B
TR
GIÁO D C VÀ ÀO T O
NG
I H C KINH T TP.HCM
VÕ TR
NG S N
LU N V N TH C S KINH T
TP. H Chí Minh – N m 2001
-1-
LỜI MỞ ĐẦU
B(A
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (tháng 12 năm 1986), Đảng
ta đề ra chủ trương đổi mới toàn diện và triệt để nền kinh tế, chuyển từ cơ
chế tập trung bao cấp sang cơ chế thò trường có sự điều tiết của Nhà nước
theo đònh hướng xã hội chủ nghóa. Trong đó, việc phát triển nền kinh tế
nhiều thành phần là một chiến lược có ý nghóa rất quan trọng.
Cổ phần hóa DNNN là một yêu cầu tất yếu khách quan trong quá trình
2. Mục đích nghiên cứu
Đề tài được thực hiện nhằm tìm ra và hệ thống hóa các giải pháp
nhằm đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa DNNN một cách hiệu quả.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu của đề tài bao gồm các DNNN ở Việt Nam đã,
đang và sẽ được tiến hành cổ phần hóa. Đối tượng nghiên cứu của đề tài là
diễn biến quá trình triển khai cổ phần hóa DNNN trong sự tác động của các
yếu tố chính trò, kinh tế và xã hội; những thuận lợi và khó khăn khi tiến hành
cổ phần hóa.
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện dựa trên phương pháp luận của chủ nghóa duy
vật biện chứng kết hợp với phương pháp lôgich, phương pháp thống kê,
phương pháp phân tích, phương pháp so sánh…
Ý nghóa lý luận và thực tiễn
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và phân tích, đánh giá các điều kiện
thực tế khách quan, luận văn sẽ đề xuất những giải pháp nhằm góp phần đẩy
mạnh quá trình cổ phần hóa DNNN. Bên cạnh đó, thông qua việc phân tích
và đánh giá thực tiễn quá trình cổ phần hóa DNNN ở Việt Nam trong thời
-3-
gian qua, luận văn sẽ góp phần làm sáng tỏ và hoàn thiện lý luận về cổ phần
hóa DNNN làm cho nó phù hợp và có thể dẫn dắt quá trình cổ phần hóa đi
theo con đường hiệu quả nhất.
5. Bố cục của luận văn
Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần;
-
Các cổ đông chỉ chòu trách nhiệm về nợ và các nghóa vụ tài sản khác của
doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp;
-
Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác,
trừ những trường hợp đặc biệt do pháp luật quy đònh;
-
Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là 3 và không
hạn chế số lượng tối đa.
1.1.2. Đặc điểm của CTCP
CTCP có các đặc điểm sau:
-
CTCP là loại hình công ty đối vốn nên không đòi hỏi nhân thân của các cổ
đông mà chỉ đòi hỏi vốn góp cổ phần. Thành viên của CTCP thường rất
-5-
đông. Các nước trên thế giới đều không hạn chế số lượng tối đa và quy đònh
số thành viên tối thiểu, ví dụ ở Pháp quy đònh là 7, ở Đức là 5 và ở Việt Nam
là 3. Con số tối thiểu này phải được đảm bảo trong suốt quá trình tồn tại và
-6-
tài chính để đầu tư cho các công trình như vậy. Cách giải quyết tốt nhất là tập
trung vốn của nhiều nhà tư bản lại, thành lập các CTCP.
Một nguyên nhân khác, do khoa học kỹ thuật phát triển dẫn đến xuất hiện
ngày càng nhiều ngành nghề mới, sản phẩm mới, lónh vực kinh doanh mới hiệu
quả hơn và đem lại nhiều lợi nhuận hơn. Để giành lấy lợi nhuận siêu ngạch, các
nhà tư bản tìm cách chuyển dòch vốn đầu tư sang các ngành nghề, lónh vực mới
này. Tuy nhiên, họ không thể bán ngay các xí nghiệp cũ kém hiệu quả để
chuyển vốn sang xây dựng các xí nghiệp mới mà chỉ có thể rút bớt và chuyển
dần từng phần vốn; quá trình này rất khó thực hiện, kéo dài nên thường để mất
thời cơ. Vì vậy, các nhà tư bản mạo hiểm có cùng mục đích tìm kiếm lợi nhuận
siêu ngạch tìm đến nhau góp vốn thành lập CTCP để cùng kinh doanh, chia nhau
hưởng lợi nhuận siêu ngạch.
Sản xuất càng phát triển, trình độ kỹ thuật càng cao, phát minh sáng chế
càng nhiều thì cạnh tranh trên thương trường càng khốc liệt, rủi ro kinh doanh
càng cao. Nếu chỉ kinh doanh trong một ngành, khi bò phá sản sẽ trắng tay. Điều
này đòi hỏi các nhà tư bản phải phân tán vốn đầu tư vào nhiều ngành khác nhau,
góp vốn vào nhiều CTCP khác nhau để phân tán rủi ro. Mặc khác, một công ty
do nhiều người cùng tham gia quản lý sẽ tập trung được nhiều trí tuệ, có nhiều
nguồn thông tin nên cũng hạn chế được rủi ro. Vì những lý do trên, hình thức
CTCP được nhiều người ưa thích và nó trở thành phổ biến ở các nước có nền
kinh tế thò trường.
Hình thức CTCP được xúc tiến rất nhanh trong ngành kinh doanh tiền tệ.
Nhiều ngân hàng cổ phần lớn được đua nhau thành lập ở các nước tư bản, đã tập
trung được những nguồn vốn khổng lồ để cung cấp cho các CTCP lớn thuộc
nhiều ngành sản xuất, dòch vụ. Sự nhanh chóng hình thành và mở rộng thò trường
tư bản cho vay đã thúc đẩy việc tích tụ và tập trung tư bản vào các CTCP, làm
cho chúng càng hùng mạnh và phát triển nhanh chóng.
-8-
Ở miền Bắc từ năm 1956 trở đi và ở miền Nam từ năm 1976 trở đi, các
CTCP nói trên đã đóng cửa hoặc trở thành xí nghiệp quốc doanh của Chính phủ
Cộng hòa xã hội chủ nghóa Việt Nam.
Ngày 15 tháng 4 năm 1991, Chủ tòch nước Cộng hòa xã hội chủ nghóa
Việt Nam ban hành Luật Công ty để thực hiện đường lối phát triển nền kinh tế
hàng hóa nhiều thành phần, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn,
lao động và tài nguyên đất nước, tạo thêm việc làm, bảo hộ lợi ích hợp pháp của
người góp vốn đầu tư, đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế, tăng cường hiệu lực
quản lý Nhà nước.
1.1.4. Những ưu điểm và nhược điểm của CTCP
2.2.1.
Ưu điểm:
CTCP có các ưu điểm sau:
-
Tạo ra hành lang an toàn cho các cổ đông vì khi công ty làm ăn thua lỗ, bò
phá sản thì họ chỉ chòu trách nhiệm trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty;
-
Nhờ có vốn lớn, quy mô kinh doanh được mở rộng nên các CTCP thường thu
được nhiều lợi nhuận. Do đó, lợi tức cổ phần của các cổ đông thường cao hơn
số thu nhập từ các khoản đầu tư khác đem lại;
Các quy đònh của Nhà nước về hoạt động của CTCP khá chặt chẽ, công ty có
nghóa vụ báo cáo thường xuyên về hoạt động của mình với cơ quan Nhà nước
có trách nhiệm;
-
Không giữ được bí mật kinh doanh, bí mật tài chính vì phải báo cáo và xin ý
kiến trước đại hội cổ đông;
-
Thiếu sự quan tâm và động lực cá nhân vì khi công ty thu được lợi nhuận
nhiều hay ít thì mọi người mọi đều hưởng chung, khi bò thua lỗ thì mọi người
cùng chòu, không phải trách nhiệm của riêng ai;
-
Công ty khó thay đổi phương hướng, mục tiêu kinh doanh vì phải căn cứ vào
điều lệ ban đầu, phải có quyết đònh của đại hội cổ đông, phải xin cơ quan
Nhà nước có thẩm quyền cho sửa đổi điều lệ…
1.1.5. Vai trò của CTCP trong nền kinh tế thò trường
Ở các nước tư bản chủ nghóa, CTCP là một mô hình tổ chức kinh doanh
phổ biến nhất. CTCP thể hiện sự liên kết cùng tồn tại giữa nhiều chủ thể kinh tế
trong xã hội. Nó là kết quả của quá trình tích tụ và tập trung vốn đầu tư vào sản
xuất kinh doanh. Hình thức CTCP đã thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển
mạnh mẽ. Từ khi hình thức CTCP ra đời (cuối thế kỷ 19), nền kinh tế tư bản
phát triển nhanh như vũ bão. Trong điều kiện hiện nay, chắc chắn hình thức
CTCP sẽ còn tiếp tục tồn tại và đóng góp không nhỏ vào quá trình phát triển của
xã hội loài người.
Là đơn vò sản xuất kinh doanh hàng hóa, dòch vụ và hoạt động theo nguyên
tắc hạch toán độc lập.
-
Tài sản của xí nghiệp thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước giao cho doanh
nghiệp quản lý để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh.
-
Doanh nghiệp là một pháp nhân, chòu trách nhiệm dân sự đối với khối tài sản
được Nhà nước giao để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh.
Ở nước ta, trước đây chúng ta sử dụng thuật ngữ xí nghiệp quốc doanh để
chỉ một xí nghiệp do Nhà nước thành lập và đầu tư vốn nhưng tài sản được coi là
- 11 -
tài sản công hữu. Từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng, chúng
ta sử dụng thuật ngữ DNNN thay thế cho thuật ngữ xí nghiệp quốc doanh.
Theo quy đònh tại điều 1 Luật DNNN được Quốc hội nước Cộng hòa xã
hội chủ nghóa Việt Nam khóa IX, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 20 tháng 4 năm
1995, DNNN là một tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ
chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích, nhằm thực hiện
các mục tiêu kinh tế – xã hội do Nhà nước giao.
Từ đònh nghóa trên, ta thấy DNNN có những đặc điểm cơ bản sau đây:
-
-
DNNN thực hiện mục tiêu mà Nhà nước giao: doanh nghiệp nào được giao
thực hiện hoạt động kinh doanh thì phải đảm bảo kinh doanh có hiệu quả,
doanh nghiệp nào được Nhà nước giao cho thực hiện hoạt động công ích thì
phải thực hiện hoạt động công ích nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế – xã
hội.
1.2.2. Khái niệm cổ phần hóa DNNN
Cổ phần hóa DNNN là một thuật ngữ dùng để diễn đạt quá trình chuyển
DNNN thành CTCP thuộc sở hữu hỗn hợp của các tổ chức và cá nhân (gọi là cổ
đông).
Cổ phần hóa DNNN là một biện pháp chuyển DNNN sang loại hình
doanh nghiệp đa sở hữu nhằm huy động rộng rãi nguồn vốn cho đầu tư phát triển
sản xuất kinh doanh, góp phần xử lý và khắc phục những tồn tại hiện thời của
DNNN, tạo điều kiện cho người lao động có cổ phần và tham gia làm chủ doanh
nghiệp, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời
phục vụ cho nhu cầu cơ cấu lại nền kinh tế.
Chúng ta cần phân biệt rõ sự khác nhau giữa cổ phần hóa và tư nhân hóa:
Tư nhân hóa là quá trình chuyển đổi hình thức sở hữu từ Nhà nước sang tư nhân,
đồng thời chuyển các lónh vực sản xuất kinh doanh từ Nhà nước độc quyền sang
cho tư nhân đảm nhiệm. Để thực hiện sự chuyển đổi này, có nhiều cách khác
nhau như cho không, bán đấu giá, bán lại toàn bộ cho tư nhân, cổ phần hóa…
Như vậy, cổ phần hóa là một khái niệm hẹp hơn tư nhân hóa. Trong cổ phần
hóa, phần vốn của Nhà nước được bán lại cho nhiều đối tượng khác nhau bao
gồm: các tổ chức kinh tế – xã hội, các cá nhân trong và ngoài doanh nghiệp;
Nhà nước có thể giữ lại hoặc không giữ lại cổ phần trong các doanh nghiệp cổ
phần hóa. Cổ phần hóa khác với tư nhân hóa ở điểm cơ bản là nó chuyển DNNN
từ hình thức sở hữu Nhà nước duy nhất sang hình thức sỡ hữu hỗn hợp nhằm tạo
- 14 -
tranh cho các doanh nghiệp; đồng thời chúng ta cũng tạo điều kiện cho người lao
động trong doanh nghiệp và công chúng bên ngoài tham gia góp vốn kinh doanh,
tham gia quản lý từ đó tạo ra những động lực mới thúc đẩy doanh nghiệp kinh
doanh có hiệu quả hơn.
Xuất phát từ ý nghóa quan trọng nêu trên, chúng ta cần phải đẩy nhanh
tiến trình cổ phần hóa DNNN để có thể nhanh chóng xắp xếp lại nền kinh tế,
tạo ra sức cạnh tranh cho các doanh nghiệp. Có như vậy thì chúng ta mới có thể
tránh được nguy cơ tụt hậu và làm cho đất nước ta ngày càng giàu mạnh.
1.2.4. Mục tiêu của việc cổ phần hóa DNNN ở Việt Nam
Việc xác đònh mục tiêu cổ phần hóa DNNN là một vấn đề có ý nghóa
quan trọng, nó chi phối và quyết đònh các nguyên tắc chỉ đạo cơ bản của chính
sách cổ phần hóa, từ đó quyết đònh sự thành công hay thất bại của quá trình cổ
phần hóa DNNN.
Do tình hình kinh tế, chính trò và xã hội ở mỗi nước khác nhau nên mục
tiêu cổ phần hóa DNNN được xác đònh khác nhau. Ở Việt Nam, tháng 4 năm
1992, Bộ Tài chính trình Hội đồng bộ trưởng (nay là Chính phủ) Đề án chuyển
một số DNNN thành CTCP, trong đó xác đònh 5 mục tiêu. Sau khi xem xét, Hội
đồng bộ trưởng giữ lại 3 mục tiêu theo như Đề án ban hành kèm theo Quyết đònh
số 202/CT ngày 08 tháng 6 năm 1992. Các mục tiêu này bao gồm:
-
Một là, chuyển một phần sở hữu Nhà nước thành sở hữu của các cổ đông
nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh;
-
được chỉ thò số 88/TTg của Thủ tướng Chính phủ nhấn mạnh là phải chú trọng
thực hiện cho bằng được. Việc đề ra mục tiêu này xuất phát từ quan điểm cũng
như thực trạng là tài sản thuộc quyền sở hữu của Nhà nước thường không được
quản lý và sử dụng có hiệu quả bằng tài sản thuộc quyền sở hữu tư nhân. Tuy
nhiên, không nhất thiết phải đưa việc chuyển sở hữu làm mục tiêu cổ phần hóa
DNNN vì các lý do sau:
-
Cổ phần hóa thực chất là một giảp pháp để cơ cấu lại hệ thống DNNN, tức là
chuyển các DNNN thành CTCP, do đó khái niệm cổ phần hóa đã bao hàm
việc chuyển đổi sở hữu.
-
Cổ phần hóa là sự tập hợp các nỗ lực chung nhằm giải phóng quyền tự chủ
sáng tạo trong quản lý cũng như trong lónh vực kỹ thuật của những người trực
tiếp kinh doanh. Do đó việc chuyển đổi sở hữu chỉ là một việc mang tính tiền
đề cho việc thực hiện các mục tiêu chủ yếu của vấn đề cổ phần hóa.
Nghò đònh số 44/1998/NĐ-CP được ban hành ngày 29 tháng 6 năm 1998
cũng đề ra 2 mục tiêu nhưng có mở rộng hơn so với Nghò đònh số 28/CP, đó là:
- 16 -
-
Huy động vốn của toàn xã hội, bao gồm cá nhân, các tổ chức kinh tế, tổ chức
xã hội trong và ngoài nước để đầu tư đổi mới công nghệ, tạo thêm việc làm,
phát triển doanh nghiệp, nâng cao sức cạnh tranh, thay đổi cơ cấu DNNN.
Mexico: Từ năm 1982 đến đầu năm 1990, Mexico đã thực hiện tư nhân hóa
750 trong tổng số 1.155 DNNN. Chính phủ đã thu được khoảng 17 tỷ USD từ
việc bán 12 ngân hàng và công ty điện thoại Telmex. Đến cuối năm 1992,
- 17 -
Chính phủ tiến hành bán tiếp 6 ngân hàng còn lại, công ty bảo hiểm Mexico,
các nhà máy sản xuất phân bón, đồng thời lôi kéo tư nhân vào xây dựng cơ
sở hạ tầng.
-
Argentina: Sau nhiều thập kỷ quốc hữu hóa, Chính phủ đã đưa ra chương
trình tư nhân hóa công ty hàng không quốc gia và công ty độc quyền điện
thoại của Nhà nước nhằm giải quyết một phần trong chương trình thanh toán
nợ quốc gia. Quá trình tư nhân hóa đã giúp nước này giảm được 7 tỷ USD nợ
nước ngoài.
-
Brazil: Chương trình tư nhân hóa DNNN ở Brazil được tiến hành với nhiều
khó khăn ban đầu nhưng cũng đạt được kết quả bắt đầu bằng việc bán công
ty sắt thép khổng lồ Usiminas với giá 1,4 tỷ USD vào tháng 10 năm 1991.
Với tính chất của một khu vực kinh tế gắn liền với chủ nghóa tư bản của
Hoa Kỳ, nền kinh tế các nước thuộc khu vực Mỹ-latinh và Caribê từ lâu đã là
một nền kinh tế thò trường mở cửa và chòu sự chi phối rất lớn của các công ty
nước ngoài, đặc biệt là các công ty xuyên quốc gia và đa quốc gia. Đặc điểm
này làm cho quá trình tư nhân hóa ở đây chủ yếu được thực hiện bằng việc bán
trực tiếp cổ phần của Nhà nước cho các nhà đầu tư nước ngoài.
Chỉ bán, không cho không (Hungary);
+
Cho không các đối tượng bên trong và cả bên ngoài doanh
nghiệp (Ba Lan, Séc, Nga).
Kinh nghiệm của các nước Đông Âu và Liên Bang Nga cho thấy nước nào
tiến hành chuyển đổi sở hữu DNNN nóng vội, chủ quan, không có khuôn khổ
pháp luật rõ ràng, đầy đủ thì sẽ dẫn đến thất bại, gây thất thoát tài sản Nhà
nước. Vì vậy, cần phải kiên trì, từng bước tạo ra những tiền đề cần thiết để thực
hiện quá trình chuyển đổi sở hữu DNNN một cách hữu hiệu.
Vận dụng những kinh nghiệm này vào điều kiện thực tế ở nước ta, chúng
ta cần phải hoàn thiện hơn nữa hành lang pháp lý cho công cuộc cổ phần hóa
DNNN; chúng ta cần phải xây dựng đề án với những lộ trình và giai đoạn cụ thể,
có mục tiêu và phương pháp phù hợp. Quá trình cổ phần hóa phải được tổ chức,
chỉ đạo và giám sát chặt chẽ; phải có sự tách rời giữa cơ quan xây dựng chính
sách, đề án cổ phần hóa với cơ quan thực hiện các đề án, chính sách đó.
- 19 -
1.3.3. Các nước đang phát triển thuộc khu vực châu Phi
Ở các nước đang phát triển thuộc khu vực châu Phi, quá trình tư nhân hóa
được tiến hành nhằm mục tiêu tăng hiệu quả kinh tế và giảm thâm hụt ngân
sách. Quá trình tư nhân hóa ở đây đạt kết quả thấp và chủ yếu được thực hiện
đối với các doanh nghiệp có quy mô nhỏ. Nguyên nhân cơ bản là do thò trường
vốn trong nước còn nhỏ bé, thiếu các thò trường chứng khoán thực sự, các đònh
chế tài chính trung gian còn yếu kém và thiếu sự tham gia của các nhà đầu tư
chiếm 3-5% doanh số của các doanh nghiệp) và sự thiếu hiểu biết về cổ phần
hóa (tâm lý sợ mất việc, giảm phúc lợi, cải tổ lại ban quản lý doanh nghiệp…).
Trước tình hình này, Chính phủ Trung Quốc đang có kế hoạch ban hành một số
chính sách mới nhằm đẩy mạnh cải cách các DNNN, đặc biệt là cổ phần hóa với
các nội dung như: tăng cường hoạt động cổ phần hóa và niêm yết, khuyến khích
hợp nhất hoặc giải thể các doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả và khuyến khích
người nước ngoài mua cổ phần hoặc mua lại toàn bộ doanh nghiệp không thuộc
các ngành công nghiệp chiến lược.
Quá trình cổ phần hóa DNNN và các điều kiện kinh tế – xã hội ở nước ta
có những điểm tương đồng với Trung Quốc. Vì vậy, chúng ta cần phải tiếp thu
những ưu điểm và rút kinh nghiệm từ những khuyết điểm trong chính sách cổ
phần hóa của Trung Quốc để vận dụng một cách hiệu quả, phù hợp với điều
kiện ở nước ta.
Tóm lại, cổ phần hóa DNNN là một biện pháp chuyển DNNN thành công ty
cổ phần thuộc sở hữu của nhiều tổ chức và cá nhân trong xã hội. Mục tiêu của
việc cổ phần hóa DNNN là nhằm huy động vốn để đầu tư đổi mới công nghệ,
nâng cao sức cạnh tranh, mở rộng và phát triển sản xuất kinh doanh, tạo công ăn
việc làm cho người lao động; đồng thời tạo điều kiện cho người lao động trong
doanh nghiệp có cổ phần và những người góp vốn được làm chủ thực sự, qua đó
thay đổi phương thức quản lý nhằm thúc đẩy doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả.
Chúng ta tiến hành cổ phần hóa DNNN trong bối cảnh nhiều nước trên thế giới
đã trải qua một thời kỳ dài thực hiện cổ phần hóa và tư nhân hóa với nhiều thành
- 21 -
công lẫn thất bại. Do đó, chúng ta cần tiếp thu những kinh nghiệm của các nước
để thực hiện công tác cổ phần hóa ở nước ta một cách hiệu quả.
với mục tiêu vừa sản xuất vừa phục vụ chiến đấu. Hoạt động sản xuất được tiến
hành dựa trên những chỉ tiêu pháp lệnh do Nhà nước đề ra, không hạch toán lãi
lỗ, mà ta thường gọi là cơ chế kế hoạch hóa tập trung. Nhiều Tổng công ty, Liên
hiệp các xí nghiệp đã ra đời trong giai đoạn này và vẫn còn tồn tại cho đến ngày
nay (xem bảng 2.1).
- 23 -
Bảng 2.1 : Một số Tổng công ty được thành lập từ trước năm 1975 ở miền Bắc Việt
Nam
STT
Tên Tổng công ty
Năm
thành lập
1
Tổng công ty Xăng dầu Việt Nam
1956
2
Tổng công ty Muối Việt Nam
1957
1974
Nguồn : Phân viện nghiên cứu tài chính TPHCM
Những DNNN này đã tồn tại và phát triển theo sự thăng trầm của đất
nước và có những đóng góp đáng kể cho nền kinh tế, cho công cuộc xây dựng
Chủ nghóa xã hội ở miền Bắc và cuộc kháng chiến chống Mỹ ở miền Nam.
2.1.2. Giai đoạn từ năm 1975 đến năm 1986
Trong giai đoạn này, các DNNN vẫn tiến hành hoạt động sản xuất kinh
doanh theo chỉ tiêu, kế hoạch pháp lệnh của Nhà nước. Do đó, môi trường hoạt
động của các thành phần kinh tế khác bò hạn chế và ngay cả bản thân các
DNNN cũng không thể chủ động thực thi các kế hoạch sản xuất kinh doanh của
mình. Nền kinh tế đã không tạo ra được một cơ chế kích thích sự năng động, bởi
các DNNN thường được Nhà nước quản lý trên cơ sở các chỉ tiêu hiện vật, kinh
tế hàng hóa còn là điều không được khuyến khích.
2.1.3. Giai đoạn từ năm 1986 đến nay
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (tháng 12/1986) đã đánh
dấu một bước ngoặc to lớn trong công cuộc đổi mới nền kinh tế ở Việt Nam.
Đảng đã chủ trương xóa bỏ cơ chế kế hoạch hóa tập trung, chuyển sang hạch
- 24 -
toán kinh doanh xã hội chủ nghóa, phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành
phần. DNNN trong giai đoạn này phải đối mặt với những thời cơ và thách thức
mới. Lợi thế “một mình một chợ” không còn (trừ một số ngành then chốt) cộng
với những áp lực cạnh tranh khi nền kinh tế Việt Nam mở cửa buộc các DNNN
phải có những cải cách căn bản so với lối làm ăn theo cơ chế kế hoạch hóa tập
(1)
Nguồn: Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp trung ương