Nghệ thuật sử dụng điển tích, điển cố trong ức trai thi tập của nguyễn trãi - Pdf 32

Trường đại học sư phạm hà nội 2
Khoa Ngữ văn
***&***

Lê Thị Hạnh

Nghệ thuật sử dụng điển tích, điển cố
trong Ức trai thi tập của nguyễn trãi

Khoá luận tốt nghiệp đại học
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Hà nội - 2007

1


Trường đại học sư phạm hà nội 2
Khoa Ngữ văn

Lê Thị Hạnh

Nghệ thuật sử dụng điển tích, điển cố
trong ức trai thi tập của nguyễn trãi
Khoá luận tốt nghiệp
Chuyên ngành: văn học việt nam

Người hướng dẫn khoa học:
TH.S.- GV NGUYỄN THỊ TÍNH

Hà nội- 2007



Mở đầu
1. Lí do chọn đề tài.
1.1.Trong toàn bộ di sản văn hoá đồ sộ còn để lại đến ngày nay, thơ
chữ Hán Nguyễn Trãi được người đọc rất chú ý, đặc biệt là ức Trai thi tập.
Đặt trong tiến trình phát triển chung của văn thơ chữ Hán thời trung đại,
rõ ràng ức Trai thi tập của Nguyễn Trãi thể hiện là tập thơ lớn bộc lộ sâu
sắc tình cảm, bản lĩnh và nhân cách nhà thơ [10, 23]. Tập thơ đã được giới
phê bình, nghiên cứu quan tâm, tìm hiểu trên nhiều bình diện: nội dung và
hình thức, nghệ thuật và tư tưởng… Tuy nhiên vẫn còn rất nhiều điều đáng
nói.
1.2. Đối với độc giả nói chung cũng như các thầy cô giáo và học sinh
nói riêng, việc nắm vững thi pháp văn học trung đại trong đó có nghệ thuật
sử dụng điển tích, điển cố là điều không mấy dễ dàng. Vì vậy, chúng tôi lựa
chọn đề tài: Nghệ thuật sử dụng điển tích, điển cố trong ức Trai thi tập của
Nguyễn Trãi với mong muốn làm rõ những đặc điểm của thi pháp trung đại
qua tác phẩm được coi là đỉnh cao trong việc vận dụng ngôn ngữ nước
ngoài vào diễn tả tâm tư, tình cảm con người Việt Nam. Đồng thời chúng
tôi cũng cố gắng chỉ ra cái hay, cái đẹp, cái đặc sắc mà Nguyễn Trãi đã đạt
được khi sử dụng các điển tích, điển cố đó.
1.3. Hơn nữa, ức Trai thi tập có nhiều bài được giảng dạy ở tất cả
các chương trình từ Trung học cơ sở đến Cao đẳng, Đại học. Việc giảng
dạy và tiếp thu các bài thơ trong tập thơ này còn đòi hỏi nhiều sự tìm tòi,
khám phá của giáo viên và học sinh.
2. Lịch sử vấn đề.

5




Ngoài ra, Nguyễn Trãi còn muốn làm bạn với những người ẩn dật xa
lánh cuộc đời lầm cát bụi [5, 254] như Hứa Do, Sào Phủ. Cũng có khi
mong muốn được yên tấm thân như Trịnh Tử Chân ở ẩn tại Cốc khẩu.
Song suốt đời Nguyễn Trãi vẫn chỉ ôm mối tiên ưu, lo trước thiên hạ, vui
sau thiên hạ. Như thân ngựa già còn ham rong ruổi cho đến cuối đời
Nguyễn Trãi vẫn không quên mối tiên ưu ấy.
Tóm lại, Đinh Gia Khánh chủ yếu quan tâm đến việc vận dụng điển
tích, điển cố để thể hiện nội dung thơ văn của Nguyễn Trãi. Đó là tấm lòng
ưu ái đêm ngày cuồn cuộn nước triều đông của ngôi sao Khuê trên bầu trời
văn hoá Việt Nam.
Tôn Quang Phiệt trong bài Thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi (Báo Nhân
Dân số 3103, ngày 23- 09- 1962) có nhận xét về việc dùng điển tích, điển
cố của Nguyễn Trãi ở một khía cạnh khác: Nguyễn Trãi dùng điển tích rất
khéo, có khi người đọc dù không rõ điển tích cũng có thể hiểu nghĩa dễ
dàng [10, 358]. Để minh chứng cho nhận xét của mình, tác giả bài viết đã
lấy ví dụ câu thơ:
Thốn thiệt đãn tồn không tự tín;
Nhất hàn như cố diệc kham liên.
( Ký hữu )
(Tấc lưỡi vẫn còn, vẫn có thể tin là còn có cách nói năng xoay sở được;
Rét vẫn như cũ trông cũng đáng thương.)
Tác giả cũng chỉ ra ở đây Nguyễn Trãi đã dùng điển nói về cái lưỡi
của Trương Nghi và cái rét của Phạm Thúc.
Ngược lại với ý kiến của Tôn Quang Phiệt, Miễn Trai trong bài: Hai
cảnh ngộ, một tâm tình của nhà thơ Nguyễn Trãi lại cho rằng việc dùng
điển của Nguyễn Trãi trong thơ chữ Hán có dễ hiểu hay không lại còn tuỳ

7




cảm, cảm xúc của cá nhân đối với dân tộc, con người và thiên nhiên đất
nước. Mặc dù sử dụng những yếu tố văn học nước ngoài nhưng việc sử
dụng điển tích, điển cố của Nguyễn Trãi thấm đượm tính cách và tâm hồn
Việt.
4. Giới hạn đề tài.
4.1. Đối tượng nghiên cứu.
ở đề tài này chúng tôi không có tham vọng xem xét, nghiên cứu toàn
bộ di sản văn học đa dạng, phong phú và đặc sắc của Nguyễn Trãi, mà chỉ
tập trung đi sâu vào vấn đề sử dụng điển tích, điển cố trong ức Trai thi tập
với tư cách là tác phẩm tiêu biểu thể hiện quan niệm sống, tâm hồn thi sĩ
của người anh hùng dân tộc.
4.2. Phạm vi tư liệu thống kê.
Văn bản ức Trai thi tập mà người viết khảo sát là bản ức Trai thi tập
in trong cuốn Nguyễn Trãi toàn tập ( Uỷ ban Khoa học xã hội Việt NamViện Sử học, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 1975).
5. Phương pháp nghiên cứu.
Trong quá trình triển khai đề tài, chúng tôi sử dụng các phương pháp
nghiên cứu chính như: phương pháp khảo sát văn bản, phương pháp thống
kê phân loại, phương pháp phân tích, tổng hợp…

9


Nội dung
Chương 1:

những vấn đề chung về việc sử dụng điển tích, điển cố của văn
học trung đại việt nam.
1.1. Khái niệm điểm tích, điển cố.

tôi xin trích dẫn một số định nghĩa tiêu biểu sau:
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam (tập 1): điển cố là một biện pháp
tu từ trong văn chương cổ nhằm đạt tới cách diễn đạt mà lời ít ý nhiều bằng
việc dùng những câu chuyện xưa (trong thần thoại, truyền thuyết, kinh sử,
sự tích, sự kiện lịch sử…) thu gọn vào một từ, một nhóm từ nhằm gợi liên
tưởng mà tác giả muốn đạt tới. Ban đầu, điển cố chỉ là từ ngữ biểu thị một
sự vật, sự việc, nhân vật, sự kiện nhất định, cụ thể và chỉ có ý nghĩa thực,
sau vì được sử dụng nhiều lần, được chuyển cho một cấp độ mới là nghĩa
biểu trưng, nghĩa bóng, từ đó có thể tạo ra sự liên tưởng đến chuyện cũ,
người xưa, tuy không có ý về chuyện cũ, người xưa mà nói về chuyện trước
mắt [7, 793].
Dương Quảng Hàm trong Việt Nam văn học sử yếu định nghĩa: Điển
(nghĩa đen là việc cũ) là một chữ hoặc một câu có ám chỉ đến việc cũ, một
tích xưa khiến cho người đọc sách phải nhớ đến việc ấy, sự tích ấy mới hiểu
ý nghĩa và cái lí thú của câu văn [6, 18].
Theo Trần Đình Sử: Điển cố là sự việc, là câu chữ của tác phẩm văn
học đời trước mà người đọc cũng biết, sử dụng trong tác phẩm nhằm tăng
cường sức biểu hiện, mở rộng, đổi mới ý thơ [11, 290].
Theo Từ điển Tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học, Đà Nẵng, 2004):
Điển cố là sự việc hay câu chữ trong sách đời trước được dẫn trong
thơ văn [15, 318].

11


Điển tích là câu chuyện trong sách đời trước, được diễn lại một cách
cô đúc trong tác phẩm [15, 318].
Tuy là các định nghĩa khác nhau, nhưng vẫn tồn tại cách hiểu chung
nhất về điển tích, điển cố. Các ý kiến này vẫn thống nhất ở chỗ cho điển
tích, điển cố là những tích chuyện, những câu, những từ cũ được sử dụng

Thái là chữ mượn trong Kinh thi của văn học Trung Hoa. Điềm bi tức diễn
tả giấc chiêm bao thấy con gấu để nói điềm sinh con trai. Điển cố dẫn
người đọc vào một thế giới cổ xưa để họ liên tưởng, khái quát cho nhiều ý
nghĩa về hình ảnh mà điển cố đã nêu ra.
Không chỉ có vậy, điển cố có thể mang nhiều ý nghĩa khác nhau,
khái quát cho nhiều tính chất rất khác nhau. Chẳng hạn câu chuyện họ Hoà
dâng ngọc cho vua nước Sở trở thành điển cố mang rất nhiều ý nghĩa được
các nhà văn nhà thơ vận dụng rất linh hoạt: nói về cái đẹp, ca ngợi phẩm
chất thuần phác, chân thành của con người, ca ngợi kẻ sĩ có tài, chỉ lòng
trung thành mà bị nghi ngờ phải chịu tội oan… Về cái đẹp, Tào Thực đời
Tam Quốc trong Hiến bích biểu có câu: Phục tri sở tiến chi Hoà thị chi
phác (Được biết vật dâng lên không phải là ngọc họ Hoà); hay chỉ tấm lòng
trung thành mà bị tội oan: Lý Bạch đời Đường trong Cổ phong có câu: Bão
ngọc nhập Sở quốc, kiến nghi cổ sở văn. Lương bảo chung kiến khí, đồ bao
tam hiến quân. (Ôm ngọc vào nước Sở bị nghi ngờ. Ngọc quí cuối cùng bị
vứt bỏ, mà cực khổ ba lần dâng vua). Bão ngọc nhập Sở quốc chỉ họ Hoà
tìm được ngọc ở trong núi đem dâng vua Sở, dù không được vua xem trọng
và bị oan, phải bị tội chặt chân đến hai lần, vẫn tiếp tục đến dâng ngọc quí
giống như kẻ bề tôi một lòng kiên định, hết lòng hiến dâng tình cảm ấy cho
vua [6, 36]. Như vậy, câu chuyện họ Hoà dâng ngọc cho vua đã trở thành
điển cố nổi tiếng trong văn học cổ.
Hình thức phong phú chứa đựng trong một nội dung nhất định đã tạo
nên những ý nghĩa độc đáo khác nhau của điển cố. Với lối cấu trúc đặc

13


biệt, điển cố vừa mang chức năng nhận thức, vừa mang chức năng biểu
cảm, tạo sự liên tưởng hấp dẫn, biểu hiện tâm hồn tác giả, gợi cảm, nâng
cao nhận thức cho người đọc [6, 38]. Có được sự hấp dẫn đó là do điển cố

Khi điển cố được đặt vào một ngữ cảnh nhất định thì tự nhiên nó sẽ có biểu
hiện ý nghĩa phong phú, hình ảnh cụ thể được nó gợi ra sẽ nhanh chóng
hình thành trong óc người đọc. Chẳng hạn câu nói của Thuý Kiều khi chàng
Kim “Xem trong âu yếm có chiều lả lơi”:
Trong khi chắp cánh liền cành,
Mà lòng rẻ rúng đã dành một bên.
Truyện Kiều - Nguyễn Du
Cụm từ chắp cánh liền cành là điển lấy trong bài Trường hận ca của
Bạch Cư Dị đời Đường nói về việc vua Đường Minh Hoàng và Dương Quý
Phi nguyện ước với nhau. Cụm từ này gợi cảnh ái ân của trai gái. Đây là lời
của Thuý Kiều, một cô gái có học thức, con nhà gia giáo nên rất phù hợp.
Không cần phải nói trắng ra nhưng người đọc ai cũng hiểu. Ngay khi sự
liên tưởng diễn ra trong óc người đọc thì điển cố lập tức được lĩnh hội với
tư cách là những hình ảnh sinh động, cụ thể, gợi cảm và hấp dẫn. Như câu:
Muôn hồng nghìn tía đua tươi,
Chúa xuân nhìn hái một hai hoa gần.
(Cung oán ngâm khúc- Nguyễn Gia Thiều)
Muôn hồng nghìn tía đua tươi là câu thơ mượn từ câu thơ Đường
Vạn tử thiên hồng tổng thị xuân (Muôn hồng nghìn tía thảy là xuân) chỉ vô
số bông hoa tươi đẹp. Từ hình ảnh này người đọc sẽ liên tưởng đến các
cung nữ xinh tươi trong chốn cung cấm đẹp rạng ngời như ngàn hoa khoe
sắc thắm. Thế nhưng chúa xuân ở đây là vua chỉ chọn ra một vài bông hoa
trong số cả vườn hoa đẹp ấy. Điển cố làm nổi bật cái bẽ bàng của đời người
con gái trong chốn thâm cung.

15


Như vậy, bằng tính liên tưởng, điển cố kích thích sự tưởng tượng và
liên tưởng của người đọc. Đằng sau lớp vỏ từ ngữ là cả một cuộc sống sinh

sánh nhưng nó được biểu hiện ở nhiều dạng thức với nhiều ý nghĩa rất khác
nhau. Chính tính chất này của điển cố đã tạo nên sức mạnh của câu thơ, câu
văn cả về diễn đạt cũng như biểu cảm. Vì vậy, hình thức thể hiện đa dạng
và linh hoạt của điển cố là yếu tố quan trọng góp phần hoàn thiện khả năng
liên tưởng, tưởng tượng.
Sự thể hiện đa dạng của điển cố có nhiều màu vẻ nhưng thể hiện rõ
nhất ở hai điểm lớn: Một là, điển cố có cùng ý nghĩa được nhiều người
dùng với nhiều hình thức khác nhau; hai là, điển cố có cùng ý nghĩa nhưng
được biểu hiện bằng cách thay đổi một số yếu tố từ vựng [6, 40].
Cũng nhờ vào tính đa dạng và linh động, điển cố có thể biểu hiện
một cách phong phú, sinh động mọi mặt của đời sống từ cụ thể đến trừu
tượng, từ vật chất đến tinh thần. Một điển cố có thể biểu hiện nhiều ý nghĩa
từ khẳng định đến phủ định, từ so sánh, phê phán đến ngợi ca… Có thể
thấy rõ điều này khi xem xét điển cố về việc họ Hoà dâng ngọc cho vua
nước Sở: Tào Thực đời Tam Quốc trong Hiến bích biểu có câu Phục tri sở
tiến phi Hoà thị chi phác( Được biết vật dâng lên không phải ngọc họ Hoà)
nhằm chê vật được dâng lên không đẹp; nhưng Dữu Bao đời Đường trong
Ngoạ a hỉ tễ khai phi vọng nguyệt giản cung nội tri hữu có câu Hốt đối
Kinh sơn bích, uy chiếu việt ngâm nhân (Bỗng đối trước hạt ngọc Kinh
Sơn, chiếu sáng cả người ngâm thơ) nhằm chỉ mặt trăng, so sánh ánh sáng
của vầng trăng sáng trong đẹp đẽ như viên ngọc… Ngoài ra chỉ với điển
này người ta còn dùng để nói về vẻ đẹp của tài năng, của sự trung trinh báo
quốc, để ca ngợi kẻ sĩ có tài hay nói lên nỗi oan ức của con người một lòng
trung thành mà bị nghi ngờ… Vì vậy, điển cố có khả năng hoạt động mạnh,
tồn tại trong nhiều hoàn cảnh rất khác nhau, làm phong phú thêm vốn văn
chương.

17




gũi với cuộc sống của họ; bên cạnh đó, việc sử dụng các tích chuyện của
điển cố sẽ giúp cho việc cảm nhận câu văn câu thơ thêm phần sâu sắc. Điển
cố có nguồn gốc từ kinh, sử, truyện chủ yếu được dùng để nói về tài năng,
sắc đẹp, thân thế, tình yêu, hôn nhân… của con người.
Nói sắc đẹp của người phụ nữ, người xưa thường dùng các tích:
nghiêng nước, nghiêng thành; chim sa, cá lặn (cá nhảy)… Ví dụ trong
Truyện Kiều, Nguyễn Du miêu tả vẻ đẹp sắc sảo mặn mà của Thuý Kiều
bằng câu thơ Một hai nghiêng nước nghiêng thành; trong Sơ kính tân
trang vẻ đẹp của nàng Quỳnh Thư được Phạm Thái miêu tả là nét đẹp:
Chiều cá nhảy, vẻ nhạn sa.
Hoặc khi nói về đạo làm con đối với cha mẹ người xưa thường dùng
các điển như: tử phần, xuân huyên, sân Lai, gốc tử, ả Lý, nàng Oanh…
Chẳng hạn trong Truyện Kiều, Nguyễn Du viết:
Dâng thư đã thẹn nàng Oanh,
Lại thua ả Lý bán mình hay sao?
và:
Sân Lai cách mấy nắng mưa,
Có khi gốc tử đã vừa người ôm…
nhằm chỉ tấm lòng hiếu thảo của Kiều đối với cha mẹ trong những hoàn
cảnh khác nhau.
Như vậy, điển cố xuất hiện khá nhiều trong kinh, sử, truyện và trở
thành nguồn tư liệu quí giá cho các nhà văn, nhà thơ sử dụng trong sáng tác
của mình.
1.2.2. Từ thơ ca.
Theo các nhà nghiên cứu, vì những lí do khác nhau, điển cố
xuất hiện trong thơ ca ít hơn so với kinh, sử, truyện. Tuy nhiên không phải
thời nào, lúc nào nó cũng ít hơn. Sự chênh lệch này phụ thuộc vào đối

19

20


tác giả, không nên chỉ chú ý đến nguồn gốc của điển cố mà cần đánh giá
xem việc dùng các điển tích, điển cố có phù hợp không? có sáng tạo gì đặc
sắc không? Đây cũng là mục đích chúng tôi đặt ra khi nghiên cứu đề tài
này. Khi các tác giả sử dụng hợp lí, sáng tạo các điển tích, điển cố sẽ tạo
nên hình ảnh đẹp đẽ, tính hấp dẫn cho lời văn câu thơ. Điều này cũng góp
phần làm nên giá trị cho tác phẩm. Dùng điển như hoà muối vào trong
nước làm sao chỉ thấy vị muối mà không thấy chất muối (Viên Mai - Trung
Quốc).
1.3. Việc sử dụng điển tích, điển cố trong văn học trung đại.
Sự hình thành, tồn tại và phát triển của điển cố phụ thuộc vào rất
nhiều yếu tố từ hoàn cảnh lịch sử, triết học đến các yếu tố về tâm lí, thẩm
mỹ của mỗi quốc gia, dân tộc. Điển cố là một trong những thủ pháp nghệ
thuật đặc thù tạo ra tính phong phú, đa dạng của lời nói. Nó còn là một
dạng thức độc đáo để biểu thị tư tưởng, tình cảm và xây dựng hình tượng
trong nghệ thuật. Tính phong phú, linh động về hình thức, nội dung và ý
nghĩa của điển tích, điển cố đã tạo thêm sức mạnh diễn đạt cho câu thơ, lời
văn. Vì vậy, điển cố là một trong những thủ pháp nghệ thuật quan trọng
không chỉ được ưa dùng ở phương Đông mà cả ở phương Tây.
1.3.1. ở phương Tây, Hy Lạp được coi là mảnh đất sản sinh ra nhiều
loại hình văn hoá phát triển rực rỡ từ hội hoạ, điêu khắc, kiến trúc… cho
đến văn học. Những thành tựu văn hoá đặc sắc về văn học nghệ thuật chính
là nguồn gốc nảy sinh của điển cố, điển tích. Thần thoại Hy Lạp, bản anh
hùng ca nổi tiếng Iliat và Ôđixê của Hôme là nguồn cung cấp điển cố
phong phú không chỉ đối với nền văn học Hy- La mà còn ảnh hưởng rộng
lớn đến cả nền văn học của Anh, Pháp, Nga… sau này ở thời kì Phục hưng,
Cổ điển và văn học khai sáng…



22


nôi của văn học cổ phương Đông với sự ra đời của triết học cùng nhiều
ngành nghệ thuật khác, có nhiều tư tưởng, kinh nghiệm sống phong phú…
Những tác phẩm đầu tiên cung cấp điển cố cho đời sau có thể kể đến
là Kinh Thi, Kinh Dịch… Các hình ảnh, tiêu đề của các bài ca trong Kinh
Thi, các quẻ trong Kinh Dịch đã trở thành hình ảnh, từ ngữ quen thuộc để
người đời sau sử dụng khi nói đến các vấn đề trong cuộc sống hằng ngày.
Đào yêu, Bách chu… hay Càn khôn là những từ ngữ, hình ảnh rất hay được
nhắc tới trong văn thơ đời sau. Người Trung Hoa rất coi trọng việc sử dụng
điển cố. Trong một thời gian dài, họ coi việc sử dụng điển nhiều hay ít là
một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá giá trị của tác phẩm và tài
năng của tác giả. Quan niệm đánh giá này xuất phát từ quan niệm sùng cổ
của người phương Đông. Khổng Tử nói: Thuật nhi bất tác, tín nhi hiếu cổ
(thuật lại chứ không sáng tạo, tin tưởng và ưa chuộng cái cũ) [6, 47].
Chúng ta cũng nhận thấy rằng kho điển cố của Trung Quốc vô cùng
phong phú và đa dạng. Nói đến tình yêu nam nữ, nhân duyên vợ chồng có
các điển: nguyệt lão, xích thằng, tơ hồng, chỉ đỏ… Nói đến việc kén rể có:
bình phong bắn sẻ, mắt sẻ, bắn sẻ… Nói đến tình cảm bạn bè tâm giao, tri
kỉ có Bá Nha- Tử Kì… Nói đến sự trung thành của kẻ bề tôi đối với đấng
quân vương có Tử Mỹ, Y Doãn… Nói đến lòng hiếu thảo của con cái đối
với cha mẹ có ả Lý, nàng Oanh, Sân Lai, gốc tử…v.v… Mọi mặt của đời
sống, muôn hình, muôn vẻ của tài năng, cá tính con người đều có thể lấy
điển cố để so sánh.
Nghệ thuật sử dụng điển cố ở Trung Quốc đã xuất hiện từ rất lâu đời
và rất được coi trọng. Ngay từ thời Nam Bắc Triều, Lưu Hiệp trong Văn
tâm điêu long, chương Sự loại cho rằng: Cho nên sự là quan trọng, tuy kết
quả không nhiều, nhưng ví như cái chốt xe một tấc mà khống chế cả bánh

những vốn liếng ấy cho phù hợp với suy nghĩ, tính cách, tâm hồn Việt
Nam. Có thể kể điển một số tác giả được xem là người vận dụng thành

24


công và sáng tạo điển tích, điển cố của văn học Trung Quốc vào văn học
Việt Nam như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du…
Điều quan trọng ở đây là việc đi tìm đáp án cho câu hỏi tại sao điển
tích, điển cố lại được sử dụng phong phú trong văn học ta đến vậy? Điển cố
nếu không phù hợp với tư duy và phong cách sáng tác của người Việt ta
xưa kia thì chắc chắn đã không còn tồn tại trong các tác phẩm văn học quá
khứ [6, 64]. Với tính khái quát, tính hình tượng, tính liên tưởng, tính cô
đọng - hàm súc, tính đa dạng và linh hoạt, điển cố tạo ra một thế giới vô
cùng phong phú, đa dạng trong trí tưởng tượng của người đọc, người nghe.
Tiếng Việt của ta lại có khả năng diễn đạt khái quát cao do cấu trúc đa dạng
về ngữ pháp, phong phú về thanh điệu, giàu nhạc điệu nên điển cố khi vào
nước ta đã được các tác giả khai thác, biến hoá cho phù hợp với cách cảm,
cách nghĩ của người Việt. Nước ta là một quốc gia phương Đông, tiếp nhận
tư tưởng của phương Đông truyền tới, đặc biệt là tư tưởng Nho gia vốn gần
gũi với cách cảm, cách nghĩ của người Trung Quốc vì nó ra đời, phát triển
sâu rộng ở Trung Quốc. Việt Nam cũng ảnh hưởng của quan niệm sùng cổ
mà Khổng Tử đã đặt ra trong tư tưởng của mình. Bên cạnh đó, dùng điển cố
thể hiện được sự uyên bác của người sáng tác cũng như tính chất trang
trọng, bác học của tác phẩm. Điển cố còn có nét đẹp của sự giản ước: cả
một câu chuyện trong đời sống văn hoá, tư tưởng, lịch sử, cả một sự kiện có
ý nghĩa bài học kinh nghiệm… được thâu tóm trong một vài từ, một câu
thơ… tạo nên vẻ đẹp ý tại ngôn ngoại – lời ít mà ý mênh mông cho câu
văn, lời thơ.
Ngoài ra, việc điển cố tồn tại và được sử dụng phong phú còn dựa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status