TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH - KTNN
-------------------------
ĐỖ THỊ LAN
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG DANH LỤC CÁC LOÀI
THỰC VẬT THUỘC LỚP LOA KÈN (LILIOPSIDA)
CÓ TÁC DỤNG CHỮA BỆNH PHONG THẤP – TÊ
THẤP – THẤP KHỚP Ở TRẠM ĐA DẠNG SINH HỌC
MÊ LINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành : THỰC VẬT HỌC
HÀ NỘI, 2013
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH - KTNN
-------------------------
ĐỖ THỊ LAN
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG DANH LỤC CÁC LOÀI
THỰC VẬT THUỘC LỚP LOA KÈN (LILIOPSIDA)
CÓ TÁC DỤNG CHỮA BỆNH PHONG THẤP – TÊ
THẤP – THẤP KHỚP Ở TRẠM ĐA DẠNG SINH HỌC
MÊ LINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
LỜI CAM ĐOAN
Để đảm báo tính trung thực c a khóa luận, tôi xin cam đoan:
hóa luận tốt nghiệp: “Nghiên cứu xây dựng danh lục các loài thực
vật thuộc lớp Loa kèn (Liliopsida) có tác dụng chữa bệnh phong thấp – tê
thấp – thấp khớp ở Trạm đa dạng sinh học Mê Linh” là công trình nghiên
cứu c a cá nhân tôi thực hiện dƣới sự hƣớng dẫn c a TS. Lê Đồng Tấn, TS.
Hà
inh Tâm và sự giúp đỡ c a CN Trịnh Xuân Thành. Các kết quả nghiên
cứu trong khóa luận là trung thực và các thông tin trích dẫn trong khóa luận
này đều đƣợc ghi rõ nguồn gốc.
ĐHSP Hà Nội 2, ngày 10/ 05/ 2013
Sinh viên
Đỗ Thị Lan
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ................................................................................................................................. 1
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU .................................................................... 3
1.1. Trên thế giới ................................................................................................................... 3
1.2. Ở Việt Nam ..................................................................................................................... 4
1.3. Những nghiên cứu về thực vật thuộc lớp Loa kèn chữa bệnh phong
thấp – tê thấp – thấp khớp ở Trạm đa dạng sinh học
ê Linh ............................... 8
thời tiết thƣờng không ổn định và thất thƣờng. Do đó đã làm xuất hiện nhiều
căn bệnh do thay đổi thời tiết, khí hậu.
ột trong những căn bệnh phổ biến đó
là phong tê thấp. Phong tê thấp là bệnh thƣờng gặp ở độ tuổi trung niên và cao
tuổi. Triệu chứng c a bệnh không biểu hiện rầm rộ, chỉ thoáng qua và lặp đi
lặp lại. Đau nhức tê buốt xuất hiện từng đợt phụ thuộc vào thời tiết và khí hậu
đặc biệt là mùa đông xuân hoặc những khi sức khỏe bị trục trặc, suy giảm.
Bệnh thƣờng gây khó khăn trong việc di chuyển và để lại hậu quả nghiêm
trọng cho ngƣời bệnh. Cho nên, việc nghiên cứu tài nguyên thực vật để khai
thác và sử dụng hợp lý các cây cỏ có ích vào việc chữa trị bệnh này là hết sức
cần thiết.
Trạm đa dạng sinh học Mê Linh có diện tích khoảng gần 200 ha với
hơn 1129 loài thực vật, trong đó nhiều loài đã và đang đƣợc sử dụng làm
thuốc trong dân gian. Để chuẩn bị đánh giá toàn diện giá trị làm thuốc c a hệ
thực vật nơi đây, chúng tôi đã chọn đề tài: “Nghiên cứu xây dựng danh lục
các loài thực vật thuộc lớp Loa kèn (Liliopsida) có tác dụng chữa bệnh
phong thấp – tê thấp – thấp khớp ở Trạm đa dạng sinh học Mê Linh”.
Mục đích nghiên cứu
– Xây dựng danh lục các loài thực vật thuộc lớp Loa kèn có tác dụng
chữa bệnh phong thấp – tê thấp – thấp khớp ở Trạm đa dạng sinh học Mê
Linh.
– Đánh giá thực trạng về giá trị dƣợc liệu và sử dụng các loài làm
thuốc cho bệnh nhân bị phong thấp – tê thấp – thấp khớp.
2
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Trên thế giới
Lịch sử nghiên cứu cây thuốc và vị thuốc đã xuất hiện cách đây hàng
nghìn năm. Nƣớc ta cũng nhƣ nhiều nƣớc trên thế giới (Trung Quốc, Nhật
Bản, Triều Tiên. Ấn Độ…) đã sử dụng cây thuốc trong phòng và chữa bệnh.
Tài liệu cổ về cây thuốc hiện không còn nhiều, tuy nhiên có thể coi năm 2838
trƣớc Công nguyên (TCN) là năm hình thành bộ môn nghiên cứu cây thuốc và
dƣợc liệu.
Hippocrat (460-370 TCN) đƣợc coi là tổ sƣ ngành y dƣợc. Ngoài những
công trình về giải phẫu, sinh lý, ông còn đƣa vào sử dụng hơn 200 cây thuốc.
[20].
Năm 384-322 (TCN), Aistote ngƣời Hy Lạp đã ghi chép và lƣu giữ sớm
nhất kiến thức về cây cỏ nƣớc này. Sau đó năm 340 (TCN) Theophraste với
tác phẩm “Lịch sử thực vật” đã giới thiệu gần 480 loài cây cỏ và công dụng
c a chúng, tuy công trình c a ông mới chỉ dừng lại ở mức mô tả, thống kê,
song nó đã mở đầu một giai đoạn tìm tòi, nghiên cứu sâu về lĩnh vực này.
[20].
Thầy thuốc ngƣời Hy Lạp Dioscorides năm 60-20 (TCN) giới thiệu 600
loài cây cỏ ch yếu để chữa bệnh trong tập sách “Dƣợc liệu học”, trong đó có
nhiều cây còn sử dụng trong y học ngày nay. Đồng thời, ông cũng là ngƣời
đầu tiên đặt nền móng cho nền y dƣợc học. [20].
Năm 79-24 (TCN), nhà tự nhiên học ngƣời La
ã Plinus soạn thảo bộ
sách “Vạn vật học” gồm 37 tập giới thiệu 1000 loài cây cỏ có ích. [20].
Cuốn “ inh Thần Nông” thế kỷ I sau Công nguyên (SCN) đã ghi chép
364 vị thuốc. Đây là cuốn sách tạo nền tảng cho sự phát triển liên tục c a nền
y học dƣợc thảo Trung Quốc cho đến nay. [20].
5
sƣ nƣớc Việt dùng thuốc Nam, sắc thuốc chữa bệnh cho nhân dân với phƣơng
châm: “Thuốc Nam chữa bệnh ngƣời Nam” ông đã truyền bá y dƣợc cổ
truyền cho nhân dân trong các tác phẩm:
- “Nam dƣợc thần hiệu” gồm 499 vị và 3.932 phƣơng thuốc trị 184 loại
bệnh, chia làm 10 khoa (năm 1752). Đây là tập sách thứ hai xuất hiện trong
lịch sử nghiên cứu cây thuốc ở nƣớc ta sau tập “Bản thảo thực vật toàn yếu”
do Phan Chu Tiên biên soạn (1492) là tập cây thuốc và dƣợc liệu đầu tiên c a
Việt Nam. [20].
- “Các bài thuốc Nam và thập tam phƣơng gia giảm” chép 13 cổ
phƣơng với bổ âm đơn do ông sáng chế để chữa các bệnh gia giảm theo
chứng. Các tài liệu này đƣợc in lại trong “Nam dƣợc chính bản” sau đƣợc
triều hậu Lê in lại trong “Hồng Nghĩa giác tứ y thƣ” (1727 và 1723) và đƣợc
lƣu truyền đến nay. [20].
Thế kỷ XVIII, Hải Thƣợng Lãn Ông Lê Hữu Trác (1729-1791) đã thừa
kế dƣợc học c a Tuệ Tĩnh chép vào tập “Lĩnh Nam bản thảo”, nội dung gồm
496 vị thuốc Nam c a “Nam dƣợc thần hiệu” và phát hiện thêm hơn 300 vị
nữa. Tài liệu vĩ đại nhất c a ông là bộ sách “Hải Thƣợng y tông lĩnh” gồm 28
tập, 66 quyển viết về lý luận cơ bản, phƣơng pháp chẩn đoán, trị bệnh. [20].
Ngoài bộ sách trên còn kể đến tập “Vạn phƣơng thập nghiệm” c a
Nguyễn Nho và Ngô Văn Tĩnh gồm 8 tập, xuất bản năm 1763. Tập “Nam
bang thảo mộc” c a Trần Nguyệt Phƣơng mô tả 100 loài cây thuốc Nam, xuất
bản năm 1858. [20].
Triều Tây Sơn (1788-1808) Nguyễn Hoành đã để lại tập “Nam dƣợc”
với 620 vị thuốc, các phƣơng thuốc kinh nghiệm gia truyền. [20].
Triều Nguyễn (1802-1845) có quyển “Nam dƣợc tập quốc âm” c a
Nguyễn Quang Lƣợng về phƣơng thuốc dân gian. [20].
phong tê thấp. [20].
7
Trần Đình Lý năm 1993 đã xuất bản cuốn “1900 loài cây cỏ có ích ở
Việt Nam” cho biết trong số các loài thực vật bậc cao có mạch ở Việt Nam có
76 loài cho nhựa thơm, 160 loài cho tinh dầu, 260 loài cho dầu béo, 600 loài
chứa tanin, 50 loài cây gỗ có giá trị, 40 loài tre nứa, 40 loài song mây. Trong
công trình này, tác giả đã đề cập đến tác dụng chữa bệnh thấp khớp c a 75
loài. [20].
Nhà khoa học Võ Văn Chi là ngƣời có tâm huyết, ông đã thống kê
1.360 loài cây thuốc thuộc 192 họ trong ngành hạt kín ở miền Bắc. Năm
1997, sau nhiều năm miệt mài nghiên cứu ông đã cho ra mắt cuốn sách “Từ
điển cây thuốc Việt Nam” giới thiệu 3.200 loài thực vật có khả năng làm
thuốc trong đó có 431 loài và 45 bài thuốc chữa thấp khớp. Tác giả đã mô tả
chi tiết từng cây có kèm theo hình vẽ minh họa, nơi phân bố, thành phần hóa
học, công dụng và liều dùng. Đặc biệt ông đã tham khảo kinh nghiệm sử dụng
cây thuốc c a nhiều nƣớc trên thế giới nhƣ: Trung Quốc, Ấn Độ, Philippin,
Pháp… nên đã bổ sung đƣợc công dụng c a rất nhiều loài mà các nghiên cứu
tại Việt Nam trƣớc đây chƣa đề cập tới. [7]. Năm 2012, ông đã cho ra mắt
cuốn “Từ điển cây thuốc” bộ mới với 4.470 loài và 1500 ảnh màu, rất thuận
tiện cho việc tra cứu. Có thể nói đây là công trình đồ sộ nhất viết về cây thuốc
Việt Nam hiện nay. [8].
Cuốn sách “Cây cỏ Việt Nam” (1999) c a Phạm Hoàng Hộ gồm 3 tập
là cuốn sách rất có giá trị đối với những ngƣời làm về thực vật trong việc tra
cứu, định loài. Tuy tác giả ch yếu đi sâu vào việc miêu tả nhƣng ông cũng đã
đề cập qua công dụng làm thuốc c a 1559 loài trong đó có 175 loài có khả
năng làm thuốc. [15].
Cùng với “Từ điển cây thuốc” c a Võ Văn Chi và “Những cây thuốc và
ê Linh có diện tích gần 200 ha (thuộc xã Ngọc
Thanh, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc) là khu vực nằm bên cạnh VQG Tam
Đảo và là khu vực đầu nguồn c a con suối Đại Lại, do đó thảm thực vật ở đây
hết sức phong phú. Theo Vũ Xuân Phƣơng và cộng sự (2001) hệ thực vật tại
đây có 171 họ thực vật với 669 chi và 1226 loài, trong đó có rất nhiều thực
9
vật có tác dụng chữa bệnh cho con ngƣời. Đây là công trình duy nhất nghiên
cứu xây dựng danh lục các loài thực vật thuộc lớp Loa kèn có tác dụng chữa
bệnh phong thấp – tê thấp – thấp khớp ở Trạm đa dạng sinh học
ê Linh.
10
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, THỜI GIAN
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Các loài thực vật thuộc lớp Loa kèn có tác dụng chữa bệnh phong thấp – tê
thấp – thấp khớp ở Trạm đa dạng sinh học
ê Linh và khu vực xung quanh xã
Ngọc Thanh dựa trên cơ sở mẫu vật và tài liệu.
2.2. Ph m vi nghiên cứu
Trạm đa dạng sinh học
về phía Đông Nam c a dãy Tam Đảo, có địa hình đồi và núi thấp với xu
11
hƣớng thấp dần từ Bắc xuống Nam.
Địa hình khu vực nghiên cứu phần lớn là đất dốc, độ chia cắt sâu với
nhiều dông phụ gần nhƣ vuông góc với dông chính, độ dốc trung bình từ 1530o, nhiều nơi dốc đến 30-35o, điểm cao nhất là 520 m (điểm cực đông thuộc
đỉnh núi Đá trắng). Ở khu vực Trạm các bãi bằng rất ít nằm rải rác dọc theo
ven suối phía Tây.
Hình 2.2.1. Bản đồ địa hình Tr m ĐDSH Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc
2.2.2 Địa chất - Thổ nhưỡng [18].
Theo nguồn gốc phát sinh trong vùng có hai loại đất chính sau:
- Ở độ cao trên 300 m là đất Feralit mùn đỏ vàng. Đất có màu vàng ƣu
12
thế do độ ẩm cao, hàm lƣợng sắt di động và nhôm tích luỹ cao. Do đất phát
triển trên đá
ácma axit kết tinh chua nên tầng đất mỏng, thành phần cơ giới
nhẹ, tầng mùn mỏng, không có tầng thảm mục, đá lộ đầu nhiều trên 75%.
- Ở độ cao dƣới 300 m là đất Feralit vàng đỏ phát triển trên nhiều loại
đá khác nhau, đất có khả năng hấp phụ không cao do có nhiều khoáng sét phổ
biến là aolinit.
Ngoài ra còn có đất dốc tụ phù sa ven suối ở độ cao dƣới 100 m. Thành
u tr c h th c v t t i Tr m a d ng sinh học Mê Linh
Ngành
Số họ
Số chi
Số loài
Th ng đất (Lycopodiophita)
2
3
6
C th p út (Equisetophyta)
1
1
1
Dư ng ỉ (Polypodiophyta)
19
học
ê Linh”, Khóa lu n tốt nghi p
i học, Đại học sƣ phạm Hà Nội 2.
Thảm thực vật
Theo Lê Đồng Tấn và cộng sự rừng nguyên sinh trong khu vực nghiên
cứu đã bị phá huỷ hoàn toàn, thay thế vào đó là các trạng thái thảm thực vật
thứ sinh nhân tác từ trảng cỏ, trảng cây bụi đến rừng thứ sinh phục hồi tự
nhiên hay rừng trồng nhân tạo.
hu vực rừng trồng (khoảng 100 ha) với
phƣơng thức rừng trồng thuần loại 1 trong 5 loài (không phải là cây bản địa)
là: Thông đuôi ngựa (Pinus massoniana Lamb.), Thông nhựa (Pinus merkusii
Jungh. & Vriese),
eo tai tƣợng (Acacia auriculiformis A. Cunn. ex Benth.),
Keo lá tràm (Acacia confusa
err.), Bạch đàn (Eucalyptus globulus Labill.).
Rừng trồng: gồm có rừng thuần loại (rừng Bạch đàn,
eo lá tràm, Thông nhựa) và rừng hỗn giao (Bạch đàn -
eo tai tƣợng,
eo tai tƣợng, Bạch
Trên cơ sở các tài liệu về giá trị sử dụng c a thực vật từ đó:
- Nắm vững bản chất taxon cần nghiên cứu nhƣ:
+ Hình thái để có thể nhận biết ngoài thực địa (thực tế việc nhận biết
ngoài tự nhiên là rất khó nhất là đối với ngƣời mới nghiên cứu, cho nên phải
dựa vào các chuyên gia).
+ Phân bố (địa diểm, độ cao) để biết đƣợc vị trí các loài đang nghiên
cứu.
+ Sinh học (thông tin về thời gian ra hoa, quả, khả năng tái sinh).
+ Sinh thái (nơi sống, khả năng thích ứng, loại hình sinh thái thích hợp).
Trên những cơ sở trên để xác định điểm và tuyến nghiên cứu phù hợp
với hƣớng nghiên cứu.
ế thừa có chọn lọc kết quả nghiên cứu c a các tác giả nghiên cứu
trƣớc đó nhằm hiểu rõ khu vực nghiên cứu, thành phần và tính chất hệ thực
16
vật nơi nghiên cứu, nhất là các taxon nghiên cứu. Đây có thể coi là cơ sở dữ
liệu rất quan trọng.
Bước 2: Nghiên cứu thực địa
- Phư ng ph p điều tra cộng đồng
Trong quá trình nghiên cứu cộng đồng, chúng tôi sử dụng hai phƣơng
pháp nghiên cứu là RRA và PRA. [11], [19].
- Tiến hành thu mẫu
Sau khi đã phỏng vấn xong thì cùng với ngƣời đƣợc phỏng vấn ra thực
địa để thu mẫu.
Thu mẫu: Các mẫu vật đƣợc thu thập theo kinh nghiệm sử dụng c a
ngƣời dân địa phƣơng.
Các mẫu tiêu bản tốt phải đảm bảo có đầy đ các bộ phận đặc biệt là
cành, lá cùng với hoa, quả (đối với cây lớn) hay cả cây (cây thảo nhỏ hay
thức thực hiện các tri thức đó để thu nhận thông tin. Các thông tin cần ghi là:
tên dân tộc c a cây, ý nghĩa c a tên, mục đích sử dụng, bộ phận dùng, cách
khai thác, bảo quản và sử dụng, nguồn gốc thông tin… Ngoài ra, do mẫu thực
vật dân tộc thƣờng không có đầy đ các bộ phận để quan sát trực tiếp nên cán
bộ điều tra đề nghị ngƣời cung cấp tin mô tả các bộ phận còn thiếu tuy nhiên
những mô tả này chỉ để tham khảo và định hƣớng tiếp theo chứ không đƣợc
coi là các mô tả thực vật vì cách nhìn nhận, mô tả c a ngƣời dân không hoàn
toàn trùng khít với cách mô tả thực vật c a ngƣời nghiên cứu. Các thông tin
có thể đƣợc vào phiếu điều tra ngay tại hiện trƣờng hoặc ghi vào sổ tay sau đó
đến cuối ngày phải vào phiếu.
Xử lý mẫu: Trong khi thực địa, các mẫu đƣợc cắt tỉa cho phù hợp sau
đó kẹp vào giữa hai tờ báo (kích thƣớc 45 x 30 cm) và đƣợc ngâm trong dung
dịch cồn 40o - 45o để mang về.
hi về, mẫu đƣợc lấy ra khỏi cồn và đƣợc đặt
giữa hai tờ báo khô, cứ nhƣ vậy thành từng tập, kẹp bằng kẹp mắt cáo để
18
mang đi phơi hoặc sấy khô.
ẫu có thể đƣợc xử lý độc và khâu hay không là
tùy vào yêu cầu cụ thể. [22].
Bước 3: X c định tên cây
Việc định tên đƣợc sử dụng theo phƣơng pháp hình thái so sánh. Cơ sở
để xác định là dựa vào các đặc điểm phân tích đƣợc từ mẫu vật, các thông tin
ghi chép ngoài thực địa, từ đó so sánh với các khoá phân loại đã có hay với
Đã xác định đƣợc 13 loài thuộc 8 họ thực vật thuộc lớp Loa kèn có tác
dụng chữa bệnh phong thấp – tê thấp – thấp khớp.