Nghiên cứu ảnh hưởng của sâu bệnh hại tới năng suất, chất lượng hoa hồng và đề xuất biện pháp phòng trừ tổng hợp tại vùng trồng hoa xã mê linh, thành phố hà nội - Pdf 31

ĐH Sư Phạm Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi
nhận được rất nhiều sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô, bạn bè,
người thân và các cơ quan đơn vị.
Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo Th.S Dương
Tiến Viện, người đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ, động viên tôi trong quá trình
thực hiện đề tài và hoàn thiện khóa luận. Đặc biệt, tôi xin cảm ơn các thầy
giáo, cô giáo trong khoa Sinh/KTNN đã trực tiếp giảng dạy, trang bị những
kiến thức bổ ích trong suốt thời gian qua.
Cảm ơn các cơ quan: Huyện Uỷ, UBND Huyện Mê Linh, UBND Xã
Mê Linh, Phòng kinh tế, Phòng thống kê, Phòng địa chính. Cảm ơn những
người thân trong gia đình và tất cả bạn bè… đã động viên, giúp đỡ và tạo điều
kiện cho tôi hoàn thành tốt khóa luận này.

Xuân Hòa, ngày….tháng…năm 2011
Sinh viên thực hiện

Nguyễn Hà Minh

GVHD: Th.S Dương Tiến Viện

1

Sinh viên: Nguyễn Hà Minh



1.1. Đặt vấn đề…………………………………………………………......... .3
1.2. Mục đích, yêu cầu…………………………………………………......... .4
PHẦN II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU………………………………… ..... ....5
2.1.Nguồn gốc hoa Hồng………………………………………………........ ..5
2.2. Đặc điểm sinh thái………………………………………………........ ….6
2.2.1. Nhiệt độ…………………………………………………… ......……….6
2.2.2. Ánh sáng……………………………………………………......………7
2.2.3. Độ ẩm……………………………………………………… ......………7
2.2.4. Đất………………………………………………………… ......……….8
2.3. Dinh dưỡng khoáng…………………………………………........ ……...8
2.4. Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa cây cảnh trên thế giới………....... …11
2.5. Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa cây cảnh ở Việt Nam…… ....... ……14
2.6. Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa Hồng tại Mê Linh…………....... …..17
PHẦN III. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU……………………………………………………………......………..18
3.1. Thời gian và địa điểm tiến hành………………………….........………..18
3.2. Nội dung nghiên cứu……………………………………….........……...18
3.3. Phương pháp nghiên cứu…………………………………..........………18
3.4. Chỉ tiêu theo dõi và phương pháp xử lý số liệu………… .........………..19
3.4.1. Các chỉ tiêu về một số loại sâu bệnh hại……………… .......…………19
3.4.2. Phương pháp xử lý số liệu…………………………… ........…………19
PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN…… ....... …....20
4.1. Điều kiện tự nhiên và kinh tế văn hóa xã hội của xã Mê Linh…........... .20
4.1.1. Điều kiện tự nhiên…………………………………………… ........ …20
GVHD: Th.S Dương Tiến Viện

3

Sinh viên: Nguyễn Hà Minh



DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Thị trường hoa – cây cảnh thế giới……………………………..12
Bảng 2.2: Diện tích đất trồng hoa ở Việt Nam…………………………….15
Bảng 4.1: Tình hình sử dụng đất tại xã Mê Linh năm 2009……………….21
Bảng 4.2: Cơ cấu giống hoa của xã Mê Linh năm 2009…………………..24
Bảng 4.3: Diện tích đất trồng hoa hồng của 45 hộ điều tra………………..25
Bảng 4.4: Một số côn trùng và nhện gây hại chính trên cây hoa Hồng…....27
Bảng 4.5: Bệnh hại chính trên cây hoa Hồng……………………………...28

GVHD: Th.S Dương Tiến Viện

5

Sinh viên: Nguyễn Hà Minh


ĐH Sư Phạm Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1: Thị trường hoa – cây cảnh thế giới……………………………..12
Hình 2.2: Diện tích đất trồng hoa ở Việt Nam………………………….…15
Hình 4.1: Tình hình sử dụng đất tại xã Mê Linh năm 2009…………….…22
Hình 4.2: Diện tích đất trồng hoa xã Mê Linh 2007 – 2009………….…...23

GVHD: Th.S Dương Tiến Viện

dụng các biện pháp kỹ thuật tiên tiến vào trong sản xuất dẫn đến năng suất và
chất lượng chưa cao. Nông dân không được hướng dẫn về kỹ thuật trồng,
chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh, không tìm hiểu được thị trường cung cầu phù
hợp. Sản phẩm sau thu hoạch do quá trình bảo quản thô sơ gây ảnh hưởng xấu
tới chất lượng sản phẩm, khó cạnh tranh và đáp ứng được nhu cầu của khách
hàng. Bên cạnh đó, cùng với quá trình đô thị hóa, diện tích đất nông nghiệp bị
thu hẹp cũng ảnh hưởng lớn đến nghề trồng hoa và cây cảnh. Nhưng để có
GVHD: Th.S Dương Tiến Viện

7

Sinh viên: Nguyễn Hà Minh


ĐH Sư Phạm Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

được những bông hoa Hồng đạt tiêu chuẩn chất lượng cao phù hợp với nhu
cầu trong nước và xuất khẩu nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất cho người
trồng hoa cần phải áp dụng các biện pháp mang tính hệ thống tổng hợp từ
khâu nhân giống, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh và thu hoạch, bảo quản.
Từ thực tế trên, để góp phần vào tăng năng suất, chất lượng sản phẩm
hoa Hồng và hiệu quả trong sản xuất, giảm thiểu ô nhiễm môi trường vùng
trồng hoa, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: ‘‘Nghiên cứu ảnh hưởng
của sâu bệnh hại tới năng suất, chất lượng hoa Hồng và đề xuất biện pháp
phòng trừ tổng hợp tại vùng trồng hoa xã Mê Linh, huyện Mê Linh, thành
phố Hà Nội’’
1.2. Mục đích, yêu cầu
- Điều tra thực trạng sản xuất hoa hồng, các đối tượng sâu bệnh hại hoa

dạng bụi, màu nâu tro, trên thân có một lớp long nhung và có gai. Lá kép lông
chim, có 5 – 9 lá nhỏ, hình thuôn, hoặc hình trứng dài 2 – 5 cm, mép lá có
răng cưa, mặt trên không có gai, mặt dưới có lông gai. Hoa mọc thành chùm
màu trắng hoặc đỏ tím, đường kính 6 – 8 cm, có chứa tinh dầu, mùi thơm,
thông thường mỗi năm ra hoa một lần vào tháng 5 hoặc tháng 6, cũng có khi
ra thêm một đợt vào tháng 7, tháng 8. Quả hình cầu dẹt, màu đỏ gạch. [2]
Tầm xuân (Rosa multiflora): Là loại cây bụi rụng lá, cành nhỏ, mọc lan
như cây dây leo, lá kép lông chim, hoa nhỏ và mọc thành một cành, một năm
chỉ ra hoa một lần. Cây có nguồn gốc ở Trung Quốc, Tây Âu, Bắc Mỹ. Ở
Trung Quốc có loại tầm xuân dại (Rosa multiflora) có 5 – 11 lá kép, quanh có
gai, hoa nhỏ, màu trắng đến màu đỏ, mọc dày sít như cái ô, ra hoa vào tháng
5, tháng 6, quả nhỏ hình cầu. Ngoài ra còn có một số loại tầm xuân khác như:
Cẩu tầm xuân (Rosa camina), tầm xuân màu vàng, tầm xuân lá nhãn, tầm
xuân Pháp... [2]

GVHD: Th.S Dương Tiến Viện

9

Sinh viên: Nguyễn Hà Minh


ĐH Sư Phạm Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

Hoa Hồng (Rosa Indica L.): nguyên sản ở Hồ Bắc, Tứ Xuyên, Vân
Nam, Tô Châu, Quảng Đông. Hiện nay còn tồn tại những cây cổ thụ hoang
dại, là loại cây lùm bụi, rụng lá và nửa rụng lá. Cây mọc đứng thẳng hoặc nửa
mở. Lá kép lông chim có từ 3 – 5 lá nhỏ, hình trứng dài 2 – 3 cm, đỉnh lá

ĐH Sư Phạm Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

2.2.2. Ánh sáng
Ánh sáng là điều kiện cần thiết cho sự sinh trưởng, phát triển của cây
hoa nói chung và hoa Hồng nói riêng. Ánh sáng cung cấp năng lượng cho
phản ứng quang hợp tạo ra chất hữu cơ cho cây, có tới 90% chất khô trong
cây là do quang hợp tạo nên. Cường độ quang hợp phụ thuộc vào điều kiện
ánh sáng, thiếu ánh sáng cây không thể quang hợp được. Quang hợp phụ
thuộc vào thành phần quang phổ của ánh sáng và cường độ chiếu sáng. Cường
độ quang hợp của cây hoa tăng khi cường độ chiếu sáng tăng, song nếu cường
độ ánh sáng vượt quá giới hạn, thì cường độ quang hợp bắt đầu giảm. Đối với
hoa Hồng, nếu giảm cường độ ánh sáng thì năng suất, chất lượng đều
giảm.[11]
2.2.3 Độ ẩm
Độ ẩm của không khí và đất đều ảnh hưởng tới sinh trưởng và phát
triển của cây hoa. Độ ẩm thích hợp thì cây hoa sinh trưởng, phát triển tốt ít
sâu bệnh, hoa đẹp, chất lượng hoa cao.
Nước đóng vai trò quan trọng trong cơ thể thực vật. Nước giữ vai trò
quan trọng trong phân chia và giãn của tế bào. Khi có đầy đủ nước và môi
trường thích hợp, tế bào phân chia, phát triển thuận lợi, cây sinh trưởng
nhanh. Khi thiếu nước các quá trình sinh lý, hóa trong cây hoa giảm, các hợp
chất hữu cơ tạo thành ít, cây còi cọc, phát triển kém. Nếu sự thiếu nước kéo
dài, cây hoa có thể khô héo và chết. Nhưng nếu quá nhiều nước, cây bị úng
ngập, sinh trưởng phát triển của cây cũng bị ngừng trệ. Quá ẩm ướt, sâu bệnh
phát triển mạnh, hoa cho năng suất thấp, chất lượng hoa kém. Mỗi loại hoa
yêu cầu độ ẩm khác nhau. Hoa Hồng thuộc cây ôn đới nên yêu cầu độ ẩm đất
thường khoảng 70 – 80%, nếu khống chế ẩm độ thích hợp thì độ dài cành tăng
thêm trung bình 8,2%. [12]

(chiếm khoảng 1 – 2% khối lượng chất khô). Cây có thể hút N dưới các dạng:
NO3ˉ, NO2ˉ, NH4+, axit amin… N ảnh hưởng rất lớn tới sản lượng và chất
lượng hoa Hồng. Thiếu N cây sinh trưởng chậm, phân cành yếu, cành, lá nhỏ,
diệp lục ít, lá biến vàng, lá già và dễ bị rụng, rễ nhỏ dài và ít, cây thấp khả
năng quang hợp giảm. [2]
+ Phospho (P): tham gia vào thành phần quan trọng của axit nucleic và
màng tế bào tạo thành ATP là vật chất mang và tải năng lượng. P thường
chiếm từ 1 – 1,4% khối lượng chất khô của cây. Cây hút P dưới dạng H2PO4ˉ,
HPO42ˉ, P có thể di chuyển trong cây, chủ yếu tập trung ở phần non. Khi thiếu

GVHD: Th.S Dương Tiến Viện

12

Sinh viên: Nguyễn Hà Minh


ĐH Sư Phạm Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

P thì phần già biểu hiện trước. P cũng ảnh hưởng tới phẩm chất cây. Thiếu P
dẫn tới tích lũy N dạng nitrat gây trở ngại cho việc tổng hợp protein, cành, lá,
rễ sinh trưởng chậm, cây thấp bộ, lá có màu tím tối hoặc tím đỏ ảnh hưởng
đến tổng hợp chất tinh bột, hoa nở khó. Nhiều P quá sẽ ức chế sinh trưởng
dẫn tới thừa sắt, lá biến vàng, ảnh hưởng tới sự hút sắt. [12]
+ Kali (K): không tham gia thành phần cấu tạo của cây, thường tồn tại
trong dịch bào dưới dạng ion. Tác dụng chủ yếu của Kali là điều tiết áp suất
thẩm thấu của tế bào, thúc đẩy quá trình hút nước, hút dinh dưỡng của cây.
Nếu thiếu kali, sự sinh trưởng, phát dục của cây giảm sút, mép lá thiếu màu

+ Sắt (Fe): là thành phần của nhiều loại enzym có liên quan tới quang
hợp. Nếu thiếu Fe, quang hợp sẽ giảm, lá non thiếu màu xanh. Fe không di
động được trong cây. Triệu chứng thiếu Fe trước hết biểu hiện ở các phần
non. Trong đất Fe thường tồn tại ở dạng Fe2O3, cây hút Fe ở dạng FeSO4. Nói
chung trong đất không thể thiếu Fe nhưng do có nhiều hợp chất Fe cây không
hút được dẫn tới thiếu. Khi hàm lượng axit phosphoric cao, Fe không hòa tan
được, khi pH trên 6,5 Fe cũng dễ bị kết tủa. [12]
+ Mangan (Mn): không phải là thành phần của diệp lục nhưng có quan
hệ chặt chẽ với sự hình thành diệp lục và quá trình quang hợp. Nếu thiếu Mn,
quang hợp sẽ giảm. Mn làm tăng hoạt tính của rất nhiều loại enzyme. Trong
cây, Mn và sắt có tính đối kháng, nhiều Mn thì thiếu Fe, Fe quá nhiều thì
thiếu Mn. Khi thiếu Mn, trên lá xuất hiện những vết vàng.[12]
+ Bo (Bo): có tác dụng rất quan trọng tới sự phân hóa hoa, tới quá trình
thụ phấn, thụ tinh và sự phát dục của cơ quan sinh thực, đồng thời còn có tác
động tới sự chuyển hóa và vận chuyển của đường. Nếu thiếu Bo, phần chóp
ngọn cây ngừng sinh trưởng, lá và cành hoa cong lại, đốt ngắn lại. Nếu nhiều
Bo quá, mép lá biến thành màu nâu, các phần khác biến vàng. [1], [2]
+ Kẽm (Zn): kích thích sự giải phóng CO2 trong diệp lục, kích thích
quang hợp. Kẽm có liên quan đến sự hình thành kích tố sinh trưởng Auxin.
Nếu thiếu kẽm, chất kích thích sinh trưởng khó hình thành, ảnh hưởng tới sự
sinh trưởng của cây, đốt ngắn lại, lá và gân thiếu màu xanh sau đó chuyển
vàng, trắng và chết khô. [10], [12].
+ Đồng (Cu): Có trong các coenzyme, trong nhiều loại enzyme oxidase,
tham gia vào quá trình oxi hóa khử trong cây. Đồng có quan hệ chặt chẽ tới
việc hình thành chất diệp lục, quan hệ tới hiệu suất quang hợp, đồng thời còn
tham gia vào quá trình trao đổi của đường và protein. [2], [5]

GVHD: Th.S Dương Tiến Viện

14

Đức
22
22
Hoa Kỳ
15
15
Pháp
10
10
Anh
10
10
Hà Lan
9
9
Nhật Bản
6
6
Ý
5
5
Thụy Sĩ
5
5
(Nguồn: Theo Nguyễn Quốc Vọng, Hoa Đà Lạt – hiện trạng, thách thức và cơ
hội tham gia thị trường quốc tế, Hội thảo hoa Đà Lạt 2010) [7]
GVHD: Th.S Dương Tiến Viện

15


Thụy Sĩ

Hình 2.1. Thị trường Hoa – cây cảnh thế giới
Các nước tiêu thụ nhiều hoa cây cảnh chủ yếu tập trung ở Châu Âu,
Mỹ, Nhật Bản. Thị trường nhập khẩu hoa – cây cảnh trên thế giới được phân
phối với tỷ lệ như sau: Đức có thị trường lớn nhất thế giới với 22 tỷ USD,
chiếm 22%; Hoa kỳ với 15 tỷ USD, chiếm 15%; Pháp và Anh với 10 tỷ USD,
chiếm 10 %; Hà Lan với 9 tỷ USD, chiếm 9 %; Nhật Bản với 6 tỷ USD,
chiếm 6 %; Ý và Thuỵ Sĩ với 5 tỷ USD, chiếm 5 %. [10]
Nhìn chung, tình hình sản xuất hoa - cây cảnh trên thế giới ngày nay đã
có nhiều chuyển biến. Những nước sản xuất hoa – cây cảnh vốn nổi tiếng như
Hà Lan, Pháp nay đã trở thành những nước nhập khẩu và cũng là thị trường
tiêu thụ. Thay vào đấy, những nước đang phát triển, nơi lao động đang còn rẻ
và giá trị đất chưa cao như Trung Quốc, Malaysia, Nam Phi, Isarel, Ấn Độ,
Colombia, Kenya, Ethiopia và Ecuador lại trở thành những nước sản xuất và
xuất khẩu. [4]
Các quốc gia Châu Phi cũng đang đẩy mạnh phát triển nghành hoa cây
cảnh chủ yếu xuất khẩu sang thị trường Châu Âu. Nam Phi, Kenya và
Zimbabwe là những nhà cung cấp chính trong đó Kenya chiếm thị phần lớn
nhất, đạt một kim ngạch khoảng gần 700 triệu USD mỗi năm. [10]

GVHD: Th.S Dương Tiến Viện

16

Sinh viên: Nguyễn Hà Minh


ĐH Sư Phạm Hà Nội 2


GVHD: Th.S Dương Tiến Viện

17

Sinh viên: Nguyễn Hà Minh


ĐH Sư Phạm Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

kèn, tulip từ Hà Lan, hoa cúc từ Trung Quốc, Đài Loan, hoa Proteas và Wax
flower từ Úc, New Zealand và phong lan từ Thái Lan và Singapore. Tỉ trọng
của các nước xuất khẩu hoa cây cảnh vào Nhật Bản năm 2007 như sau : Hà
Lan 27,0 %; Trung Quốc 9,7%; Đài Loan 9,0%; Malaysia 8,8%; Thái Lan
7,3%; Colombia 6,3%; Việt Nam 1,4%.... [10]
2.5. Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa cây cảnh ở Việt Nam
Hiện nay diện tích trồng hoa cây cảnh trên cả nước chỉ khoảng 15.000
ha tập trung chủ yếu ở miền Bắc (Hà Nội, Lào Cai, Sơn La, Hưng Yên, Hải
Phòng), ngoại thành TP Hồ Chí Minh (Củ Chi, Hóc Môn ) và Lâm Đồng (Đà
Lạt). Sản xuất hoa cây cảnh đang cho thu nhập cao, ước tính bình quân đạt
khoảng 70 – 130 triệu đồng/ha nên có rất nhiều địa phương trong cả nước
đang mở rộng diện tích trồng hoa trên vùng đất có tiềm năng. [7]
Diện tích trồng hoa của Lâm Đồng tập trung chủ yếu tại thành phố Đà
Lạt, huyện Đức Trọng, Lạc Dương, một phần nhỏ ở huyện Đơn Dương và
một số địa phương khác như Di Linh, Bảo Lộc. Năm 2009 diện tích trồng hoa
của Lâm Đồng ước đạt 3500 ha gieo trồng, sản lượng hoa đạt trên 1 tỷ cành.
Bảng 2.2. Diện tích đất trồng hoa ở Việt Nam [7]
Năm
Diện tích(ha)


Khóa luận tốt nghiệp

Đà Lạt – Lâm Đồng như : Lily, Cát Tường, địa lan Cymbidium, được thị
trường trong nước tiêu thụ mạnh và có giá trị xuất khẩu cao. Trong đó thành
phố Đà Lạt chiếm gần 40% diện tích và 50% sản lượng cả tỉnh. Doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài diện tích gần 150 ha canh tác, chiếm 12% diện tích
và khoảng 18 % sản lượng, chủ yếu là hoa chất lượng cao; phần diện tích còn
lại tập trung chủ yếu vào các nông hộ, các công ty TNHH trong nước và các
trang trại. [7]
Các tỉnh phía Nam, điển hình là thành phố Hồ Chí Minh (chủ yếu ở các
huyện Hóc Môn, Bình Chánh, Gò Vấp, Thủ Đức...) cùng các tỉnh Đồng bằng
sông Cửu Long như Tiền Giang, Đồng Tháp là nguồn cung cấp hoa và cây
cảnh đáng kể. Tuy nhiên, các địa bàn này chủ yếu chỉ sản xuất một số loại hoa
nhiệt đới như cúc móng rồng, cúc đại đóa, mai, huệ... Lượng hoa cắt cành
truyền thống (hồng, cúc, lay ơn, cẩm chướng, đồng tiền....) sản xuất còn rất
hạn chế và chất lượng chưa thật cao. Diện tích hoa cây cảnh tại thành phố Hồ
Chí Minh ước tính đạt 1650 ha, phân bố chủ yếu ở 8 quận huyện như : quận
12 (110 ha), huyện Thủ Đức (87 ha), nhiều nhất là huyện Củ Chi (113 ha) với
khoảng 1400 hộ sản xuất. [7]
Tại Hải Phòng, hoa được sản xuất trên khoảng 300 ha. Khu nông
nghiệp công nghệ cao được thực hiện tại xã Mỹ Đức huyện An Lão với tổng
đầu tư 22,5 tỷ đồng. Cơ quan chủ trì là Trung tâm phát triển Lâm nghiệp Hải
Phòng. Khu nông, lâm nghiệp công nghệ cao Hải phòng đã xây dựng các khu
chức năng như: khu bảo tồn cây ăn quả đầu dòng và vườn ươm cây giống;
khu sản xuất giá thể; khu nhà nuôi cấy mô tế bào; khu nhà kính, khu nhà lưới
sản xuất rau an toàn chất lượng cao; khu nhà lưới sản xuất cây cảnh. Hiện
nay, các khu nhà lưới, nhà kính sản xuất rau và hoa đã hoạt động và cho sản
phẩm được 2-3 vụ. Năng suất cà chua, dưa chuột đạt 200-250 tấn/ha/năm, hoa
hồng cũng đạt 200-300 bông/m2. [7]

vùng. [7]
2.6. Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa Hồng tại Mê Linh
Ngày 01/08/2008, huyện Mê Linh được nhập vào thành phố Hà Nội.
Xã Mê Linh bây giờ đã trở thành một phần của Hà Nội. Hơn chục năm nay,
Mê Linh đã chuyển đổi từ trồng cây nông nghiệp sang trồng hoa. Sau rất
nhiều thử nghiệm, hoa Mê Linh dần dần chiếm vị trí chủ đạo, trở thành nguồn
kinh tế chính của phần lớn người dân nơi đây. Khắp các xã Tráng Việt, Văn
Khê, Mê Linh, Tiền Phong, Thanh Lâm... những thửa ruộng xưa kia chỉ đủ
nuôi sống con người giờ đã là nơi cung cấp hoa cho khắp các tỉnh phía Bắc.

GVHD: Th.S Dương Tiến Viện

20

Sinh viên: Nguyễn Hà Minh


ĐH Sư Phạm Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

Hiện nay, xã đã nhân rộng ra nhiều loại giống, nhiều chủng loại hoa như: tầm
xuân, phăng tây, hoa cúc, hoa loa kèn, mẫu đơn... Diện tích trồng hoa Hồng
của Mê Linh rộng hơn 300ha, khắp các cánh đồng đang thực sự khởi sắc. Đã
có nhiều cánh đồng được đặt tên 100, 120 triệu/ha như cánh đồng Gốc Gáo,
Mặt Gò… Nhiều hộ nông dân trồng hoa bán, trừ chi phí đã cho thu nhập từ
100-500 triệu đồng/năm. Nghề trồng hoa xã Mê Linh không chỉ đem lại lợi
ích kinh tế cao mà còn tạo thêm việc làm cho nhiều nông dân trong xã. [8]
Thu nhập toàn xã Mê Linh mỗi năm tăng rất đồng đều và đi vào ổn
định trong những năm gần đây. Tổng thu nhập toàn xã năm 2009 là 85.916 tỷ

chủng loại hoa, kỹ thuật trồng trọt.
- Điều tra tình hình sâu bệnh hại, và biện pháp phòng trừ mà người dân
đang áp dụng.
- Đề xuất biện pháp phòng trừ tổng hợp nhằm nâng cao năng suất, chất
lượng hoa Hồng và hiệu quả trong sản xuất góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi
trường.
3.3.

Phương pháp nghiên cứu
- Sử dụng các phương pháp điều tra thu thập mẫu, phỏng vấn trực tiếp

người sản xuất.
- Bằng phương pháp tiếp cận trực tiếp hộ nông dân kết hợp với ý kiến
tham khảo thông qua cán bộ chính quyền địa phương chúng tôi thiết kế phiếu
điều tra tập trung vào những vấn đề sau đây:
+ Thông tin về hộ, chủ hộ : tên, tuổi, địa chỉ.
+ Điều tra chủng loại, cơ cấu, diện tích hoa hồng hiện trồng ở
vùng điều tra.
+ Điều tra một số loại sâu, bệnh chính, biện pháp phòng trừ mà
người dân đang áp dụng.

GVHD: Th.S Dương Tiến Viện

22

Sinh viên: Nguyễn Hà Minh


ĐH Sư Phạm Hà Nội 2


Khóa luận tốt nghiệp

PHẦN 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của xã Mê Linh
4.1.1. Điều kiện tự nhiên
4.1.1.1. Vị trí địa lý
Xã Mê Linh là một trong 17 xã của huyện Mê Linh với diện tích
khoảng 605.67 ha, dân số là 11,559 người, gồm 2803 hộ được phân bổ ở 3
thôn: Thôn Hạ Lôi, Liễu Trì và Ấp Hạ. [8]
Xã Mê Linh nằm ở phía Tây Bắc của thủ đô Hà Nội, phía Đông giáp
với xã Tiền Phong, phía Bắc giáp xã Thanh Lâm, mặt Tây Tây Bắc giáp với
xã Văn Khê, phía Nam giáp với xã Đại Thịnh. Mê Linh có vị trí địa lý gần sát
với trung tâm thủ đô Hà Nội, giáp với sân bay quốc tế Nội Bài, có đường
quốc lộ 23B chạy qua và tuyến đường đê be sông Hồng chạy dọc xã. Có thể
nói hệ thống giao thông đương thủy, đường bộ, đường hàng không rất thuận
tiện cho giao thương và phát triển kinh tế xã hội.
4.1.1.2. Địa hình
Huyện Mê Linh là huyện nằm trong vùng đồng bằng châu thổ Sông
Hồng. Địa hình đất đai nghiêng từ Đông Bắc xuống Tây Nam, chia ra 3 tiểu
vùng: Tiểu vùng đồng bằng, tiểu vùng ven đê Sông Hồng và tiểu vùng trũng.
Xã Mê Linh thuộc tiểu vùng đồng bằng, đất canh tác ở đây chủ yếu là
loại đất phù sa cổ do sông Hồng bồi đắp nên rất màu mỡ và giàu dinh dưỡng
thuận lợi cho phát triển trồng trọt.
4.1.1.3. Điều kiện khí hậu thủy văn
Xã Mê Linh là một xã của huyện Mê Linh do vậy có điều kiện về khí
hậu thủy văn chịu ảnh hưởng chung của toàn huyện.
Khí hậu : Huyện Mê Linh có hình thái khí hậu tương tự các quận huyện
Hà Nội, đó là khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm. Nhiệt độ trung bình năm
GVHD: Th.S Dương Tiến Viện


3

Loại đất
Đất nông nghiệp
Đất trồng hoa
Đất trồng rau màu
Đất phi nông nghiệp
Đất chưa sử dụng
Tổng

Diện tích (ha)
459,9
360,0
99,9
137,4
8,3
605,6

Tỷ lệ (%)
76,0
60,0
16,0
23,0
1,0
100

(Nguồn: Văn phòng thống kê - UBND xã Mê Linh)

GVHD: Th.S Dương Tiến Viện


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status