Trường đại học sư phạm Hà Nội 2
Khoa sinh - KTNN
MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
Tuổi dậy thì là giai đoạn phát triển quan trọng của một con người, nó xuất
hiện những biểu hiện rất đặc trưng về mặt tâm sinh lý. Đó là giai đoạn từ tuổi
thơ đang dần trở thành người lớn với sự trưởng thành cả về thể chất và tâm
hồn sâu sắc. Trong thời kỳ này trẻ bắt đầu có những băn khoăn, suy nghĩ về
sự biến đổi của cơ thể, những khác biệt giới tính giữa nam và nữ.
Khi một đứa trẻ bình thường đến tuổi dậy thì, những nhận thức của nó
tương xứng với sự phát triển tính dục của cơ thể. Ngược lại, những đứa trẻ
mắc chứng dậy thì sớm có nhu cầu về tính dục nhưng lại ở một cá nhân chưa
phát triển về nhận thức, do vậy nhu cầu của chúng hoàn toàn mang tính bản
năng. Thực tế trong những năm gần dây, đã có nhiều công trình nghiên cứu
các chỉ số hình thái và sinh lý của trẻ em Việt Nam, chủ yếu là trên đối tượng
học sinh. Kết quả các nghiên cứu đã cho ra một phổ thông tin khá đa dạng về
các lĩnh vực tâm lý - giáo dục, sinh lý trí tuệ, thể lực,… Dậy thì sớm được cho
là có liên quan đến một số bệnh như: ung thư vú, bệnh lý tim mạch. Dậy thì
sớm là một trong những nguyên nhân khiến trẻ yêu sớm, nhận thức về tình
yêu lệch lạc, trẻ không được trang bị đầy đủ về kiến thức giới tính, làm gia
tăng nguy cơ nạo phá thai ở tuổi vị thành niên. Nếu dậy thì sớm do những
nguyên nhân thực thể, có thể dẫn đến tử vong, nên cần phát hiện sớm và điều
trị kịp thời, nếu vô căn không được điều trị sẽ dễ dẫn đến chiều cao thấp ở
tuổi trưởng thành. Trẻ dậy thì cần có sự chăm sóc đặc biệt, kiểm tra kịp thời
nhằm giải tỏa gánh nặng tâm lý cho trẻ và cho cha mẹ, cải thiện chiều cao cơ
thể và tránh nảy sinh những hậu quả nghiêm trọng
Để tìm hiểu thực trạng, hình thái và các giá trí sinh lý chức năng một số hệ
cơ quan trong cơ thể người ở học sinh THCS, nhằm thực hiện tốt việc đổi mới
giáo dục hiện nay chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu mối tương quan
- Bước đầu đề xuất các biện pháp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho học
sinh trung học cơ sở.
- Là cơ sở dữ liệu trong chiến lược phát triển con người Hà Nội chất
lượng cao.
- Kết quả khảo sát giúp thay đổi nhận thức về cách tiếp cận dạy học tích
hợp các kiến thức về giá trị sống cho học sinh.
1.5. Đóng góp mới của đề tài
- Tìm kiếm các nguyên nhân tác động đến hình thái sinh lý tuổi dậy thì
của học sinh trung học cơ sở.
Lìm Thị Nhẫn
2
Lớp K35B
Trường đại học sư phạm Hà Nội 2
Khoa sinh - KTNN
- Việc nghiên cứu đặc điểm hình thái và đặc điểm sinh dục phụ thứ cấp
của học sinh tuổi dậy thì có liên quan tới các yếu tố môi trường sinh thái và
các yếu tố kĩ năng sống, từ đó đề xuất các phương pháp giáo dục nhân cách
phù hợp.
Lìm Thị Nhẫn
3
xác của chỉ số này không cao lắm do nó dễ thay đổi tuỳ thuộc vào thời điểm
nghiên cứu ( buổi sáng cân nhẹ hơn buổi chiều, sau khi lao động nặng hay tập
thể dục cân nặng giảm…). Tuy nhiên cân nặng của mỗi người nói nên mức độ
Lìm Thị Nhẫn
4
Lớp K35B
Trường đại học sư phạm Hà Nội 2
Khoa sinh - KTNN
và tỉ lệ giữa sự hấp thụ các chất và tiêu hao năng lượng. Cân nặng của 1 người
gồm 2 phần:
+ Phần cố định chiếm 1/3 tổng số cân nặng gồm xương, da, tạng, thần
kinh.
+Phần thay đổi chiếm 2/3 tổng số cân nặng trong đó 3/4 là khối lượng
của cơ và 1/4 là mỡ và nước. Điều này cho thấy tăng cân là tăng phần thay đổi
trong đó khối luợng của cơ chiếm 3/4 vì vậy tăng cân nói nên phần nào mức
độ tăng thể lực cơ thể.
- Vòng ngực trung bình (VNTB): là một trong những kích thước quan
trọng do nó phối hợp với CCĐ và cân nặng để đánh giá thể lực của con nguời.
Tuy nhiên đây cũng là kích thước dễ thay đổi, người ta nhận thấy đo nhiều lần
trên cùng một người các kết quả có thể chênh lệch 2 – 3 cm. VNTB lớn thì
thể lực tốt , do nó liên quan đến khả năng hô hấp của con người.
1.1.2. Cơ sở lý luận về tuổi dậy thì
1.1.2.1. Dậy thì nam
cho rằng nguyên nhân của dậy thì là “sự chín” của tuyến yên. Ngày nay, với
các thực nghiệm ghép tinh hoàn và tuyến yên của động vật non vào động vật
trưởng thành người ta thấy cả hai tuyến đó đều có khả năng hoạt động như
của động vật trưởng thành nếu có những kích thích phù hợp. Không những
thế, ngay cả vùng dưới đồi cũng có khả năng bài tiết đủ lượng GnRH. Tuy
nhiên, trong thực tế cả ba vùng này đều không hoạt động trong suốt thời kỳ từ
sau khi sinh đến trước tuổi dậy thì vì thiếu một tín hiệu kích thích đủ mạnh từ
các trung tâm phía trên vùng dưới đồi, mà ngày nay người ta thường cho rằng
trung tâm đó chính là vùng limbic. Như vậy, dậy thì chính là quá trình trưởng
thành hay quá trình “chín” của vùng limbic. Khi vùng limbic trưởng thành,
những tín hiệu xuất phát từ vùng limbic sẽ đủ mạnh để kích thích vùng dưới
đồi bài tiết đủ lượng GnRH và phát động hoạt động chức năng của trục vùng
dưới đồi – tuyến yên – tuyến sinh dục.
1.1.2.2. Dậy thì nữ
Sau khi trẻ gái ra đời, buồng trứng không hoạt động cho tới khi nhận
được kích thích phù hợp từ tuyến yên. Hai buồng trứng bắt đầu hoạt động, thể
hiện bằng hoạt động sinh giao tử và bài tiết hormon sinh dục nữ dẫn đến
những thay đổi về thể chất, tâm lý, sự trưởng thành và hoàn thiện về chức
năng sinh dục. Thời kỳ phát triển và trưởng thành này được gọi là dậy thì.
- Những biến đổi về cơ thể:
Trong thời kỳ này, cơ thể các em gái phát triển nhanh về chiều cao
đứng cũng như cân nặng. Cơ thể trở nên cân đối, mềm mại, thân hình có
Lìm Thị Nhẫn
6
Lớp K35B
Trường đại học sư phạm Hà Nội 2
hiện tuyến vú bắt đầu phát triển. Ở Việt Nam, thời điểm này thường vào lúc
Lìm Thị Nhẫn
7
Lớp K35B
Trường đại học sư phạm Hà Nội 2
Khoa sinh - KTNN
8-10 tuổi. Thời điểm dậy thì chính thức được đánh dấu bằng lần có kinh đầu
tiên, ở người Việt Nam vào khoảng 13-14 tuổi.
- Cơ chế dậy thì:
Ở nữ, vùng dưới đồi – tuyến yên – buồng trứng đều có khả năng bài tiết
hoóc môn, nhưng trong thực tế các tuyến này không hoạt động cho tới tuổi
dậy thì vì chúng thiếu những tín hiệu kích thích phù hợp từ vùng limbic. Thời
gian dậy thì chính là khoảng thời gian trưởng thành hay “chín” của vùng
limbic.
- Chu kỳ kinh nguyệt:
Chu kỳ kinh nguyệt là sự biến đổi về cấu trúc, chức năng dẫn tới sự
chảy máu có chu kỳ ở niêm mạc tử cung dưới tác dụng của các hormon tuyến
yên và buồng trứng.
Độ dài của chu kỳ kinh nguyệt là khoảng thời gian tính từ ngày bắt đầu
hành kinh kỳ này đến ngày bắt đầu hành kinh kỳ sau. Độ dài của chu kỳ kinh
nguyệt ở phụ nữ Việt Nam trưởng thành thường là 28-30 ngày.
1.2. LƯỢC SỬ QUÁ TRÌNH NGHIÊN CỨU
1.2.1. Các nghiên cứu về tầm vóc – thể lực
1.2.1.1. Các nghiên cứu trên thế giới
Trọng lượng cơ thể tính bằng kg đã được nhắc tới trong công trình
nghiên cứu của Tenon từ thế kỷ thứ XIII, sang đầu thế kỷ XIX nó được coi là
một chỉ số quan trọng để đánh giá thể lực.
Vòng ngực là chỉ số được nghiên cứu từ những năm 20 của thế kỷ XIX,
đến cuối thế kỷ này thì vòng ngực trở thành một chỉ số quan trọng để đánh giá
thể lực sau chiều cao đứng và cân nặng.
Việc nghiên cứu các chỉ số hình thái, thể lực của trẻ ở các lứa tuổi được
tiếp tục bởi nhiều tác giả ở các nước khác nhau. Từ các dẫn liệu thu thập được,
các tác giả nhận định rằng sự phát triển và tốc độ tăng trưởng các chỉ số diễn ra
không đều qua các thời kỳ khác nhau, có thời kỳ tốc độ tăng trưởng chậm, có
thời kỳ tăng trưởng nhanh. Trong quá trình phát triển của trẻ có hai giai đoạn
“nhảy vọt”, đó là giai đoạn từ 5 đến 7 tuổi và giai đoạn tuổi dậy thì (11-15
tuổi).
Các nhà nghiên cứu cũng nhận thấy có sự khác biệt về các chỉ số hình
thái của trẻ sống ở các vùng, miền khác nhau, cũng như có sự khác biệt theo
tốc độ phát triển các chỉ số hình thái giữa các trẻ nam và trẻ nữ. Cụ thể là các
trẻ sống ở thành phố có các chỉ số hình thái tốt hơn so với các trẻ sống ở nông
thôn. Ở lứa tuổi 7-10, tốc độ tăng CCĐ của các trẻ nữ nhanh hơn so với ở các
Lìm Thị Nhẫn
9
Lớp K35B
Trường đại học sư phạm Hà Nội 2
Khoa sinh - KTNN
trẻ nam, nhưng từ 11 tuổi trở đi tốc độ tăng chỉ số này ở các trẻ nam lại nhanh
Lớp K35B
Trường đại học sư phạm Hà Nội 2
Khoa sinh - KTNN
đồng bằng ở tỉnh Hà Tây, trong đó đã nghiên cứu tầm vóc, thể lực của 2.100
người tuổi 16-70 theo kỹ thuật và phương pháp tiêu chuẩn trong nhân trắc
học.
Trong các năm 1977, 1985, 1986 và 1990, Nguyễn Khải và cộng sự [7]
đã nghiên cứu tầm vóc, thể lực của sinh viên và nông dân trên địa bàn thành
phố Huế và thấy tầm vóc, thể lực của sinh viên kém hơn hẳn so với nông dân
ngoại thành.
Công trình nghiên cứu đồ sộ trong 4 năm (1981-1984) đã được xuất
bản của tập thể tác giả do Võ Hưng chủ biên: “Atlas nhân trắc học người Việt
Nam trong lứa tuổi lao động” [4] đã thực hiện trên 13.233 người ở 15 tỉnh
trên 3 miền Bắc, Trung, Nam và được chia thành 5 lớp tuổi: 17-19, 20-29, 3039, 40-49, 50-55. Đây là công trình nghiên cứu về tầm vóc nhằm ứng dụng
vào việc thiết kế dụng cụ và nơi làm việc (ergonomi).
Năm 1987, trong luận án phó tiến sĩ sinh học “Góp phần nghiên cứu
các đặc điểm hình thái thể lực người Việt lứa tuổi trưởng thành”, Trịnh Hữu
Vách [18] đã nêu lên một số kết luận đáng chú ý trong quá trình nghiên cứu
trên 4.510 người Việt và so sánh với 428 người Chill (Lâm Đồng) và người
Mường (Thanh Hóa), trong đó tác giả đặc biệt nhấn mạnh đến tình trạng thiếu
dinh dưỡng về cả chất lẫn số lượng trong thời gian dài đã ảnh hưởng tới tầm
vóc, thể lực của người Việt Nam và hạn chế quy luật gia tăng theo thời gian.
Kết quả công trình nghiên cứu “Một số nhận xét về sự phát triển chiều
cao, vòng đầu, vòng ngực của người Việt Nam 1-55 tuổi” (1989) do Thẩm
Hoàng Điệp, Nguyễn Quang Quyền và cộng sự [6] thực hiện ở 8 tỉnh thuộc 3
nông thôn Việt Nam đương đại thông qua kết quả nghiên cứu trên 3.972 phụ nữ
thuộc khu vực sản xuất nông nghiệp tại 6 tỉnh trong cả nước, cho thấy tầm vóc,
thể lực phụ nữ nông thôn không khác mấy so với các nghiên cứu trước đây.
Năm 1992, bằng phương pháp nghiên cứu cắt dọc trên học sinh phổ
thông Hà Nội, Thẩm Thị Hoàng Điệp [6] đã công bố những kết luận rất đáng
chú ý trong luận án phó tiến sĩ sinh học: “Đặc điểm hình thái và thể lực học
sinh trường PTCS Hà Nội”.
Năm 1993, trong đợt điều tra cơ bản về y tế và sinh đẻ của cư dân xã
Thắng Lợi (Hà Tây), Nguyễn Hữu Cường và Đào Huy Khuê [4] đã nghiên
cứu trên 615 người tuổi từ 18 đến 65 đã rút ra kết luận về sự cải thiện tầm
vóc, thể lực theo thời gian và cho rằng sự tăng trưởng tầm vóc, thể lực theo
lớp tuổi cũng tương đương như các nghiên cứu từ những năm 1975.
Năm 1993, trong khuôn khổ đề tài “Đặc điểm sinh thể con người Việt
Nam”, Trịnh Văn Minh và cộng sự đã nghiên cứu tầm vóc, thể lực và tình
Lìm Thị Nhẫn
12
Lớp K35B
Trường đại học sư phạm Hà Nội 2
Khoa sinh - KTNN
trạng dinh dưỡng của 1.309 người tuổi từ 18 đến 60 cư trú tại ngoại thành Hà
Nội. Tuy nhiên, cách phân lớp tuổi của các tác giả có hơi khác nên đã gặp khó
khăn khi tiến hành so sánh, đánh giá với các nghiên cứu trước.
Năm 1995, trong khuôn khổ công trình nghiên cứu cấp Bộ và điều tra
cơ bản người Việt Nam, Nguyễn Quang Quyền và cộng sự đã tiến hành đề tài
Trường đại học sư phạm Hà Nội 2
Khoa sinh - KTNN
kỳ phôi thai, đó là giai đoạn tổ chức biệt hóa của vỏ não theo hướng biệt hóa
đực hoặc cái.
Người ta đã tìm thấy trong Hypothalamus những chất tiếp nhận đặc
hiệu đối với hormon sinh dục. Lúc đầu người ta chỉ thấy sự gắn đặc hiệu đối
với hormon sinh dục tại Hypothalamus và tuyến yên. Từ năm 1953 trở lại
đây, người ta đã biết được chức năng sinh dục của hệ Limbic. Trước năm
1970, các nhà khoa học chỉ nói tới vai trò các chất nội tiết trong điều hòa chức
năng sinh sản gồm có cơ chế thần kinh và nội tiết. Sự điều hòa sinh sản đó được
thực hiện theo nhiều bậc dưới đây:
+ Tuyến yên – Tuyến sinh dục
+ Hypothalamus – Tuyến yên – Tuyến sinh dục
+ Hệ Limbic – Hypothalamus – Tuyến yên – Tuyến sinh dục
+ Vỏ não - Hệ Limbic – Hypothalamus – Tuyến yên – Tuyến sinh
dục
Theo cơ chế điều hoà thần kinh - nội tiết, có thể phân biệt hai vòng điều
hoà. Đó là vòng điều hoà “kín” (điều hoà thần kinh bằng nội tiết) và vòng
điều hoà “mở” (điều hoà thần kinh bằng phản xạ). Trong hệ thống điều hoà
chức năng sinh dục, sinh sản, tuyến yên đóng vai trò bộ phận khuyếch đại
“phát động”, Hypothalamus đóng vai trò “điều khiển”; còn tuyến sinh dục là
yếu tố “bị điều khiển” hay cơ quan đích. Trong vòng điều hoà ngược,
Hypothalamus trở thành yếu tố “bị điều khiển” còn tuyến sinh dục trở thành
yếu tố “điều khiển”.
Hai kích dục tố của tuyến yên là FSH và LH có vai trò trong việc phát
triển trứng, sinh tinh trùng và kích thích sản xuất các hormon steroid của các
tuyến sinh dục. Bản chất và tác dụng của các hormon tuyến sinh dục đực và
cái đã được nói đến trong nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học
Minh và vùng nông thôn tỉnh Thái Bình. Nghiên cứu sử dụng phương pháp
quan sát lâm sàng kết hợp với điều tra phiếu. Các chỉ tiêu nghiên cứu gồm :
thời điểm mọc lông mu, lông nách ở cả 2 giới, riêng nữ có thêm phát triển
tuyến vú và tuổi có kinh lần đầu tiên.
Từ năm 1982 đến 1988, Nguyễn Thu Nhạn, Cao Quốc Việt, Nguyễn
Nguyệt Nga và cộng sự [16] đã nghiên cứu trên 72 trẻ trai và 84 trẻ gái 6-12
tuổi ở 2 trường THCS Trung Tự (Hà Nội) và Bắc Lý (Hà Nam Ninh cũ).
Nghiên cứu theo phương pháp cắt dọc, đối tượng được theo dõi suốt 7 năm
bằng phỏng vấn và khám lâm sàng. Các chỉ tiêu nghiên cứu gồm: kích thước
tinh hoàn để tính ra thể tích tinh hoàn, tuổi bắt đầu phát triển tuyến vú, lông mu,
lông nách, xuất tinh và có kinh lần đầu.
Lìm Thị Nhẫn
15
Lớp K35B
Trường đại học sư phạm Hà Nội 2
Khoa sinh - KTNN
Nghiên cứu của Lê Kim Cúc [2] trên 140 nữ tuổi 19-40 đang lao động
tại Bungary trong những năm 1984-1987. Tác giả sử dụng phương pháp phỏng
vấn để tìm hiểu tuổi có kinh lần đầu, độ dài chu kỳ kinh nguyệt trong thời gian
còn ở trong nước và sự thay đổi khi sống ở nước ngoài.
Lìm Thị Nhẫn
16
51
105
13
49
51
100
14
53
53
106
15
51
52
103
Chung
có liên quan đến đề tài nghiên cứu, hình thành cơ sở lí luận, xác định các nhiệm
vụ, lựa chọn các phương pháp và các chỉ tiêu làm cơ sở đánh giá kết quả nghiên
cứu trong khi thực hiện đề tài cũng làm cơ sở cho việc phỏng vấn và thực
nghiệm.
2.3.2. Phương pháp điều tra:
- Sử dụng các phiếu điều tra xã hội nhằm khảo sát một số đặc điểm
hình thái của học sinh trung học cơ sở, các đặc điểm sinh dục phụ của học
sinh nam và học sinh nữ.
2.3.3. Phương pháp chọn lọc đối tượng nghiên cứu:
- Các đối tượng nghiên cứu chọn theo phương pháp điều tra ngang điều tra nghiên cứu trên hàng loạt các em học sinh.
2.4.4. Dùng kỹ thuật mô tả và quan sát trực tiếp xác định các dấu hiệu sinh
dục thứ cấp như:
Lông ở hố nách, lông trên mu, mức độ phát triển tuyến vú theo các giai
đoạn phát triển của lông mu (pubis, kí hiệu là P), lông nách (axillaris, kí hiệu
là A), tuyến vú (mammae, kí hiệu là Ma).
+ 4 giai đoạn phát triển của lông nách:
A0: Chưa có lông.
A1: Có lông rồi nhưng là lông tơ, thưa.
Lìm Thị Nhẫn
18
Lớp K35B
Trường đại học sư phạm Hà Nội 2
Khoa sinh - KTNN
19
Lớp K35B
Trường đại học sư phạm Hà Nội 2
Khoa sinh - KTNN
và điểm giữa bờ trên hai lỗ tai nằm trên đường thẳng ngang vuông góc với
trục cơ thể, bốn điểm của cơ thể là chẩm, lưng, mông, gót chạm vào thước đo.
- Cân nặng (Kg): Dụng cụ đo là cân đồng hồ độ chính xác đến 0,1 kg. Khi
cân mỗi học sinh chỉ mặc 1 bộ quần áo mỏng, bỏ giày dép, và đứng giữa bàn
cân, đo xa bữa ăn.
- Vòng ngực trung bình (VNTB): Được xác định bằng thước vải không co
giãn có độ chính xác đến 1mm. Đo ở tư thế thẳng, vòng thước dây quanh
ngực vuông góc với trục than đi qua núm vú đối với nam, ở mép trên tuyến vú
đối với nữ. Tiến hành đo ở thì hít vào hết sức và thở ra hết sức. VNTB chính
là trung bình cộng của thì hít vào hết sức và thở ra hết sức.
2.3.6. Phương pháp thống kê toán học:
Phương pháp này dùng để xử lí các số liệu thu được theo các công
thức toán học thống kê với sự hỗ trợ của chương trình MS – Excel.
2.3.6.1. Số trung bình cộng ( X ):
Trung bình cộng là tỉ số giữa tổng lượng trị số các cá thể với tổng số
các cá thể của đối tượng quan sát, được tính theo công thức:
n
X
Trong đó:
n
Độ lệch chuẩn: SD =
Khoa sinh - KTNN
2
i =1
n
∑ (Xi − X )
n
(n ≥ 30)
SD =
2
i =1
n −1
(n < 30)
Trong đó: SD là độ lệch chuẩn.
Xi – X độ lệch của từng giá trị so với giá trị trung bình.
n số cá thể ở mẫu nghiên cứu.
X ± SD (cm)
12 54 142,1 ± 5,35
13 49 146,5 ± 5,83
14 53 152,6 ± 6,23
15 51 156,3 ± 6,36
Tăng trung bình/ năm
Nữ (2)
Tăng
N
X ± SD (cm)
4,4
6,1
3,7
51
51
53
52
143,8 ± 5,2
148,4 ± 5,8
152,3 ± 6,4
153,1 ± 5,6
22
Lớp K35B
Trường đại học sư phạm Hà Nội 2
Khoa sinh - KTNN
Tốc độ tăng CCĐ theo tuổi ở học sinh nam và nữ không đều. CCĐ của
nam tăng nhanh nhất ở tuổi 14 (6,1 cm); CCĐ của nữ tăng nhanh nhất ở tuổi
13 (4,6 cm).
Ở cùng một độ tuổi, CCĐ của học sinh nam và nữ không giống nhau
(hình 3.1). Ở tuổi 12, 13, CCĐ của nam thấp hơn nữ. Các lứa tuổi 14, 15 tuổi,
CCĐ của nam lại cao hơn nữ, các sự sai khác ở các lứa tuổi 14, 15 có ý nghĩa
thống kê (p
HSSH
(1975)
L.T.Nhẫn
(2013)
12
130,92
134,55
141,08
140,29
142,1
13
133,95
138,22
146,04
147,01
146,5
143,05
144,02
143,8
13
135,02
143,64
149,85
148,06
14
138,95
146,18
153,86
151,62
152,3
15
Khoa sinh - KTNN
sinh ở các địa phương trong các nghiên cứu và tại các thời điểm nghiên cứu
của các tác giả là
không giống nhau.
Hình 3.2. Biểu đồ so sánh chiều cao đứng của học sinh nam so với các tác
giả khác
Lìm Thị Nhẫn
25
Lớp K35B