Hình tượng nhân vật thần trong thần thoại suy nguyên - Pdf 32

Kho¸ luËn tèt nghiÖp

SV:

NguyÔn ThÞ H¹nh

Lời cảm ơn
Khoá luận được hoàn thành dưới sự chỉ bảo giúp đỡ tận tình của cô
giáo Th.s Nguyễn Thị Ngọc Lan. Em xin được gửi tới cô lời cảm ơn chân
thành.
Em cũng xin trân trọng cảm ơn các thầy, các cô trong tổ bộ môn Văn
học Việt Nam, các thầy, các cô trong khoa Ngữ Văn - Trường Đại học Sư
phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình làm luận văn.
Sinh viên: Nguyễn Thị Hạnh

1


Kho¸ luËn tèt nghiÖp

SV:

NguyÔn ThÞ H¹nh

Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu trong khoá luận là trung thực. Khoá luận này chưa từng được công bố
trong bất cứ công trình nào. Nếu những lời cam đoan trên là sai tôi xin hoàn
toàn chịu trách nhiệm.

Sinh viên: Nguyễn Thị Hạnh


4

2. Mục đích nghiên cứu

5

3. Phạm vi nghiên cứu

5

4. Phương pháp nghiên cứu

5

5. Lịch sử vấn đề

5

Chương 1. Giới thuyết chung

12

1.1. Khái niệm về thần thoại

12

1.2. Điều kiện nảy sinh

15


2.3.1. Đặc điểm về ngoại hình

28

2.3.2. Đặc điểm về chức năng

34

2.3.3. Đặc điểm về hành trạng

39

Kết luận

44

Danh mục tài liệu tham khảo

46

3


Kho¸ luËn tèt nghiÖp

SV:

NguyÔn ThÞ H¹nh



Kho¸ luËn tèt nghiÖp

SV:

NguyÔn ThÞ H¹nh

2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:

Người viết thực hiện đề tài này với mục đích sau:
- Khám phá sự độc đáo của hình tượng nhân vật thần – một nội dung
khá hay trong kho tàng thần thoại Việt Nam.
- Phát hiện một số thủ pháp nghệ thuật góp phần tạo nên sự thành công
trong việc xây dựng hình tượng nhân vật thần trong thần thoại suy nguyên.
3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU.

3.1. Tư liệu:
- Khảo sát 30 truyện trong kho tàng thần thoại Việt Nam
- Ngoài ra để tiện cho việc nghiên cứu, chúng tôi có sử dụng tư liệu
trong thần thoại Hy Lạp.
3.2. Nội dung:
- Chúng tôi đi từ những vấn đề chung nhất để thấy được rằng trong thần
thoại, thần chính là hình tượng nhân vật trung tâm quan trọng nhất, đặc sắc nhất.
- Đồng thời trong quá trình nghiên cứu chúng tôi cũng đặc biệt quan
tâm tới các thủ pháp nghệ thuật được dân gian sử dụng trong việc khắc hoạ
hình tượng nhân vật thần.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.

Do đặc điểm, yêu cầu và mục đích của đề tài chúng tôi sử dụng:
- Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại.

nhiên bên ngoài xung quanh họ” [10;210].
Như vậy thần thoại nguyên thuỷ là ý niệm về tự nhiên của con người,
cho nên các vị thần đầu tiên là những biểu tượng của giới tự nhiên, là thần
thiên nhiên, thần vũ trụ. Con người muốn tìm hiểu và giải thích tự nhiên thế là
vật linh luận ra đời tạo nên vô số các thần.
Tuy có rất nhiều công trình nghiên cứu về thần thoại nhưng mức độ
quan tâm của họ tới thần thoại còn chưa đầy đủ sâu sắc. Đặc biệt là đề tài
“hình tượng nhân vật thần trong thần thoại suy nguyên” chưa có một
công trình nghiên cứu chuyên biệt nào bàn bạc, mở rộng về vấn đề này. Hình
tượng nhân vật thần mới được đề cập một cách sơ lược và rải rác trong các
sách giáo trình, các sách nghiên cứu tham khảo về văn học dân gian.
5.1. Năm 1974, trong cuốn Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt
Nam của nhà xuất bản Khoa học xã hội, tác giả Cao Huy Đỉnh khi bàn về lịch
sử dân tộc ta ở buổi đầu dựng nước trang 23 tác giả có viết: “Thời cổ có thần

6


Kho¸ luËn tèt nghiÖp

SV:

NguyÔn ThÞ H¹nh

thoại. Và như mọi dân tộc khác, tổ tiên ta chắc cũng đã hư cấu nhiều truyện
để giải thích nguồn gốc sự vật và ca ngợi những lực lượng tự nhiên như biển,
núi, nước, đất, cỏ cây, chim muông, gió, bão, mưa, sấm, sét, lửa, mặt trời,
mặt trăng…Loại thần thoại này thấm sâu vào sinh hoạt tinh thần của người
Lạc Việt và tồn tại dai dẳng mãi về sau với vũ trụ quan cổ truyền của người
nông dân lao động, dưới nhiều hình thức văn nghệ khác nhau”.

cảm nghĩ của những thế hệ người Việt đầu tiên bắt đầu thực hiện việc khám
phá và lý giải thế giới”.
Tác giả Hoàng Tiến Tựu đã quan tâm đến mục đích ý nghĩa của thần
thoại và thần thoại suy nguyên. Quả thật là người đọc khi tìm hiểu thần thoại
sẽ được biết đời sống xa xưa của dân tộc Việt Nam. Nhưng để hiểu biết thần
thoại suy nguyên thì phải hiểu về các vị thần như Thần Trụ Trời, Thần Mưa,
Thần Gió, Thần Biển…Vậy các vị thần ấy hiện lên qua trí tưởng tưởng của
dân gian như thế nào? Điều ấy chưa được tác giả bàn đến. Tìm hiểu đề tài này
chúng tôi mong muốn sẽ làm cụ thể hoá những điều còn băn khoăn ở trên.
5.3. Năm 1991, tác giả Trần Gia Linh trong cuốn Giáo trình văn học
dân gian của trường Đại học sư phạm Hà Nội 2 khi bàn về thời kỳ nảy sinh
thần thoại trang 6 tác giả cho rằng: “Sự thật người Việt trong thời kỳ đầu của
chế độ cộng sản nguyên thuỷ vì sống phiêu bạt, vô định nên chưa nhận thức
được cái “chết”, chưa có quan niệm linh hồn sau khi chết. Trong đầu óc
người Việt viễn cổ người và vật lẫn lộn. Về sau, trong xã hội thị tộc, cuộc
sống định cư giúp cho con người dần dần nhận thức được sự chết và từ đó
nảy sinh quan niệm “linh hồn” tư tưởng vạn vật có linh hồn biến hoá thành
đa thần luận việc thờ cúng vật tổ biến thành việc thờ cúng tổ tiên. Người
nguyên thuỷ Vịêt Nam đã sống trong cuộc sống bình đẳng nên họ quan niệm
những thành viên của thế giới cõi thần cũng đều bình đẳng. Thần trong thần
thoại là những hiện tượng tự nhiên được hình tượng hoá hoặc những anh
hùng lao động có công với thị tộc, được thị tộc thần thánh hoá mà tạo nên.
Mưa, gió, sấm, sét…được thần thánh hoá thành các truyện thần Mưa, thần
Gió, thần Sấm, thần Sét. Nhân vật thần thường có hình dạng dị hình nhưng
lại chất phác, hồn nhiên, bình đẳng, thể hiện cuộc sống của con người chưa
phân chia giai cấp”.

8



thức”. Tuy nhiên nghệ thuật đó được người xưa thể hiện qua hình tượng các
thần như thế nào thì tác giả chưa bàn tới.

9


Kho¸ luËn tèt nghiÖp

SV:

NguyÔn ThÞ H¹nh

5.5. Năm 1997, trong cuốn Giáo trình văn học dân gian Việt Nam tác
giả Đinh Gia Khánh khi bàn về hình tượng các thần trang 273 tác giả cho
rằng: “bên cạnh vật tổ, thì mọi lực lượng thiên nhiên mà người ta không hiểu
được, không chi phối được, đều có thể là thần, nghĩa là có sức mạnh vượt ra
ngoài khuôn khổ bình thường, ra ngoài sự tưởng tượng của con người. Thần
có thể đem lại sự may mắn, mà cũng có thể đem lại nỗi rủi ro cho con người.
Thần có thể thiện và cũng có thể ác, có khi dịu hiền nhưng thường thì uy
nghiêm và lắm khi lại giận dữ thậm chí thích trả thù. Con người ta không thể
lường được công việc của thần, lại càng không thể chống lại thần, mà chỉ có
cách quy phục, sùng bái. Tôn giáo nguyên thuỷ vì thế mà phát sinh. Thần
thoại phản ánh nhận thức của người xưa về thế giới. Nhận thưc ấy có phần
chính xác và có phần sai lệch. Vì vậy, bên cạnh những yếu tố duy vật, yếu tố
hiện thực, thần thoại còn mang những yếu tố của tôn giáo nguyên thuỷ… Đó
là mặt tiêu cực của thần thoại, không thể không vạch ra”.
Như vậy, tác giả Đinh Gia Khánh đã cho chúng ta thấy: các vị thần
cũng mang đặc điểm tính cách của con người. Tuy nhiên tác giả vẫn chưa cụ
thể hoá phần “nhân tính” trong mỗi vị thần được thể hiện như thế nào. Thần
chính là hiện thân của lực lượng tự nhiên. Và người xưa hiểu rằng thiên nhiên

Thị Bích Hà khi bàn về thần thoại trang 19 có viết “Hình tượng thần trong
thần thoại chính là sự sáng tạo nghệ thuật vô ý thức phản ánh một cách chân
thực nhận thức thế giới của người xưa. Thông qua hàng loạt những hình
tượng thần, người ta có thể hiểu được quan niệm thực tế và quan niệm thẩm
mỹ của họ”. Trang 33 tác giả khẳng định: “Trong những câu chuyện thần
thoại, hình tượng thần là hình tượng trung tâm của sự sáng tạo nghệ thuật
của thần thoại”. Trang 35 tác giả nhấn mạnh: “Hình tượng thần trong thần
thoại mang những nét nguyên sơ của sự sáng tạo nghệ thuật, nó vừa hồn
nhiên mộc mạc, vừa kỳ lạ phóng khoáng. Nó vẫn có thực nhưng vẫn đầy hấp
dẫn bởi tính chất trẻ trung, mạnh mẽ của thời đại mà sức mạnh của con người
chưa bị xiềng xích bởi trật tự xã hội. Thần chính là những phác thảo đầu tiên
và vô cùng quý giá của những nhân vật văn học sau này”.
Tác giả đã viết rõ ràng về hình tượng thần. Tuy nhiên tác giả mới chỉ
dừng lại ở việc liệt kê về ngoại hình, chức năng, hành trạng các thần mà chưa
phân tích sâu sắc.

11


Kho¸ luËn tèt nghiÖp

SV:

NguyÔn ThÞ H¹nh

Trên đây là những gợi ý quý báu để chúng tôi thực hiện và mở rộng đề
tài này.

12


– Thuỷ Tinh”. Nhân vật thần thoại” [4;893].
Tác giả Đinh Gia Khánh thì cho rằng thần thoại là những tác phẩm văn
học xuất hiện sớm nhất. Ở nước ta, “Thần thoại đã nảy sinh từ cuộc sống của
người nguyên thuỷ và phát triển theo yêu cầu của xã hội Lạc Việt” [5;274].

13


Kho¸ luËn tèt nghiÖp

SV:

NguyÔn ThÞ H¹nh

Tác giả Trần Gia Linh thì định nghĩa: “ Thần thoại là những truyện cổ
có yếu tố hoang đường về các vị thần hoặc những con người, con vật mang
tính thần kỳ, sản phẩm của trí tưởng tượng hồn nhiên, bay bổng của người
viễn cổ sáng tạo ra để giải thích thế giới tự nhiên và đời sống xã hội” [7;4].
Cũng trong cuốn sách này, Trần Gia Linh nói về khái niệm thể loại thần
thoại như sau: “Trong thời bình minh của lịch sử nhân loại, trình độ sản xuất
và sự hiểu biết các hiện tượng tự nhiên của con người còn rất thấp. Sông dài,
núi cao, mưa to, gió lớn đối với người xưa là những điều bí mật vô cùng. Khi
thì những hiện tượng đó tạo thành những điều kiện thuận lợi cho sản xuất.
Khi thì lại trở thành những khó khăn, nguy hiểm đe doạ cuộc sống, gây cho
con người cái cảm giác “Sợ hãi, ngạc nhiên, kính phục”, buộc họ phải tìm
hiểu và giải thích. Trí tưởng tượng đóng vai trò quan trọng trong việc hình
thành thần thoại” [7;4,5].
Trong sách Về văn học nghệ thuật Mác viết: “Bất cứ truyện thần thoại
nào cũng dùng tưởng tượng, mượn tưởng tượng để chinh phục, chi phối tự
nhiên, đem tự nhiên mà hình tượng hoá” [10;100].

“thần” có tên trong lịch sử nhiều hơn và cố uốn nắn những chỗ thần kỳ trong
thần thoại theo nhân tích, do vậy thần thoại Việt Nam biến tướng khá nhiều.
Theo cách hiểu thông thường của người Việt Nam hiện nay “thần” phức tạp
về tính chất và mà lại phong phú về số lượng. Thần thời nguyên thuỷ, thần
thời phong kiến, thần cõi người, thần cõi âm ty lẫn lộn…rất khó phân biệt.
Sự thật người Việt trong thời kỳ đầu của chế độ cộng sản nguyên thuỷ
vì sống phiêu bạt, vô định nên chưa nhận được cái “chết”, chưa có quan niệm
linh hồn sau khi chết. Trong đầu óc người Việt viễn cổ người và vật lẫn lộn.
Về sau trong xã hội thị tộc cuộc sống định cư giúp cho con người nhận thức
được sự chết và từ đó nẩy sinh quan niệm “linh hồn” tư tưởng vạn vật có linh
hồn biến hoá thành đa thần luận.
Các tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi thì định nghĩa:
“thần thoại là thể loại ra đời và phát triển sớm nhất trong lịch sử truyện kể
dân gian các dân tộc. Đó là toàn bộ những truyện hoang đường, tưởng tượng
về các vị thần hoặc những con người, những loài vật mang tính chất thần kỳ,
siêu nhiên do con người thời nguyên thuỷ sáng tạo ra để phản ánh và lý giải
các hiện tượng trong thế giới tự nhiên và xã hội theo quan niệm vạn vật có

15


Kho¸ luËn tèt nghiÖp

SV:

NguyÔn ThÞ H¹nh

linh hồn (hay thế giới quan thần linh) của họ. Chẳng hạn thần thoại Việt (dân
tộc Kinh) có những truyện như: “Thần trụ trời”, “Rắn già rắn lột”, “Lúa
thần”, “Chú Cuội cung trăng”, “Sơn Tinh – Thuỷ Tinh”…[3;298].

SV:

NguyÔn ThÞ H¹nh

bằng đồng, người ta còn đào được ở Đông Sơn một mũi giáo bằng đồng và sắt
tiếp hợp và các vật khác bằng sắt.
Sự xuất hiện của công cụ bằng đồng đã đánh dấu bước phát triển mới,
to lớn, có ý nghĩa cách mạng trong việc tác động vào tự nhiên của con người.
Thật vậy, muốn có những công cụ bằng đồng như lưỡi giáo, mác, cày,
rìu…người Việt cổ đã phải giải quyết nhiều vấn đề kỹ thuật mà trước đây đối
với họ hoàn toàn xa lạ, đòi hỏi họ phải có sự tích luỹ khá phong phú về tri
thức. Ví dụ muốn đúc được những công cụ trên, tổ tiên chúng ta tất phải biết
cách nấu quặng đồng trong những lò luyện kim nguyên thuỷ, phải biết cách
pha chì với đồng theo một tỷ lệ nhất định để tạo thành một hợp kim mới:
đồng thau. Có được đồng và đúc nó thành những công cụ sản xuất, người Việt
Cổ đại đã phải giải quyết nhiều khó khăn cũng như đã có nhiều cống hiến
sáng tạo cho nền văn hóa chung. Đó là chưa kể con người lúc đó còn phải giải
quyết hàng loạt những vấn đề liên quan đến việc tìm kiếm và khai thác quặng
chì, đồng; vấn đề đắp lò, đóng khuôn…cho nên dù trình độ kỹ thuật đúc đồng
lúc đó còn thô sơ thế nào chăng nữa, chúng ta vẫn thấy rõ ràng với sự xuất
hiện của công cụ bằng đồng và kỹ thuật đúc đồng, sức sản xuất của xã hội đã
có những tiến bộ vượt bậc.
Nếu như trong những giai đoạn trước người ta mới biết cải biến những
vật sẵn có trong tự nhiên như cành cây, hòn đá để làm công cụ hoặc cùng lắm
mới biết nặn đồ gốm, thì bây giờ con người đã tổng hợp được tri thức, sáng
kiến của mình và vận dụng nó để chế tạo ra những công cụ tinh vi, phức tạp
như lưỡi mác, mũi tên, trống đồng…mà trước đó con người chưa bao giờ làm
được. Đối với nền sản xuất của xã hội thì tác dụng của những công cụ lao
động bằng đồng này nhất định có ý nghĩa lớn hơn, trực tiếp hơn, hiệu quả hơn
nhiều so với rìu đá, búa đá. Còn về đồ gốm thì tuy là một bước tiến quan

lại đến hôm sau. Dần dần người ta có ý niệm nuôi gia súc làm lương thực dự
trữ. Người ta ước đoán xã hội có những người chuyên làm những công cụ
bằng đồng như giáo, mác, tên, lưỡi cuốc, lưỡi cày, trống đồng…chắc rằng thủ
công nghiệp đã trở thành một ngành sản xuất độc lập. Như thế tức là công cụ
bằng đồng xuất hiện đã đẩy mạnh nền sản xuất xã hội đồng thời cũng đã mở
rộng rất nhiều phạm vi tác động vào tự nhiên của con người. Mà địa bàn hoạt
động càng được mở rộng thì lại đòi hỏi con người càng phải giải quyết nhiều

18


Kho¸ luËn tèt nghiÖp

SV:

NguyÔn ThÞ H¹nh

khó khăn, càng buộc con người phải tiến lên một bước tìm hiểu và giải thích
tự nhiên. Trong quá trình phát triển của xã hội lại đẻ ra những mâu thuẫn:
Làm thế nào để có được những mủng, những thuyền để ra khơi đánh cá? Làm
thế nào để có được lưới, làm thế nào lợi dụng được sức gió để thuyền khỏi
phải chèo, dựa vào đâu để biết được lúc nào có gió to, bão lớn để hoãn buổi ra
khơi?…
Về săn bắn và chăn nuôi cũng vậy. Khi thú vật săn được không ăn hết
phải để dành đến hôm sau, nghề chăn nuôi nguyên thuỷ ra đời thì đồng thời
cũng xuất hiện những mâu thuẫn mới trong lĩnh vực này. Làm thế nào để
thuần dưỡng động vật? Chăm nom thế nào để chúng được sinh sôi nảy nở?
Khi chúng mắc bệnh phải tìm lá gì để trị? Chăn dắt thế nào để chúng không
thất lạc? Con người tiến dần từ nông nghiệp nương rẫy đến nông nghiệp đồng
bằng. Trong quá trình đó con người phải đấu tranh với tự nhiên. Chính vì phải

rằng nó hãy còn rất sơ khai. Tất cả những yêu cầu đấu tranh sản xuất và đấu
tranh xã hội trên là cơ sở đồng thời là điều kiện quyết định sự ra đời và phát
triển của thần thoại và cũng chính vào lúc mà xã hội tiến đến giai đoạn đồ
đồng là lúc tổ tiên chúng ta có đầy đủ điều kiện chủ quan và khách quan để
sáng tác thần thoại.
Thần thoại là sản phẩm tất yếu của giai đoạn xã hội cộng sản nguyên
thuỷ đang chuyển sang chế độ nô lệ. Tóm lại ta có thể kết luận rằng mặc dầu
các truyện thần thoại đều bao trùm tính chất hoang đường, thần linh chủ nghĩa
nhưng sứ mạng chủ yếu của nó vẫn là phục vụ cho sản xuất, cho cuộc đấu
tranh chống áp bức, chống ngoại xâm. Ra đời do những nhu cầu lịch sử và
trên cơ sở một điều kiện nhất định của trình độ sản xuất, thần thoại Việt Nam
thể hiện lòng ước muốn và cố gắng tìm hiểu vũ trụ, thế giới để vươn lên trong
lao động, và đấu tranh của tổ tiên người Việt Nam chúng ta.
Như vậy có thể nói, thần thoại hình thành từ ba nguồn chủ yếu. Một là,
từ mối mâu thuẫn lớn giữa khát vọng giải thích các hiện tượng tự nhiên với
hiểu biết thấp kém về giới tự nhiên của người xưa. Hai là, từ khát vọng vươn
lên chiếm lĩnh, ngự trị thế giới tự nhiên, chinh phục sức tự nhiên của con
người. Ba là, từ khát vọng giải thích các mối quan hệ mới nảy sinh và ngày
càng đa dạng giữa con người với chính mình, với người khác, giữa cộng đồng
này với cộng đồng khác.
1.3. PHÂN LOẠI

20


Kho¸ luËn tèt nghiÖp

SV:

NguyÔn ThÞ H¹nh

người mới thực sự xuất hiện và là nhân vật trung tâm, tuy thế giới các “thần”
vẫn ngự trị. Các vị thần trong thần thoại là sản phẩm của quan niệm vạn vật
đều có linh hồn, quan niệm “thần” và người đồng hình, đồng tính...của tư duy
vốn mang những nét đặc thù của người thời cổ. Ở đây từ “thần” phải được
đặt trong dấu ngoặc kép, vì hai lẽ: 1/để tránh lẫn lộn với những khái niệm
thần, thánh, Ngọc Hoàng...của các tôn giáo đời sau và 2/ để có một tên gọi

22


Kho¸ luËn tèt nghiÖp

SV:

NguyÔn ThÞ H¹nh

chung cho cả “họ nhà thần” (chữ dùng của Nguyễn Đổng Chi) mà tên gọi cụ
thể ở các văn bản thần thoại hết sức linh tinh tuỳ theo cách gọi của các đời
sau, các địa phương, các dân tộc...và các nhà biên soạn (như ông, bà, thánh
thần, tinh...). Như vậy cần hiểu khái niệm “thần” trong thần thoại trên cơ sở
quan niệm vạn vật hữu linh của người thời cổ và tránh những suy diễn đơn
thuần dựa vào các tên gọi trong văn bản.’’ [11;72].
2.2. CƠ SỞ HÌNH THÀNH HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT THẦN TRONG
THẦN THOẠI

2.2.1. Xuất phát từ sự tôn sùng tự nhiên của dân gian.
Thần thoại ra đời trong xã hội nguyên thuỷ. Để duy trì cuộc sống người
nguyên thuỷ phải lao động sản xuất để tồn tại. Nhưng những hiện tượng liên
quan đến đời sống lại nằm ngoài tầm hiểu biết của họ. Trình độ của loài người
chưa cho phép họ hiểu được các hiện tượng ấy trong khi nhu cầu của cuộc

phối được đều có thể là thần, nghĩa là có sức mạnh vượt ra ngoài khuôn khổ
bình thường, ra ngoài sự tưởng tượng của con người. Thần có thể thiện, có thể
ác, có khi dịu hiền nhưng thường thì uy nghiêm và lắm khi lại giận dữ thậm
chí thích trả thù. Con người ta không thể lường trước được công việc của
thần, càng không thể chống lại thần mà chỉ còn cách quy phục, sùng bái các
thần. Vì thế Mác đã gắn thần thoại với thời kỳ “ thơ ấu ” của loài người, coi
đó là “nghệ thuật vô ý thức” của con người thời nguyên thuỷ và nhận định:
“thần thoại nào cũng chinh phục, chi phối và nhào nặn những sức mạnh tự
nhiên ở trong trí tưởng tượng và bằng trí tưởng tượng” [8;100].
Người nguyên thủy không thấy được rằng nguyên nhân của hiện tượng
thuỷ triều là do ảnh hưởng sức hút của mặt trăng, nguyên nhân gây ra sấm sét
là do hai luồng điện trong không gian gặp nhau gây thành tiếng nổ mà chỉ
thấy sét có sức mạnh ghê gớm như có thể đánh chết người, làm cháy nhà, đổ
cây. Và thế là các thần Biển, thần Sét đã được ra đời trong sự sợ hãi, ngưỡng
mộ sức mạnh tự nhiên của người xưa.
Không giải thích nổi hiện tượng rét tháng ba người nguyên thuỷ gán
nguyên nhân của hiện tượng trên cho một lực lượng siêu nhiên, cho Ngọc
Hoàng: “thương con, Ngọc Hoàng cho làm rét lại mấy hôm” (Nàng Bân).
Trong khi đó thực chất của hiện tượng này như sau: “Miền Bắc cực lạnh giá,
là những biển băng rộng mênh mông. Băng đóng suốt mùa đông dày hàng
chục thước...Vào khoảng cuối mùa đông đầu mùa xuân, lúc mặt trời xuất hiện

24


Kho¸ luËn tèt nghiÖp

SV:

NguyÔn ThÞ H¹nh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status