảnh trảng cỏ cây bụi
+ Sinh cảnh rừng trồng (cây keo tai tượng, cây bạch đàn)
+ Sinh cảnh vườn đồi (trồng cây vải thiều và cây chè)
+ Sinh cảnh ven suối
2.4. Phương pháp nghiên cứu
2.4.1. Phương pháp thu mẫu ngoài thực địa
Thu nhện hoạt động trên cây: dùng tấm nilon (1,2 x 1,2)m hứng dưới
tán lá và đập mạnh vào tán lá, nhện sẽ rơi xuống. Kết hợp dùng vợt côn trùng
và bắt bằng tay.
Lâm Thị Thu Hiền
9
K35B - SP Sinh
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khóa luận tốt nghiệp
Thu nhện hoạt động trên mặt đất: theo phương pháp của Curtis (1980)
[14] và Millar (2000) [17], dùng bẫy bằng các ly nhựa (kích thước 8 x 12)cm
chôn ngập xuống đất sao cho bề mặt ly nhựa bằng với mặt đất, trong ly nhựa
cho 100 ml dung dịch hỗn hợp cồn 700 và 5% Formalin. Các ly nhựa đặt cách
- Số liệu được xử lí dựa trên chương trình phần mềm PRIMER5. Các
biểu đồ được vẽ bằng phần mềm Excel 5.0.
2.5. Một vài nét khái quát về Trạm đa dạng Sinh học Mê Linh, Vĩnh
Phúc
Theo tài liệu của UBNN xã Ngọc Thanh (2004) [12] và báo cáo khoa
học của Lê Đồng Tấn (2003) [11], khu vực Trạm Đa dạng Sinh học Mê LinhVĩnh Phúc có một số đặc điểm sau:
2.5.1. Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên
2.5.1.1.Vị trí địa lí
Trạm đa dạng sinh học Mê Linh nằm trong địa phận của hợp tác xã
Đồng Trầm, thuộc xã Ngọc Thanh, huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc. Cách thị
xã Phúc Yên 35km, cách hồ Đại Lải khoảng 12km về phía Bắc. Khu vực trạm
ở phía Bắc giáp huyện Phổ Yên, tỉnh Bắc Thái, phía Đông giáp Hợp tác xã
Đồng Trầm, xã Ngọc Thanh huyện Mê Linh, phía Tây giáp vùng ngoại vi
Vườn Quốc gia Tam Đảo, huyện Tam Đảo.
Diện tích tại Trạm Đa dạng Sinh học Mê Linh- Vĩnh Phúc khoảng 170,3 ha,
chiều dài khoảng 3.000m, chiều rộng từ 300-800m. Độ cao từ 50-520m so với
mặt nước biển.
Lâm Thị Thu Hiền
11
K35B - SP Sinh
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khóa luận tốt nghiệp
2.5.1.2. Điều kiện tự nhiên
K35B - SP Sinh
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khóa luận tốt nghiệp
gặp suối Thanh Lộc đổ vào hồ Đại Lải. Ngoài ra còn có một số suối cạn ngắn
chỉ có nước sau những trận mưa.
2.5.2. Tài nguyên ĐV và TV tại Trạm đa dạng Sinh học Mê Linh,
Vĩnh Phúc và những khu vực lân cận.
- Nhóm cây nông nghiệp: Về sản xuất nông nghiệp, cây chè và cây vải
thiều được trồng phổ biến ở khu vực lân cận Trạm đa dạng Sinh học. Hiện
nay cây chè từng bước được phát triển tại đây, diện tích trồng chè đã lên tới
gần 50 ha. Cây chè cũng được trồng rải rác trong địa phận của Trạm đa dạng
Sinh học.
- Hệ thực vật: Trạm Đa dạng sinh học Mê linh hiện có 166 họ thực vật
với 651 chi và 1129 loài. Có thể nói rằng thảm thực vật nguyên sinh ỏ Trạm
Đa dạng sinh học Mê Linh đã bị phá huỷ hoàn toàn, thay thế vào đó là các
trạng thái rừng thứ sinh và rừng trồng [11].
- Khu hệ động vật: Theo kết quả điều tra năm 2003 đã xác định thành
phần phân loại học của 5 lớp: thú (13 loài), chim (109 loài), bò sát (14 loài),
ếch nhái (13 loài), côn trùng (25 bộ, 99 họ, 461 loài) [11].
Lâm Thị Thu Hiền
13
K35B - SP Sinh
số các
loài nhện
(%)
20,34
Rừng
Rừng Trảng Vườn Ven
thứ sinh trồng cỏ, cây đồi suối
bụi
1
2
3
4
5
6
7
8
9
1.Họ Agelenidae
Agelenasublimba
Wang,1991
2. Họ Araneidae
Araneus inustus
(C.L. Koch,1871)
Argiope bruennichii
(Scopli,1772)
8
26
1,07
2
1
3
0,12
4
1
5
0,21
1
0,04
1
0,04
K35B - SP Sinh
Trường ĐHSP Hà Nội 2
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
27
28
29
30
(Sundevall,1830)
Ummeliata inseciceps
(Boesenberg & Strand,1906)
6. Họ Lycosidae
Hippasa holmerae
Thorell,1895
Pardosa birmanica
Simon,1884
Pardosa pseudoanulata
(Boesenberg & Strand,1906)
Pardosa sumatrana
(Thorell,1890)
Pirata blabakensis
Barrion & Litsinger,1995
Pirata suppiraticus
Boesenberg et Strand,1906
Lâm Thị Thu Hiền
Khóa luận tốt nghiệp
2
2
0,08
2
2
14
162
6,62
6
7
0,28
5
0,21
18
22
0,90
1
6
2
8
2
9,07
2
6
4
1
13
0,53
1
0,04
2
0,08
7
0,29
1
2
1
0,24
1
0,04
2
0,08
1
1
15
1
4
2
K35B - SP Sinh
Trường ĐHSP Hà Nội 2
31
32
33
Doleschall,1859
9. Họ Salticidae
Bianor hotingchiehi
Schenkel,1963
Burmattus sinicus
Proszynski,1992
Carrhotus sannio
(Thorell,1877)
Epeus glorius Zabka,1985
Evarcha flavocincta
(C.L. Koch,1846)
Epocilla cancarata
(Karsch,1880)
Harmochirus brachiatus
(Thorell,1877)
Hasarius adansoni
(Savigny & Audouin,1827)
Marpissa magister
(Karsch,1879)
Myrmaracha legon
Wanless,1978
Phintella versicolor
(C.L. Koch,1846)
Phintella lucai Barrion &
Litsinger,1995
Phintella vittata
(C.L. Koch,1845)
Plexippus paykulli
(Savigny & Audouin,1827)
Plexippus petersi
70
2,86
2
0,08
184
7,52
44
1,79
1
5
0,21
1
1
0,04
4
11
21
4
1
1
10
7
1
7
1
1
41
73
1
6
8
8
0,32
2
12
0,48
7
0,29
4
0,16
1
0,04
58
2
4
1
3
Karsch,1879
Leucauge decorata
(Blackwall,1864)
Tetragnatha mandibulata
Walckenaer,1842
Tetragnatha maxillosa
Thorell,1890
Tetragnatha nitents
(Audouin,1826)
Tetragnatha javana
(Thorell,1890)
Tetragnatha vermiformis
Emerton,1884
Tetragnatha virescens
Okuma,1979
11. Họ Therididae
Coleosoma blandum
Cambridge,1882
Theridium octomaculatum
Boesenberg et Strand,1995
12. Họ Thomicidae
Oxytate
virens(Thorell,1891)
Runcinia acuninata
(Thorell,1881)
Misumenoides matinikus
Barrion & Litsinger,1995
Thomisus italongus
Barrion & Litsinger,1995
Xysticus palawanicus
4
6
0,24
1
1
0,04
4
9
0,36
4
4
0,16
1
12
16
2
3
0,12
8
13
0,53
1
0,04
2
0,08
5
0,21
2
0,08
2
4
1
1
1
1
2
1
1
2
1
312
17
15
331
295
1305 205 2448
họ nhện lùn Linyphiidae và họ nhện linh miêu Oxyopidae, mỗi họ có 3 loài
chiếm 4,35 %. Ba họ có số loài ít nhất, mỗi họ (1 loài) chiếm 1,45 % bao gồm
họ nhện lưới phễu Agelenidae, họ nhện lưới phễu nhỏ Hexathelidae và họ
nhện cá Pisauridae (bảng 3.2).
Lâm Thị Thu Hiền
18
K35B - SP Sinh
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khóa luận tốt nghiệp
Bảng 3.2. Số loài và số lượng cá thể thuộc các họ nhện bắt gặp
tại Trạm đa dạng Sinh học Mê Linh và phụ cận
STT
Họ
1
Agelenidae
Nhện lưới phễu
Araneidae
Nhện bụng tròn chăng lưới
Clubionidae
Nhện cuốn tổ
12
Số
loài
1
Tỷ lệ (%)
1,45
Số cá
thể
498
Tỷ lệ
(%)
20,34
16
23,18
293
11,97
3
4,35
34
81
3,31
1
1,45
184
7,52
20
28,98
988
40,36
8
11,59
67
2,73
2
Lâm Thị Thu Hiền
19
K35B - SP Sinh
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khóa luận tốt nghiệp
Hexathelidae (9,07 %), họ nhện Pisauridae (7,52 %). Các họ còn lại có số
lượng cá thể nhện bắt gặp rất ít.
3.1.3. Các loài nhện chiếm ưu thế về số lượng cá thể bắt gặp
Trong tổng số 69 loài nhện bắt gặp ở khu vực Trạm đa dạng Sinh học
Mê Linh, 5 loài được chúng tôi ghi nhận là phổ biến, có số lượng cá thể bắt
gặp cao (bắt gặp trên 100 cá thể / 1 loài), kết quả ở bảng 3.3.
Chiếm ưu thế về số lượng cá thể bắt gặp tại điểm nghiên cứu là loài
nhện lưới phễu Agelena sublimbata (chiếm 32,03 % tổng số cá thể nhện bắt
gặp) và loài nhện nhảy vằn xám Phintella versicolor (chiếm 20,34 % tổng số
cá thể nhện bắt gặp). Tiếp đến là 3 loài có số lượng cá thể bắt gặp tương đối
cao bao gồm: Macrothele holsti (chiếm 9,07 % tổng số cá thể nhện bắt gặp),
Dolomes albocinctus (chiếm 7,51 % tổng số cá thể nhện bắt gặp), Nephila
maculata (chiếm 6,62 % tổng số cá thể nhện bắt gặp). Các loài còn lại chiếm
tỷ lệ rất thấp (bao gồm 64 loài, mỗi loài trung bình chiếm tỷ lệ 0,38 % tổng số
cá thể).
Bảng 3.3. Số lượng cá thể của các loài nhện phổ biến trong tổng số lượng
cá thể nhện bắt gặp tại Trạm đa dạng Sinh học Mê Linh và phụ cận
STT
4
Dolomes albocinctus
184
7,51
5
Nephila maculata
162
6,62
6
Các loài còn lại (64 loài)
598
24,43
2448
100,00
Tổng số
thứ sinh
Rừng
trồng
Trảng cỏ
cây bụi
Vườn
đồi
Ven
suối
41
73
58
612
0
(5,23 %)
(9,31%)
(7,40%)
(14,86%)
46
(20,73%)
122
(54,95%)
21
(9,46%)
0
222
(100,00%)
0
0
0
0
184
(100 %)
184
(100,00%)
Như vậy, qua bảng 3.4 ta thấy: Loài phintella versicolor chiếm số
lượng cá thể nhện băt gặp tại 5 sinh cảnh là lớn nhất với 784 cá thể, tiếp đến
là loài Agelena sublimbata với 498 cá thể, tới loài Macrothele holsti với 222
cá thể, sau đó là loài Dolomes albocinctus với 184 cá thể, cuối cùng là loài
Nephila maculata với 162 cá thể.
Lâm Thị Thu Hiền
21
K35B - SP Sinh
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khóa luận tốt nghiệp
Hình 3.1. Số lượng cá thể nhện bắt gặp ở các sinh cảnh khác nhau
của 5 loài nhện phổ biến
Kết quả bảng 3.4 và hình 3.1 cho thấy:
Loài nhện nhảy Phintella versicolor chiếm ưu thế về số lượng cá thể ở
sinh cảnh vườn đồi. Theo kết quả điều tra chúng tôi ghi nhận được: trong 2
loại cây trồng được trồng phổ biến ở sinh cảnh này là cây vải thiều và cây chè
thì loài nhện này xuất hiện chủ yếu trên cây vải thiều. Trong tổng số 612 cá
thể nhện bắt gặp trong sinh cảnh vườn đồi bao gồm 586 cá thể nhện bắt gặp
trên vườn vải, 26 cá thể nhện bắt gặp trên vườn chè.
Lâm Thị Thu Hiền
22
trong suốt thời gian nghiên cứu. Theo Coddington và những người khác
(1996) [13], những loài bắt gặp duy nhất 1 cá thể tại vùng nghiên cứu thuộc
tình trạng đơn độc (singleton status) rất có ý nghĩa cho khoa học đặc biệt
trong công tác bảo tồn, những vùng có nhiều loài trong tình trạng này tương
Lâm Thị Thu Hiền
23
K35B - SP Sinh
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khóa luận tốt nghiệp
ứng với một hệ sinh thái chưa ổn định có nhiều tác động gây suy giảm sự
phong phú của loài.
Bảng 3.5. Sự đa dạng của các loài nhện tại Trạm đa dạng Sinh học
Mê Linh và phụ cận
Số cá thể / loài
Số cá thể bắt gặp
Số loài
1
2
3
4
24
28
16
36
12
26
28
16
19
22
24
26
27
33
44
65
70
162
184
222
498
784
2448
12
11
4
4
4
4
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khóa luận tốt nghiệp
Hình 3.2. Tương quan giữa số lượng loài nhện theo số cá thể bắt gặp
Từ hình vẽ 3.2 có thể chia mức đa dạng của các loài nhện tại khu vực
nghiên cứu ra 3 nhóm:
Nhóm 1 có sự đa dạng cao về loài với 11 hoặc 12 loài (bao gồm 23 loài)
và có kích thước quần thể nhỏ, mỗi loài có 1 hoặc 2 cá thể.
Nhóm 2 có sự đa dạng trung bình về loài với 2 đến 4 loài (bao gồm 30
loài) có kích thước quần thể trung bình, 3 đến 14 cá thể.
Nhóm 3 ít đa dạng, có số loài là 1 loài và có kích thước quần thể lớn, 16
đến 784 cá thể.
Như vậy, về mặt bảo tồn những loài nằm trong nhóm 1 cần phải bảo vệ
và duy trì hơn so với nhóm 2 và 3.
Lâm Thị Thu Hiền
25
K35B - SP Sinh