`
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
…………………………………
NGUYỄN LƢU KHÁNH
NGUYÊN NHÂN MẤT NƢỚC CỦA TRIỀU
NGUYỄN VÀ BÀI HỌC VỚI VẤN ĐỀ BẢO VỆ
TỔ QUỐC VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC
Hà Nội – 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
…………………………………
NGUYỄN LƢU KHÁNH
NGUYÊN NHÂN MẤT NƢỚC CỦA TRIỀU
NGUYỄN VÀ BÀI HỌC VỚI VẤN ĐỀ BẢO VỆ
TỔ QUỐC VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Chính trị học
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC
Mã số: 60 30 02 01
bạn bè thân thiết đã quan tâm, giúp đỡ, chia sẻ với em trong quá trình học tập và
nghiên cứu. Dù đã có nhiều cố gắng, nhưng luận văn của em không thể tránh
khỏi những khuyết điểm, hạn chế về nội dung. Rất mong sự đóng góp, chỉ bảo
tận tình của các thầy cô để luận văn của em được sửa chữa, bổ sung và hoàn
chỉnh hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng
Tác giả luận văn
Nguyễn Lưu Khánh
năm
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .........................................................................................................................1
CHƢƠNG 1. NGUYÊN NHÂN THẤT BẠI CỦA NHÀ NGUYỄN TRƢỚC SỰ
XÂM LƢỢC CỦA THỰC DÂN PHÁP.......................................................................6
1.1. Nguyên nhân khách quan............................................................................ 6
1.1.1 Cuộc cạnh tranh quyền lực quốc tế và âm mưu xâm lược Việt Nam
của Thực dân Pháp ......................................................................................... 6
1.1.2 Đất nước khủng hoảng suy yếu về mọi mặt ........................................ 10
1.2. Nguyên nhân chủ quan ............................................................................. 20
1.2.1. Chính sách ngoại giao sai lầm của nhà Nguyễn ................................. 20
1.2.2. Việt Nam không có một phong trào canh tân theo hướng Tư bản chủ
nghĩa nhằm đưa đất nước thoát khỏi nguy cơ bị thôn tính........................... 36
Tiểu kết chương 1 ............................................................................................ 44
CHƢƠNG 2. BÀI HỌC KINH NGHIỆM VỀ GIỮ VỮNG ĐỘC LẬP, BẢO VỆ
CHỦ QUYỀN ĐẤT NƢỚC ........................................................................................45
phản ánh một khía cạnh quan trọng của đời sống xã hội. Chính trị được coi là
yếu tố tác động trực tiếp đến sự phát triển của mỗi dân tộc và quyết định vận
mệnh chung của các quốc gia. Chính trị xuất hiện trong những điều kiện xã hội
nhất định khi xã hội phân chia thành giai cấp và biến đổi cùng với sự chuyển
biến của những điều kiện đó.
Ngành chính trị học đã xuất hiện khá lâu trên thế giới. Ở nước ta chính trị
học tuy là một ngành khá mới nhưng nó dần chiếm một vị trí quan trọng trong đời
sống xã hội. Tại Việt Nam, chính trị học chỉ thực sự được coi là một ngành khoa
học độc lập và nghiên cứu chính trị học ngày càng trở thành một nhu cầu cấp thiết
từ vài thập niên trở lại đây. Chính trị học được xác định là một môn khoa học
nghiên cứu về lĩnh vực chính trị “Chính trị nghiên cứu lĩnh vực chính trị của đời
sống xã hội như là một chỉnh thể nhằm làm sáng tỏ những quy luật và tính quy
luật chung nhất trong các mối quan hệ qua lại giữa các tổ chức liên quan tới việc
hình thành, phát triển của quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước”.
Là một ngành khoa học mới nên chính trị học nói chung và lịch sử chính
trị nói riêng là một lĩnh vực nghiên cứu còn khá mới mẻ do đó là nguồn cảm
hứng sáng tạo cho những nghiên cứu khoa học về lịch sử chính trị, đặc biệt là
lịch sử chính trị cận hiện đại.
Thứ hai, trong bức tranh về lịch sử triều Nguyễn chúng ta thấy sự hiện
diện rất rõ những nét đậm nhạt, những gam màu tối sáng khác nhau, thậm chí
tồn tại những mảng đen trắng không rõ ràng. Sự đan xen giữa công và tội, giữa
những cái tiến bộ và hạn chế của một vương triều vừa được xem như triều đại có
công thống nhất đất nước sau nhiều thập kỷ bị chia cắt và cũng bị coi là một “tội
1
đồ” của lịch sử dân tộc, triều Nguyễn đã thu hút sự quan tâm không ít những học
giả, những nhà nghiên cứu trong và ngoài nước.
Lịch sử được coi là những gì đã qua, thuộc về quá khứ, nhưng những điều
được coi là quá khứ đó lại có một vị trí quan trọng và không thể phủ nhận ý
Từ những lý do trên tác giả đã lựa chọn đề tài “Nguyên nhân mất nước
của triều Nguyễn, và bài học về vấn đề bảo vệ tổ quốc Việt Nam hiện nay” làm
luận văn thạc sĩ của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Do luận văn đề cập đến lịch sử chính trị, nên những tài liệu sử học và
những tài liệu chính trị học là nguyên liệu quan trọng được sử dụng trong quá
trình hoàn thành luận văn. Do vây, từ những nguồn sử liệu hay những tác phẩm
chính trị học, tác giả đã sắp xếp thành các nhóm tư liệu chính sau:
Thứ nhất, việc nghiên cứu về triều Nguyễn ở Việt Nam khá phong phú,
đặc biệt là trong một vài thập niên trở lại đây, thu hút rất nhiều độc giả và giới
nghiên cứu sử học trong và ngoài nước tham gia. Đây là một thuận lợi cho tác giả.
Tuy nhiên vấn đề mà luận văn đặt ra là khá phức tạp bởi nguồn tài liệu về triều
Nguyễn khá nhiều nhưng lại rất ít những tài liệu liên quan trực tiếp đến vấn đề
nghiên cứu của luận văn. Tác giả luận văn đã cố gắng khai thác tối đa nguồn tư
liệu từ các bộ chính sử Việt Nam, trong đó đặc biệt là nguồn tư liệu của Quốc Sử
Quán triều Nguyễn, nhóm tài liệu sử học liên quan trực tiếp đến lịch sử Việt Nam
thế kỷ XIX như Đại cương lịch sử Việt Nam tập II của Đinh Xuân Lâm, Nguyễn
Văn Khánh, Nguyễn Đình Lễ của NXB Giáo dục; Lịch sử Việt Nam 1858 -1896
của Vũ Huy Phúc, Nhà Nguyễn trong lịch sử dân tộc của Văn Tạo, Ngoại giao
Việt Nam với các nước phương tây dưới triều Nguyễn của Trần Nam Tiến…Các
tác phẩm này chủ yếu đề cập đến nội dung như sự xác lập quyền lực chính trị của
nhà Nguyễn đầu thế kỷ XIX, hay tình hình kinh tế văn hóa xã hội, chính sách
ngoại giao dưới triều Nguyễn. Từ những nguồn tư liệu sử học trên đã phản ánh
một khía cạnh của chính trị nhà Nguyễn đầu thế kỷ XIX là cơ sở làm sang tỏ
nguyên nhân để mất nước của vương triều Nguyễn vào tay thực dân Pháp.
Vương triều Nguyễn là một trong những triều đại phong kiến Việt Nam
có sức hấp dẫn lớn với các học giả, các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước.
Nhìn chung trong những công trình nghiên cứu liên quan đến giai đoạn
chính trị nhà Nguyễn dưới giác độ khoa học chính trị thì chưa thực sự nhiều
công trình khoa học được công bố. Mà chủ yếu chỉ là những công trình sử học
4. Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nhà Nguyễn với tư cách là lực lượng
nắm giữ quyền lực nhà nước ở Việt Nam nửa sau thế kỷ 19 đã không sử dụng
4
được quyền lực chính trị của mình một cách tối ưu để bảo vệ nền độc lập của
dân tộc trước sự xâm lăng của lực lượng ngoại bang.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh và các phương pháp nghiên cứu của khoa học chính trị. Với ý
nghĩa là một luận văn lịch sử chính trị tác giả vận dụng khá triệt để phương pháp
lịch sử, phương pháp logic cùng các phương pháp nghiên cứu khác như phương
pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu, thống kê…
6. Đóng góp của luận văn
- Từ góc nhìn của khoa học Chính trị, luận văn chỉ ra những nguyên nhân
mất nước của nhà Nguyễn nửa sau thế kỷ 19.
- Rút ra những bài học kinh nghiệm với vấn đề bảo vệ tổ quốc Việt Nam
hiện nay.
7. Bố cục luận văn
Ngoài phần mục lục, phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn được kết cấu thành 2 chương, 6 tiết.
5
CHƢƠNG 1
NGUYÊN NHÂN THẤT BẠI CỦA NHÀ NGUYỄN TRƢỚC
SỰ XÂM LƢỢC CỦA THỰC DÂN PHÁP
Nước Đại Nam cuối thế kỉ XIX phải đối mặt với nguy cơ bị chủ nghĩa đế
nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc thì một trong những đặc
điểm quan trọng nhất của chính sách đối ngoại là các cuộc chiến tranh xâm lược.
Vì luôn luôn bị thúc đẩy bởi nhu cầu về những nơi tiêu thụ sản phẩm, giai cấp
tư sản xâm lấn khắp toàn cầu. Nó phải xâm nhập vào khắp nơi, trụ lại ở
khắp nơi và thiết lập những mối liên hệ ở khắp nơi” [22, 601].
Trong quá trình đó, hầu hết các nước thuộc châu Á, châu Phi, châu Mỹ La
tinh trong hoàn cảnh nghèo nàn, lạc hậu, kém phát triển đều trở thành miếng
mồi ngon béo bở của các nước đế quốc phương tây. Trước khi chủ nghĩa thực
dân phương Tây xâm lược và thống trị, nền văn hóa xã hội của các nước này
phát triển khá cao. Nơi đây đã xuất hiện sớm những nền văn minh lớn như Ấn
Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Đông Nam Á… thậm chí sớm hơn cả Phương Tây
hàng thiên niên kỉ. Tuy nhiên, sự phát triển của những quốc gia ở châu Á không
giống nhau. Chế độ phong kiến đạt đến trình độ phát triển cao và dần dần
chuyển sang giai đoạn suy yếu. So với các nước ở Phi và Mỹ Latinh thì ở các
nước châu Á trình độ phát triển kinh tế cũng tương đối cao hơn. Ở thời Trung
đại, chế độ phong kiến đạt tới đỉnh cao cực thịnh, rực rỡ cũng không thua kém gì
phương Tây, quan hệ sản xuất kinh tế chủ nghĩa cũng đã manh nha nhưng đã bị
chế độ phong kiến kìm hãm, mầm mống kinh tế tư bản chủ nghĩa không có điều
kiện phát triển như ở phương Tây. Trong khi ở phương Tây chuyển sang giai
đoạn hiện đại hóa, chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn phát triển nhanh
chóng thì ở châu Á còn chìm đắm trong chế độ phong kiến lạc hậu. Trên đà
bành trướng sang phương Đông, đến giữa thế kỷ XIX, các nước đế quốc phương
Tây đã thâm nhập sâu vào các nước châu Á, đặc biệt các nước nghèo nàn, lạc
hậu, kém phát triển.
Thất thế tại châu Mĩ, thua Anh tại Ấn Độ và châu Phi, người Pháp rơi vào
nguy cơ đánh mất vị thế của mình trên trường quốc tế; trong khi nhu cầu tìm
kiếm thị trường trở nên gay gắt hơn bao giờ hết. Nửa đầu thế kỷ XIX, Pháp thực
ra không có nhu cầu phát triển kinh tế ở Viễn Đông, động lực thôi thúc không
7
Bonaparte sau khi dựa vào giai cấp tư sản và quân đội để làm cuộc đảo chính
8
thắng lợi và thiết lập nền chuyên chính quân sự của giai cấp tư sản, mặc dù còn
rất bận chiến trang với các nước châu Âu; Bonapart cũng đã để ý tới Việt Nam.
Năm 1857, nước Anh đang dính líu đến cuộc nổi loạn ở Ấn Độ và do đó
sẽ không đủ sức mạnh để ngăn cản Pháp giành một bàn đạp tại Đông Nam
Á. Đây là một thời điểm đặc biệt thuận lợi. Và Pháp đã cho tàu chiến tới
Đà Nẵng kiếm cớ gây sự với Việt Nam. Khi được tin báo từ một giáo sĩ về
tình hình Việt Nam năm 1857: “Những người Anh đang dòm ngó Đà
Nẵng, họ sẽ đi trước chúng ta nếu họ biết đề án đánh chiếm của chúng ta”
[13, 208], Napôlêông III đã cho thành lập Uỷ ban nghiên cứu vấn đề Nam
Kỳ để “xét lại hiệp ước Vécxây” nhằm đẩy nhanh tiến trình thực hiện mục tiêu
xâm lược Việt Nam.
Trước sức ép đòi hỏi mở cửa giao thương ngày càng lớn của thực dân Pháp
thì các vua đầu thời nhà Nguyễn đều có thái độ thận trọng mang tính thăm dò
trước thái độ và hành động của giới thương nhân và chính quyền Pháp. Vị vua kế
tục Gia Long là Minh Mạng không có cảm tình với người Pháp như thái độ chung
của người Á Đông lúc đó, coi người châu Âu là bọn man di, là quân xâm
lược. Ngoài ra ông cũng không thích cả Công giáo của Châu Âu. Sau này khi Tự
Đức lên cầm quyền, triều đình vẫn cai trị theo phong cách nho giáo. Chính quyền
trung ương không có một chính sách gì đối phó với âm mưu và hành động của
phương Tây, thậm chí cấm đạo và buôn bán ngày càng ngặt nghèo.
Mặt khác, lúc này trong nội bộ nước Pháp còn xuất hiện trào lưu biện minh
cho hành động xâm lược bành trướng của giới cầm quyền Pháp tại Đông Dương.
Việc chinh phục thuộc địa là một vấn đề sinh tồn của nước Pháp, vì nước Pháp
chẳng là gì bên cạnh những quốc gia khổng lồ như Nga, Đức, Anh, Hoa Kỳ và cả
Trung Hoa nữa…. Sự bành trướng hải ngoại như một phương diện cho phép nước
Pháp chiếm lại địa vị của nó trên chính trường quốc tế…Chính sách thực dân là
dân “làm chơi” nhưng “ăn thật”- vùng đồng bằng Nam bộ quả thức là món quà
thiên nhiên ban tặng cho một xứ sở nông nghiệp. Tiếc rằng điều đó không có
nghĩa rằng vấn đề lương thực được giải quyết.
Nếu trong giai đoạn đó, có vùng nào không bị thiếu đói hay xiêu tán, có lẽ
vùng đó không ở Bắc hà lẫn miền Trung. Lương thực thiếu trở thành yếu tố kích
thích xã hội rối loạn: nông dân đói bỏ, đi xiêu tán, một bộ phận trở thành giặc
cướp. Giặc cướp và khởi nghĩa không chỉ “giúp” triều đình và nhân dân tăng
cường đối đầu, mà còn khiến nông dân không thể yên ổn làm ăn. Hậu quả rõ
nhất là một chuỗi luẩn quẩn: nông nghiệp sút kém, dẫn đến nổi loạn, nổi loạn bắt
triêu đình đàn áp, chi phí cho quân sự vì thế đè nặng lên chính lưng người nông
11
dân và thuế mà họ phải đóng- thuế cao sẽ lại quay trở lại làm tổn thương nền
nông nghiệp.
Từ việc lập sổ địa bạ đến những chính sách khai hoang, doanh điền, quân
điền…, kì vọng của thượng tầng xã hội được đáp trả lịch thiệp bằng những nạn
đói kế tiếp nhau, đi kèm với khởi nghĩa và nổi loạn. Tự Đức nhận thức được
món quà nặng nề ấy, nhưng ngài cũng bất lực, vận mệnh dân tộc thì phó mặc
cho ngài.
Nông nghiệp sa sút không cho phép tiểu thủ công nghiệp phát triển. Nền
sản xuất bất an thì thương nghiệp càng tồi tệ hơn. Tài chính đổ cho những chính
sách khai hoang và lập điền tuy có đạt được những thành tựu nhất định nhưng
vẫn chẳng thấm vào đâu.
Vậy là nông nghiệp Việt Nam thế kỉ XIX không có sự phát triển và không
tạo được động lực phát triển cho toàn thể nền kinh tế, cũng là nguyên nhân của
nhiều bất ổn xã hội: triều đình loay hoay đàn áp khởi nghĩa và phát triển nông
nghiệp, còn nông dân thì tiếp tục quẫn chí xiêu tán, bỏ ruộng, nổi dậy.
Tất cả cho phép ta nhận định rằng: nông nghiệp trở thành sợi dây trói chặt
toàn bộ nền kinh tế, không cho và kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế , đồng
nước mắt lại thấy ruộng đất do tay mình làm ra bị bọn phong kiến cướp đoạt.
Vì vậy, nạn nông dân lưu tán, nhất là đến đời Tự Đức khi tư bản Pháp sắp nổ
súng khởi hấn, lại càng trở nên phổ biến khắp cả nước và ngày càng trầm trọng
hơn lên. Đó là một trong những nét tiêu biểu của thời kì khủng hoảng suy vong
của chế độ phong kiến Việt Nam dưới triều Nguyễn.
Trong khi nông nghiệp đang lâm vào tình trạng tiêu điều xơ xác như vậy
thì công nghiệp nằm trong tay bọn phong kiến triều Nguyễn cũng ngày một bế
tắc. Chính sách của triều Nguyễn về mặt công nghiệp vô cùng phản động. Phong
kiến nhà Nguyễn nắm trong tay những ngành kinh doanh lớn. Các công xưởng
lớn đúc súng, đóng tàu, đúc tiền; các xưởng nhỏ chuyên chế tạo đồ dùng riêng
cho nhà vua, vàng bạc, gấm vóc; các công trường xây dựng cung điện, thành
quách, lăng tẩm đều do bộ Công của triều đình quản lí. Chế độ làm việc trong
các công xưởng này là chế độ "công tượng" mang nặng tính chất cưỡng bức lao
động. Những người thợ giỏi ở các địa phương bị bắt về đây được biên chế thành
đội ngũ, làm việc tập trung với một số lương rất thấp, lại chịu sự kiểm soát
nghiêm ngặt của quan lại nên rất bất mãn, không phấn khởi với công việc.
13
Triều đình phong kiến còn giữ độc quyền ngành khai mỏ . Số mỏ được
khai thác từ 1802 đến 1858 là 139 mỏ, bao gồm đủ các loại. Nhưng phần lớn các
mỏ đều do bọn quan lại triều đình đứng ra khai thác, chỉ một số ít là do chủ mỏ
Hoa kiều hay Việt Nam chủ trì. Phương thức sản xuất trong cả ba loại mỏ căn
bản vẫn là lối sản xuất thủ công cá thể với những hình thức bóc lột phong kiến
mang nặng tính chất nô dịch. Năng suất trong các công trường mỏ vì vậy thường
thấp. Đã thế, triều Nguyễn còn đánh thuế sản vật rất nặng vào các mỏ do Hoa
kiều hay người Việt đứng ra khai thác. Nhiều phép tắc vô lí làm hạn chế sự phát
triển của ngành khai mỏ, như quy định những khu vực cấm khai mỏ, giữ độc
quyền thu mua các kim loại khai thác được theo giá quy định.
Các nghề thủ công trong nhân dân không có điều kiện phát triển. Tại các
hàng quan trọng đến đời sống nhân dân như lúa gạo để hạn chế việc chuyên chở
trao đổi giữa các vùng trong nước; cấm nhân dân họp chợ. Việc giao lưu giữa
các địa phương vì vậy gặp rất nhiều trở ngại, thị trường trong nước không tập
trung và thống nhất. Tóm lại với cơ sở hàng hóa nghèo nàn, không thể trông chờ
ở thương nghiệp bất kì một lối thoát nào cho nền kinh tế. Bằng một nỗ lực
gượng gạo, nhà Nguyễn tìm cách kiểm soát phần nào thương nghiệp, nhưng chỉ
còn có thể làm chủ sự buôn bán riêng những ngành sản xuất mà nó độc quyền
hay chủ động khống chế. Trót để người Hoa thao túng buôn bán, triều đình đành
gỡ gạc bằng cách đóng cửa không cho thương nhân ngoại quốc vào buôn bán
(ngoại trừ người Hoa- triều đình nhà Nguyễn dẫu sao cũng tôn sùng nhà
Thanh!). Một phần lí do chính vì muốn làm chủ và khẳng định vị thế của mình
trong kinh tế, mặt khác e ngại kịch bản tái diễn như với người Hoa (khi người ta
yếu, người ta không chỉ ích kỉ mà còn hay sợ sệt). Thương nghiệp, như vậy, từ
chỗ kém phát triển đến chỗ bị kiềm chế, dẫn đến ảnh hưởng không tốt lành
không chỉ đối với nền kinh tế Đại Việt, mà còn cho tương lai của dân tộc.
Ngoại thương cũng bị triều đình nắm độc quyền. Thực hiện chính sách bế
quan tỏa cảng, triều đình chỉ mở nhỏ giọt một số cửa biển cho tàu nước ngoài lui
tới buôn bán. Chỉ được nhập vào những hàng hóa triều đình cần (như sắt, chì,
gang, lưu hoàng để làm súng đạn); còn xuất cảng thì cấm tàu thuyền nước ngoài
không được mua tơ lụa, thóc gạo trong nhân dân. Tàu buôn nước ngoài tới buôn
bán còn bị khám xét rất kĩ để đánh thuế và định giá hàng, lại còn có thể bị trưng
dụng đi phục vụ cho các đợt công tác đột xuất của triều đình (như chở gạo cho
quân lính, hay chuyên chở nguyên vật liệu xây dựng lăng tẩm, cung điện) .
15
Chính sách bế quan tỏa cảng của triều đình đã làm cho việc buôn bán với nước
ngoài sa sút rõ rệt. Thuế cửa quan, trước có 60 sở, đến năm 1851 chỉ còn 21 sở;
một số cảng trước kia buôn bán rất phồn thịnh, nay cũng trở nên tiêu điều vắng
vẻ. Quan hệ thương nghiệp ở Việt Nam trong thế kỉ XIX chủ yếu là quan hệ
nền sản xuất đảm bảo. Nếu không, sự mở cửa thông thương sẽ hóa thành mở
cửa cho ngoại quốc thao túng thị trường, nguy cơ đất nước mất chủ quyền càng
tăng hơn lên. Sự yếu kém của nền thương nghiệp Việt Nam được thể hiện rõ
ràng sau khi Pháp buộc Việt Nam phải mở các cảng và cửa khẩu (Hải Phòng,
Quy Nhơn…). Thương nghiệp không tiến triển nhiều, trao đổi buôn bán không
được đẩy mạnh. Tình trạng này xuất phát từ nguyên nhân cơ bản: người Hoa
làm chủ thương nghiệp, mọi sự cạnh tranh về thương nghiệp của thương nhân
các nước khác đều không hiệu quả. Hơn nữa, mặt hàng mà Pháp cần là hồ tiêu
và đường thì lục địa châu Mỹ đã đáp ứng đủ nhu cầu rồi. Riêng về gạo, người
Hoa biết cách liên hệ trực tiếp với người sản xuất để mua gạo, đem bán ở
Hương Cảng - không còn cơ hội cho người Âu Tây chen vào đó.
Vậy là, sau khi mở cửa thông thương, thương nghiệp vẫn ì ạch tại chỗ,
giai tầng mới không có điều kiện nảy sinh: cơ sở xã hội không bị tổn thương và
biến đổi, quan hệ sản xuất mới không xuất hiện, đồng nghĩa rằng nếu cải cách
cũng không thể dựa vào thương nghiệp.
Nhìn một cách tổng thể, thương nghiệp, bởi sự yếu kém của nó, cùng với
sự trì trệ của nông nghiệp, nằm trọn trong tay người Hoa, buộc chính quyền lựa
chọn giải pháp đóng cửa, ngày càng yếu kém và không còn sinh khí để đứng lên
khi có điều kiện thông thương. Thương nghiệp,với tình trạng như thế, rốt cuộc
trở thành nhân tố ngăn cản khả năng cải cách, nó chẳng giúp gì cho duy tân về
mặt cơ sở.
Kinh tế khó khăn lại là nguyên nhân dẫn đến những rối loạn về xã hội.
Dưới triều Nguyễn, tổ chức xã thôn đã hoàn toàn trở thành một công cụ của bọn
cường hào địa chủ nông thôn. Nó trói buộc người nông dân trong những quan hệ
địa phương hẹp hòi có lợi cho sự bóc lột của nhà nước phong kiến và cản trở sự
phát triển của nền kinh tế hàng hóa. Nền kinh tế tư hữu của nông dân bị xâm
phạm nghiêm trọng. Ruộng đất phần nhiều tập trung vào tay bọn quan lại, địa
chủ. Công điền, công thổ chỗ nào mầu mỡ béo tốt đều bị bọn cường hào lũng
đoạn, còn lại thì bọn hương lí lại bao chiếm, dân nghèo chỉ được những chỗ
17
dân khắp 3 miền bắc, trung, nam càng làm cho triều đình Huế trở nên nhạy cảm
đặc biệt với nông dân. Trước sự phản kháng nhân dân, triều đình ra sức đàn áp
18
khủng bố các phong trào của quần chúng, huy động những lực lượng quân sự to
lớn vào việc dập tắt các cuộc khởi nghĩa nông dân trong biển máu. Các cuộc
hành quân liên miên một mặt đã làm cho chính lực lượng quân sự của triều đình
bị suy yếu dần, mặt khác cũng làm hủy hoại khả năng kháng chiến lớn lao của
dân tộc, càng tạo thêm điều kiện thuận lợi cho tư bản Pháp thôn tính nước ta. Để
biện minh cho thủ đoạn tàn bạo trên, vua Gia Long đã ban hành bộ luật Gia
Long năm 1815. Bộ luật này được soạn ra phỏng theo bộ luật phản động của
phong kiến Mãn Thanh (Trung Quốc), dưới ý niệm trấn áp nhân dân và giữ
vững trật tự phong kiến tuyệt đối. Chính quyền còn lợi dụng cả văn học để tuyên
truyền cho chế độ thống trị đẫm máu của chúng, như Minh Mạng ra 10 điều
Huấn dụ, Tự Đức diễn âm Thập điều diễn ca để truyền bá rộng rãi học thuyết
Nho giáo trên cơ sở đó củng cố ý thức hệ phong kiến đã bị rạn nứt. Đó là một
trong những nét tiêu biểu của thời kì khủng hoảng suy vong của chế độ phong
kiến Việt Nam dưới triều Nguyễn.
Tuy vậy, khác với quan điểm coi chế độ phong kiến nhà Nguyễn đã đến
lúc suy tàn, tác giả lại coi đó là chưa phát triển đến độ chín muồi của nó, để đi
đến suy tàn. Bởi vì một chế độ phong kiến khi phát triển đến cực điểm thì trong
lòng nó đã xuất hiện những mầm mống hình thái kinh tế xã hội có khả năng phá
vỡ nó là mầm mống của chủ nghĩa tư bản. Nhưng ở Việt Nam chưa bao giờ có
hình thái kinh tế xã hội phong kiến điển hình như các nhà kinh điển của chủ
nghĩa Mác nói về phong kiến ở phương tây mà đó là sự bảo trì lâu dài tàn dư của
phương thức sản xuất châu Á lại làm cho nó tồn tại lâu dài ở mức trì trệ không
phát triển, dưới hình thức một nền chuyên chính phương Đông, không hẳn là
phong kiến, cũng chưa lên được tư bản chủ nghĩa.
Nhìn chung, sau khi giành được chính quyền nhà Nguyễn đã không đưa