Nghệ thuật sử dụng điển cố trong quốc âm thi tập của nguyễn trãi - Pdf 32

Trường đại học sư phạm Hà Nội 2
Khoa Ngữ văn
***&***

Đào Thị Hương Thu

Nghệ thuật sử dụng điển cố trong Quốc
âm thi tập của Nguyễn Trãi

Khoá luận tốt nghiệp đại học
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Hà nội - 2007

- 1 -


Trường đại học sư phạm Hà Nội 2
Khoa Ngữ văn
Đào Thị Hương Thu

Nghệ thuật sử dụng điển cố
trong quốc âm thi tập
của Nguyễn Trãi
Khoá luận tốt nghiệp đại học
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Người hướng dẫn khoa học
Th.s Nguyễn Thị Tính

Hà nội – 2007


Xuân Hoà, tháng 5 năm 2007

Sinh viên

Đào Thị Hương Thu - K29A

- 4 -


- 5 -


Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
1.1

Nguyễn Trãi (1380 - 1442) là nhân vật đặc biệt của dân tộc

Việt. Ông là một con người toàn tài hiếm có: là anh hùng giải phóng dân
tộc, danh nhân văn hoá thế giới, là nhà quân sự, chính trị, ngoại giao lỗi lạc,
là nhà sử học, địa lý học xuất chúng và là một tác gia văn học lớn. Trong
lĩnh vực nào Nguyễn Trãi cũng có đóng góp xuất sắc. Về hoạt động xã hội,
ông là bậc khai quốc công thần một lòng xây đắp vương triều họ Lê trong
buổi ban đầu [10;11] . Về hoạt động văn học, ông là cột mốc sáng chói đầu
tiên của nền văn học Việt Nam. Văn chương Nguyễn Trãi có giá trị vô cùng
to lớn. Ngô Thế Vinh cho rằng: ―Văn chương có đủ sức sửa sang việc đời
thì mới đáng lưu truyền ở đời. Trong nền văn hiến nước ta, ức Trai tiên
sinh chính là người có thứ văn chương ấy” [10;48]. Những sáng tác của
ông có ý nghĩa mở đường trong tiến trình phát triển của lịch sử văn học

[10;737]. Tầm vóc của nó là căn cứ để Xuân Diệu khẳng định: “đứng trong
phạm vi thể loại thi tiếng Nôm thì có bản lĩnh nhất là Hồ Xuân Hương và
Nguyễn Trãi” [10;595].
Hơn nữa, Quốc âm thi tập là tập thơ có một số bài thơ được chọn
dạy trong chương trình trung học. Vì vậy ,việc làm rõ mọt trong các đặc
trưng thi pháp của văn học trung đại trong tác phẩm để hiểu được nó một
cách toàn diện hơn là điều hết sức cần thiết.
2. Lịch sử vấn đề
Tìm hiểu về điển cố nói chung là vấn đề được quan tâm từ khá
lâu nhưng rất ít công trình nghiên cứu nó một cách có hệ thống. Hầu hết các
nhà nghiên cứu khi nói về điển cố đều chỉ xem nó là một đặc trưng thi pháp
của văn chương cổ nên dành cho nó vị trí khá khiêm tốn. Bù lại, thuật ngữ

- 7 -


điển cố lại xuất hiện trong nhiều bài viết, được nhắc tới trong nhiều cuốn
sách, có thể kể đến như :
1. Việt Hán văn khảo của Phan Kế Bính. Khi bàn Luận về phép làm văn
(1918) có đề cập đến ý nghĩa của phép dùng điển: ―Dùng điển là tìm những
điển tích cũ, có điều gì liên quan đến đầu bài thì dùng mà đặt câu, tức là
viện chứng mà tỏ ra sự thực. Và làm văn chương tất phải dùng điển tích thì
đặt câu mới gọn gàng, tròn trặn.‖
2. Dương Quảng Hàm- Việc dùng điển trong văn thơ, Văn học tạp chí, số
2 (6.1932) cho rằng nên dùng điển cố từ nguồn văn liệu dân tộc thay vì
nguồn văn liệu Hán học để làm cho người đọc ―nghĩ ngợi, nhắc nhở đến
câu thơ, câu văn xưa mà chứng minh rằng văn chương nước mình có điển
cố‖
3. Dương Quảng Hàm- Việt Nam văn học sử yếu, chương ―Tính cách
chính của các tác phẩm về văn chương: các điển cố‖ (1968) đã bổ sung

viết về thơ Nôm Nguyễn Trãi, chúng tôi chỉ thấy có một lần vấn đề điển
tích, điển cố được nhắc tới: ―Ngoài ra trong Quốc âm thi tập, ta thấy có rất
nhiều điển tích, những danh từ trong kho tàng văn học Trung Hoa‖
[10;960]
Tuy vậy, những gì các tác giả chỉ ra đã giúp chúng tôi có được cái nhìn
đa chiều về tác phẩm. Trong khoá luận này tôi có tham khảo nhiều ý kiến
của các nhà nghiên cứu để làm sáng tỏ hơn vấn đề được tìm hiểu.
3. Mục đích nghiên cứu
Thông qua việc nhận diện và phân tích các điển cố mà Nguyễn Trãi sử
dụng trong Quốc âm thi tập, người viết muốn làm rõ một trong các đặc
trưng thi pháp của văn học trung đại Việt Nam ở một tác phẩm có vị trí đặc
biệt quan trọng - vị trí mở đầu cho bộ phận văn học viết bằng chữ Nôm của
văn học Việt Nam.

- 9 -


Đồng thời người viết muốn chỉ ra những nét độc đáo, đặc sắc trong
nghệ thuật sử dụng điển cố của Nguyễn Trãi ở một số mảng đề tài lớn.
4. Đối tượng nghiên cứu
Do khuôn khổ, giới hạn của khoá luận tốt nghiệp, chúng tôi tập trung
nghiên cứu nghệ thuật sử dụng điển cố ở các đề tài: về nhân vật lịch sử, về
các triều đại lịch sử, hệ thống quan niệm và các đề tài khác.
5. Phạm vi thống kê tư liệu
ở đề tài này, chúng tôi chỉ đi sâu nghiên cứu tác phẩm Quốc âm thi tập
chứ không tìm hiểu toàn bộ di sản văn học đồ sộ của Nguyễn Trãi. Văn bản
thơ Nôm mà chúng tôi sử dụng để khảo sát và thống kê số liệu là cuốn: Thơ
Quốc âm Nguyễn Trãi do Bùi Văn Nguyên biên khảo, chú giải và giới
thiệu, Nxb Giáo dục, 2003.
6. Phương pháp nghiên cứu

để đưa vào văn chương làm cho câu văn hàm súc ngắn gọn, lời ít ý nhiều‖
[9;3].

- 11 -


Các tác giả biên soạn cuốn Từ điển văn học Việt Nam từ nguồn gốc
đến hết TKXIX trong mục điển cố có trình bày: ―…trong hành văn thường
hay nhắc đến một sự tích xưa hoặc một vài câu thơ, câu văn cổ để diễn tả ý
mình, nhưng đây không phải là lối trích dẫn nguyên văn, mà là lối dùng lại
vài chữ cốt gợi nhớ được đến tích cũ ấy, câu văn cổ ấy. Lối này được gọi là
lối dùng điển cố‖ [1;144]. Các tác giả còn chỉ ra phép dùng điển cố chia
làm hai loại: phép dùng điển và phép lấy chữ.
Dùng điển (chữ Hán: dụng điển- dụng: vận dụng; điển: việc cũ hoặc sử
sự,khiến việc) ý nói sai khiến các tích cũ, chuyên xưa cho thích dụng với
mạch văn của mình.
Lấy chữ là lối mượn dùng lại một vài chữ trong các áng văn thơ cổ vào
câu văn của mình, gợi cho người đọc phải nhớ đến câu thơ, câu văn ở tác
phẩm của người xưa.
Có thể thấy, về mặt định nghĩa không có sự bất đồng ý kiến giữa các
nhà nghiên cứu. Chúng tôi cho rằng các định nghĩa về điển cố, tiêu biểu là
ba định nghĩa đã dẫn ra có sự bổ sung cho nhau, không chỉ nói được bản
chất mà còn thể hiện được giá trị của điển cố . Đối với văn học trung đại
Việt Nam, việc sử dụng điển cố không chỉ là một yếu tố thuộc về hình thức
mà còn là cái hình thức có tính nội dung. Nói khác đi, nó không chỉ là biện
pháp tu từ phổ biến mà còn là đặc trưng thi pháp của văn học Việt Nam
trong suốt một thời gian dài.
Về mặt định danh, điển cố được diễn đạt bằng nhiều tên gọi như: cố
điển, điển cố, sự, điển, cố sự, dụng điển, vận điển, điển tích….Trong đó,
khái niệm điển tích, điển cố được sử dụng phổ biến hơn cả. Tìm hiểu kĩ

(Quốc âm thi tập - Nguyễn Trãi)
để nói về sự hư ảo của công danh phú quý. Hàm chứa trong ba chữ giấc
Hoè An là một câu chuyện có giá trị tư tưởng sâu sắc. Dị văn lục ghi rằng:
Phía nam nhà Thuần Vu Phần có cây hoè to. Thuần thường uống rượu bên

- 13 -


dưới. Một lần say rượu, nằm ngủ mơ thấy hai sứ giả mặc áo tím đến mời tới
nước Hoè An. Đến nơi thấy một cửa thành lớn đề chữ Hoè An quốc. Thuần
được vua gả công chúa cho và được phong là thái thú quận Nam Kha.
Thuần tỉnh dậy, chẳng thấy gì, chạy ra gốc cây hoè thấy có một tổ kiến lớn.
Bên trên tổ kiến về phía nam có cây lá rườm rà (nam kha). Té ra đời làm
quan hiển vinh phú quý chỉ có trong mộng.
Với phép lấy chữ, nguồn dẫn điển chính là thơ ca của tiền nhân hoặc
những câu ca dao, tục ngữ giàu tính biểu tượng được lưu truyền đã nổi
tiếng. Các điển loại này được hình thành trên cơ sở rút gọn câu văn hoặc
bài thơ, bài văn. Từ một câu, một bài, người ta sẽ thu gọn vào trong một vài
từ. Khi nhắc đến những từ này, người ta sẽ nghĩ ngay tới những câu, những
văn bản gốc.
Bài Thuật hứng 17 có câu:
Diếp huyện hoa còn quyến khách
Rày biên tuyết đã nên ông
(Quốc âm thi tập- Nguyễn Trãi)
Biên tuyết (có nghĩa là mái tóc bạc trắng như tuyết) là điển cố được hình
thành từ việc rút ý câu thơ: ―…triêu như thanh ti, mộ như tuyết‖ (sáng còn
xanh tơ, chiều đã như tuyết) của Lý Bạch trong bài Tương tiến tửu.
Sự rút gọn câu thơ, bài thơ thành một vài từ không chỉ biến nó thành
điển cố - một hiện tượng tưởng như khách quan mà ít nhiều còn thể hiện cá
tính sáng tạo của cá nhân tác giả. So với điển cố được hình thành từ việc rút

bao trùm đối với các nền văn học khác. Trong những nước chịu ảnh hưởng
của văn học Trung Quốc, Việt Nam không chỉ bị ảnh hưởng trong một thời
gian dài mà còn với một cường độ rất mạnh. Nền văn học Trung Hoa đã
―sản sinh’’ ra nhiều phép tắc cho văn chương nghệ thuật, là quê hương của
điển cố và nghệ thuật sử dụng điển cố. Văn học Việt Nam không thể không

- 15 -


bị tác động bởi yếu tố này. Như vậy nguyên nhân chính của việc sử dụng
điển cố trong văn học trung đại Việt Nam là do ảnh hưởng của văn hoá,
văn học Trung Hoa.
Điển cố và sử dụng điển cố là hiện tượng có tính chất thời đại. Nó bắt
đầu sớm và kết thúc khi lịch sử đóng những chiếc đinh cuối cùng lên quan
tài đưa chế độ phong kiến vào quá khứ. Văn học hiện nay rất ít thậm chí
không dùng điển. Điển cố gắn liền với quan điểm thẩm mĩ mà quan điểm
thẩm mĩ của người trung đại: ―Cái đẹp gắn liền với cái đã có, với truyền
thống, với những mẫu mực đã được xác lập, thấm sâu cả trong khâu sáng
tác cũng như khâu tiếp nhận” [18;17]. Điều này bắt nguồn từ ý thức xã hội.
Gurêvich cho rằng: ―Tĩnh tại là một nét của ý thức trung cổ… Thời trung cổ
ý thức con người hưóng về quá khứ…thời hoàng kim là ở thời đại đã qua
[13;36]. Thời trung cổ, sự lặp lại ý kiến của những uy quyền cổ xưa được
xem như phẩm giá, còn việc biểu hiện những tư tưởng mới lại bị lên án…ăn
cắp văn thì không sao cả nhưng sáng tạo độc đáo thì bị coi là tà giáo”
[13;11]. Chính vì thế, trong khi sáng tác, các nhà văn đã tự tạo cho mình
một tâm thế nhất nhất noi theo cổ nhân. Tác phẩm càng sử dụng được nhiều
tích xưa chuyện cũ càng có giá trị. Nhà văn nào càng biết dùng nhiều điển
càng được trọng vọng vì được xem là người học rộng tài cao, thông kim
bác cổ. Cùng với nó, ở khâu cảm thụ tác phẩm cái được độc giả đánh giá
cao không phải là sự sáng tạo cái mới mà ngược lại, chính là sự bắt chước

thẩm mĩ, khi sáng tác, các nhà văn nhà thơ Việt Nam trung đại đã hình
thành thói quen sử dụng điển cố.
Rất ít tác phẩm văn học thời gian này tác giả là các nhà nho lại không
dùng điển cố. Kho tàng điển cố chứa đựng cả thế giới những câu chuyện,
những giá trị đã được thời gian và con người thẩm định. Các nhà văn chỉ
việc tìm trong dó những điển cố nào phù hợp với nội dung mình định nói,

- 17 -


lựa chọn, tìm cách diễn đạt rồi đưa vào thơ văn của mình. Làm văn không
dùng điển, coi như công việc ấy chưa hoàn thành. Điều này càng chặt chẽ
hơn đối với văn chương khoa cử. Các sĩ tử đọc nát sách thánh hiền, thuộc
làu làu lời người xưa với tâm niệm: ―các bậc tiền bối đã soạn thành bài,
lời lẽ kinh điển nhuần nhã, bọn hậu sinh đua nhau làm theo, khi vào trường
chỉ xén bớt những chỗ quá dài dòng đi mà thôi” (Kiến văn tiểu lục- Lê Quý
Đôn).
Có thể thấy phần đóng góp của cá nhân người sáng tác đối với đứa
con tinh thần của mình là lựa chọn sử dụng được nhiều điển và đưa vào câu
thơ, vâu văn sao cho phù hợp. Lâu dần việc ấy trở thành một thói quen
trong sáng tác. Điều này đã dẫn tới một hệ quả khác có liên quan đến đặc
trưng của văn học trung đại Việt Nam.
Sử dụng điển cố là đặc trưng thi pháp của văn học trung đại Việt
Nam. ―Nằm trong hệ sáng tác cổ trung đại phương Đông, chịu ảnh hưởng
sâu sắc của quan niệm mĩ học, triết học cổ điển Trung Hoa, giới sáng tác
nước ta không thể không là một ảnh xạ của thi pháp văn chương nước này.
Cho nên bên cạnh việc các thi sĩ luôn tìm tòi cho mình một lối đi riêng như
cố gắng tạo ra con chữ riêng, thể thơ riêng…thì những đặc điểm khả thủ
của thi pháp thơ Trung Hoa, phần nhiều vẫn được chấp nhận, được tiếp thu
một cách khá thành công. Một trong những đặc điểm đó là việc vận dụng

ngoại (ý tưởng bất tận ở ngoài lời).
Trong thực tế sáng tác, có những sự việc cần được diễn tả một cách
sâu sắc, đầy đủ, đồng thời phải gợi mở được một ý hướng xa xôi mà cách
diễn đạt dài dòng lại không đạt hiệu quả nghệ thuật bằng cách nói ngắn
gọn, cô đúc. Chọn được điển cố phù hợp và vận dụng nó một cách khéo
léo, người nghệ sĩ có thể coi như đã có trong tay phương tiện hữu hiệu nhất
để đạt tới chất lượng nghệ thuật đã nói. Vì sao điển cố lại có được khả năng
đặc biệt như vậy?

- 19 -


Khi nói tới tính chất của điển cố không thể không nới tới tính cô
đọng hàm súc, chỉ một vài từ mà hàm chứa được cả một câu chuyện, cả một
ý thơ có nội dung, ý nghĩa sâu sắc. Chính sự tiết kiệm lời trong diễn đạt ở
mức thấp nhất đã tạo ra độ nén cho các tầng ý nghĩa. Nó không chỉ gợi sự
liên tưởng mà trong chính nội hàm của nó đã chứa đựng những lớp lang đa
dạng, phong phú.
Chỉ với những chữ giấc Nam Kha, giấc Hoè An, nước kiến… đã bao
chứa cả một câu chuyện lý thú, có ý nghĩa triết lí sâu sắc về nhân vật Thuần
Vu Phần đã nói ở trên. Không chỉ dừng lại ở đó, khi nói tới điển cố này,
người ta sẽ nghĩ tới một bài học về thế thái: công danh, phú quý chỉ như
một giấc chiêm bao; tước vị, vàng bạc chỉ là phù vân. Con người không nên
sa đà vào công danh phú quý, không nên để bả vinh hoa làm mờ mắt.
Thơ ca trung đại phần lớn được làm ra để nói chí của các nhà nhonghệ sĩ. Mà chí không thể bộc lộ một cách rõì ràng, lộ liễu. Nó càng ẩn kín,
càng chìm vào các tầng nghĩa càng tốt. Nó sẽ càng giá trị nếu lẩn trốn vào
ước lệ và biểu tượng [16;44].Vì vậy không có gì là khó hiểu khi điển cố là
lựa chọn số một của các nhà thơ xưa.
1.4.1.2 Điển cố làm cho lời văn, câu thơ trang nhã, sang trọng,
tinh tế

Mây mưa đánh đổ đá vàng
Quá chiều nên đã chán chường yến anh
Nguyễn Gia Thiều trong Cung oán ngâm viết:
Bóng gương thấp thoáng trong mành
Cỏ cây cũng muốn nổi tình mây mưa
Lời tựa bài phú Cao Đường của Tống Ngọc kể chuyện: Xưa tiên
vương đến chơi Cao Đường, một hôm ban ngày mệt ngủ mộng thấy người
con gái đẹp đến nói: ―Thiếp là thần nữ ở núi Vu Sơn, nghe nhà vua ngự
chơi đây, thiếp nguyện tới hầu chăn gối‖. Khi từ biệt lại nói: ―Thiếp ở núi

- 21 -


Vu Sơn, sớm làm mây, chiều làm mưa ở chân núi Dương Đài’’. Từ đó, điển
mây mưa được dùng để chỉ việc trai gái gặp gỡ, giao hoan với nhau. Như
vậy, điển cố giúp nhà văn nói ra được những điều khó nói, nó đóng vai trò
lời thay thế trường hợp cụ thể, tình cảm cụ thể một cách ý nhị hàm súc
[17;22].
1.4.1.3. Điển cố thể hiện sự uyên bác của người sáng tác
Bản chất của thơ văn trong quan niệm của người trung đại là một cái
gì đó cao siêu quý phái ―chỉ thi nhân là có thể xem mà biết đươc sắc đẹp,
ăn mà biết được vị ngon ấy thôi” (Tựa Trích diễm thi tập - Hoàng Đức
Lương). Người làm thơ văn phải là người có trí tuệ, có nhân cách. Thơ văn
mà sử dụng nhiều điển cố càng thể hiện sự cao sang, uyên bác của người
sáng tác. Khi sử dụng điển cố, các tác giả xưa muốn khai thác lợi điểm của
một phần kiến thức nền mà người đọc có văn hoá có được nhằm khơi gợi ở
họ kiến thức và sự thông hiểu trọn vẹn tác phẩm. Độc giả muốn hiểu được
điển cố thì phải có vốn hiểu biết phong phú, sâu rộng về văn hóa, xã hội, về
nội dung của những thư tịch, sách vở và kho tàng văn học cổ. Dùng điển
được coi là một nghi thức đối đáp trong giới trí thức thích nói chữ, khoe

giả. Điển cố vốn gọn, chỉ vài chữ có thể thâu tóm một nội dung sinh động,
phong phú. Khi dùng điển cố, tác giả không phải mất công dài dòng kể lại
việc xưa một cách chi tiết mà chỉ cần dẫn ra những hình ảnh, những nhân
vật có liên quan đến tích xưa chuyện cũ là có thể giúp cho lí lẽ sáng rõ, tăng
sức thuyết phục đối với độc giả. Hoàng Khản trong Văn tâm điêu long trác
kí có viết Văn là để dẫn dụ người, đưa ra những chứng cớ, ví dụ xưa thì dễ
tin, những ví dụ đã được biết đến thì dễ theo.
Mặc dù có thể có vai trò như một ví dụ hay một dẫn chứng nhưng
trên thực tế điển cố và dẫn chứng là hai hiện tượng khác nhau. Nếu dẫn
chứng nhằm nói lý trong việc thì điển cố nhắc điển để nói tình trong việc

- 23 -


[17;21]. Bản thân điển cố muốn trở thành điển cố văn học thì nó phải trở
thành hình tượng hoán dụ, ẩn dụ hay tượng trưng.
Vậy, điển cố là ví dụ ở bậc cao đã đạt tới tính nghệ thuật. Nó cùng
lúc thực hiện hai chức năng: vừa là ví dụ vừa là hình tượng.
Khi nói về nhân nghĩa của bậc trung thần, trong bài Bảo kính cảnh
giới 4, Nguyễn Trãi dùng ba điển về Y Doãn, Tử Khanh, Phùng Dị để nói
về sự thanh khiết, trung nghĩa. Những nhân vật được nhắc tới từ lâu đã
được xem là biểu tượng của sự thanh sạch, tiết nghĩa.
Y Doãn là công thần đời Thương; cày ruộng ở đất Hữu Sằn, vua
Thang ba lần đến mời mới ra giúp Thang diệt vua Kiệt nhà Hạ lập nên cơ
nghiệp nhà Thương. Sau khi Thang mất, cháu là Thái Giáp nối ngôi, vô
đạo, Y Doãn đày ra đất Bạc, qua ba năm hối lỗi mới cho về. Ông là người
có công rất lớn với triều Thương những năm đầu mới gây dựng cơ nghiệp.
Tử Khanh là tên tự của Tô Vũ, làm trung lang tướng đời Hán Vũ Đế,
sang sứ Hung Nô. Chúa Hung Nô là Thiền Vu ép hàng phục, Tô Vũ không
chịu, bị nhốt vào hang tối ba ngày không cho ăn uống. Vũ hứng giọt tuyết

phẩm. Cái hay, cái đẹp của văn chương không thể cảm nhận chỉ bằng sự
rung động của con tim mà còn bằng cả sự sâu sắc của trí tuệ. Muốn hiểu
được nó phải có tri thức. Chính vì vậy, đối tượng thưởng thức được văn
chương trong xã hội xưa không nhiều, số lượng người hiểu được giá trị và
có ý thức giữ gìn văn chương lại càng ít. Đó là lí do rất quan trọng khiến
cho thơ văn thời kì này bị thất tán không lưu truyền hết ở trên đời (Tưa
Trích diễm thi tập - Hoàng Đức Lương). Đây là điểm lợi bất cập hại của
điển cố.
Đối với những độc giả cùng thời đã vậy, với những độc giả thời đại
sau, việc lĩnh hội các tác phẩm, có nhiều điển cố càng khó khăn hơn. Sự
khác biệt về ngôn ngữ, đặc biệt về phông văn hoá chính là rào cản khiến
người đọc ngày nay cảm thấy chật vật khi đến với các tác phẩm văn học

- 25 -


Trích đoạn Sử dụng điển cố về các nhân vật để thể hiện quan niệm và lối sống Sử dụng điển cố về nhân vật để thể hiện sự đời. Thái độ ca ngợi và niềm khát vọng về một xã hội lý tưởng. Thái độ phê phán và nỗi niềm trăn trở không nguôi. Quan niệm về thế giới tự nhiên.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status