Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Trần Văn Giảng
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Những năm gần đây cùng với sự phát triển chung của xã hội, sự tiến bộ
về khoa học kĩ thuật của nhân loại đã bước lên một tầm cao mới. Rất nhiều
những thành tựu khoa học kĩ thuật, những phát minh, sáng chế mang đậm tính
hiện đại và có tính ứng dụng cao. Là một quốc gia có nền kinh tế lạc hậu,
nước ta đã và đang có những cải cách mới để thúc đẩy kinh tế. Việc tiếp thu,
áp dụng các thành tựu khoa học tiên tiến của thế giới đang rất được nhà nước
quan tâm nhằm cải tạo, đẩy mạnh phát triển các ngành công nghiệp mới, với
mục đích đưa nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu thành một nước công
nghiệp phát triển. Trải qua rất nhiều năm phấn đấu và phát triển. Hiện nay
nước ta đã là thành viên của khối kinh tế quốc tế WTO. Với việc tiếp cận các
quốc gia có nền kinh tế phát triển, chúng ta có thể giao lưu, học hỏi kinh
nghiệm, tiếp thu và áp dụng các thành tựu khoa học tiên tiến để phát triển hơn
nữa nền kinh tế trong nước, bước những bước đi vững chắc trên con đường
quá độ lên CNXH.
Trong các ngành công nghiệp mới đang được nhà nước chú trọng, đầu
tư phát triển thì công nghiệp ôtô là một trong những ngành tiềm năng. Do sự
tiến bộ về khoa học công nghệ nên quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hoá
phát triển một cách ồ ạt, tỉ lệ ô nhiễm nguồn nước và không khí do chất thải
công nghiệp ngày càng tăng. Các nguồn tài nguyên thiên nhiên như: Than, đá,
dầu mỏ,. . . Bị khai thác bừa bãi nên ngày càng cạn kiệt. Điều này đặt ra bài
toán khó cho ngành động cơ đốt trong (ĐCĐT) nói chung và ôtô nói riêng, đó
là phải đảm bảo chất lượng khí thải và tiết kiệm nhiên liệu. Các hãng sản xuất
ôtô như FORD, TOYOTA, MESCEDES,... đã có rất nhiều cải tiến về mẫu
mã, kiểu dáng cũng như chất lượng phục vụ của xe, nhằm đảm bảo an toàn
cho người sử dụng, giảm nguy cơ ô nhiễm môi trường do khí thải. Đặc biệt là
5. Phương pháp nghiên cứu
Lí thuyết.
6. Kết cấu nội dung
Chương 1: Cơ sở lí thuyết về quá trình cháy
1.1.
Khái niệm cơ bản về bốc cháy và phát hỏa của nhiên liệu
1.1.1. Lí thuyết phát hỏa do nhiệt
1.1.2. Lí thuyết phát hỏa theo phản ứng dây chuyền
3
SV: Trần Thị Bích Nguyệt
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Trần Văn Giảng
1.1.3. Phản ứng dây chuyền và nhiệt
1.2.
Hiện tượng cháy của nhiên liệu
1.2.1. Đặc tính màng lửa của hòa khí đều
1.2.2. Lí thuyết lan truyền màng lửa
1.2.3. Tốc độ lan truyền màng lửa Sn
1.2.4. Tốc độ lan truyền màng lửa biểu kiến Sf
1.2.5. Lan truyền màng lửa chảy rối
4
SV: Trần Thị Bích Nguyệt
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Trần Văn Giảng
2.4.2. Cháy kích nổ
2.4.3. Một số biểu hiện của cháy không bình thường
Chương 3: Biện pháp nâng cao hiệu suất nhiệt của động cơ
3.1.
Điều chỉnh lượng hỗn hợp phù hợp
3.1.1. Thành phần hòa khí
3.1.2. Phân phối hòa khí vào các xilanh
3.2.
Điều chỉnh góc đánh lửa phù hợp
3.2.1. Điều chỉnh góc đánh lửa theo tốc độ vòng quay trục khuỷu
3.2.2. Điều chỉnh góc đánh lửa theo tải trọng
5
SV: Trần Thị Bích Nguyệt
Thay v vào phương trình trên ta được: q1 = K0.Can. e RT .V. ΔH
Tốc độ nhả nhiệt cho thành bình q2:
q2 = K.S.(T- T0)
k : hệ số trao đổi nhiệt (J/m2.S.độ).
S : diện tích thành bình (m2).
6
SV: Trần Thị Bích Nguyệt
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Trần Văn Giảng
Nếu thay đổi áp suất trung bình do mật độ môi chất Ca cũng thay đổi
theo nên q1 cũng biến động. Tăng áp suất môi chất sẽ làm tăng q1.
Nếu áp suất hòa khí là P1 nhiệt độ hòa khí ban đầu và nhiệt độ thành
bình T0. Lúc đầu do q1>q2 sẽ làm tăng hòa khí tới T’, tại đây q1 = q2, đạt chế
độ cân bằng, nhiệt độ hòa khí sẽ giữ ở T’, không tăng thêm nữa. Tốc độ phản
ứng sẽ không tăng, kết quả là không có hiện tượng phát hỏa, hình 1.1.1a
Hình 1.1.1a Xác định giới hạn nổ (phát hỏa)
Nâng cao nhiệt độ thành bình tới T1 thì đường q1 sẽ tiếp tuyến với
đường q2, tiếp điểm A được gọi là điểm cân bằng giới hạn. Tại điểm A chỉ
cần áp suất hoặc nhiệt độ hòa khí hơi lớn hơn so với điểm A sẽ lập tức gây ra
tích lũy nhiệt lượng rồi phát hỏa. Nhiệt độ tại điểm C1 gọi là nhiệt độ phát
hỏa.
Ở trạng thái P1,T1 sẽ có điểm cân bằng giới hạn A
8
SV: Trần Thị Bích Nguyệt
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Trần Văn Giảng
Có trường hợp trung tâm hoạt tính tác dụng với khí trơ hoặc tác dụng
với thành bình làm tiêu vong (đứt dây chuyền).
Tóm lại phản ứng dây chuyền gồm 3 cơ chế chính:
Phát sinh dây chuyền.
Phát triển (kéo dài và phân nhánh dây chuyền).
Kết thúc (đứt dây chuyền).
Nội dung của lí thuyết: hòa khí sau khi nhận năng lượng kích thích, tạo
ra các phần tử hoạt tính, sau đó trong quá trình phản ứng nếu tốc độ phản ứng
phát triển f lớn hơn tốc độ gián đoạn s sẽ tạo ra tích lũy các phần tử hoạt tính
làm cho phản ứng được tăng tốc tới phát hỏa.
Tốc độ phát triển v của phản ứng dây chuyền:
V k.
n0
. e f s .t 1
f s
Như vậy: với những điều kiện khác nhau, phản ứng dây chuyền có dẫn
tới phát hỏa hay không hoàn toàn phụ thuộc vào tình hình phát triển hoặc gây
gián đoạn đối với phản ứng dây chuyền.
1.1.3. Phản ứng dây chuyền và nhiệt
Là phản ứng chỉ dựa vào nhiệt lượng do bản thân phản ứng tạo ra để tự
sấy nóng và làm tăng tốc độ phản ứng được gọi là phát hỏa do nhiệt. Nếu điều
kiện duy nhất của phát hỏa là do tốc độ phản ứng tạo ra dây chuyền vượt qua
tốc độ gián đoạn gây ra, thì gọi là phát hỏa do phản ứng dây chuyền. Mặc dù
ôxi hóa nhiều nhiên liệu loại CnHm đều là phản ứng dây chuyền nhưng phát
hỏa do phản ứng dây chuyền thuần túy gây ra là rất hiếm, vì vậy hầu hết các
phản ứng dây chuyền đều là phản ứng tỏa nhiệt nên trong phản ứng môi chất
cũng được tự sấy nóng, tính chất sấy nóng ấy cũng ảnh hưởng tới phát hỏa.
Một phản ứng do tích lũy các phần tử hoạt tính và nhiệt để làm tăng tốc độ
phản ứng tới mức phát hỏa gọi là phát hỏa do phản ứng dây chuyền và nhiệt.
1.2. Hiện tượng cháy của nhiên liệu
Hòa khí trong ĐCĐT được chia thành hai loại: hòa khí đều được hòa
trộn trước và hòa khí không đều không được hòa trộn trước. Ta xét hiện
tượng cháy của hòa khí đều.
Đặc trưng chính của việc đốt cháy hòa khí đều, được hòa trộn trước là
lan truyền của màng lửa. Trong hòa khí được hòa trộn đều, sau khi phát hỏa ở
nơi nào đó, quá trình cháy của hòa khí sẽ được thực hiện bằng tốc độ cháy
nhất định nhờ màng lửa lan khắp buồng cháy.
10
SV: Trần Thị Bích Nguyệt
Khóa luận tốt nghiệp
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Trần Văn Giảng
1.2.3. Tốc độ lan truyền màng lửa Sn
Sn chỉ tốc độ di động của màng lửa tiên phong theo hướng pháp tuyến
về phía hòa khí được gọi là tốc độ lan màng lửa theo hướng pháp tuyến hoặc
tốc độ lan màng lửa chảy tầng.
Bên trái màng lửa là sản vật cháy, bên phải là hòa khí chưa cháy. Nếu
hòa khí chạy sang trái với tốc độ Sn thì vị trí màng lửa đứng yên tại chỗ. Mặt
trong của màng lửa nhiệt độ t tăng lên đột ngột, mật độ hòa khí giảm, mật độ
sản vật cháy tăng. Nếu chia nhỏ màng lửa hơn nữa thì phần tiếp giáp với hòa
khí là phần sấy nóng, còn phần tiếp giáp với sản vật cháy là phần phản ứng.
Tốc độ lan màng lửa Sn càng lớn thì màng lửa càng mỏng. Tốc độ
màng lửa chảy tầng phụ thuộc vào tính chất lí hóa của hòa khí như: tỉ nhiệt,
hệ số dẫn nhiệt, nhiệt trị của hòa khí, không phụ thuộc vào loại bình chứa và
trạng thái lưu động của dòng khí.
1.2.4. Tốc độ lan truyền màng lửa biểu kiến Sf
Tốc độ biểu kiến là tốc độ di động của màng lửa so với mặt bình. Tốc
độ này khác với tốc độ lan truyền màng lửa Sn, vì trong tốc độ biểu kiến có cả
tốc độ đẩy màng lửa của sản vật cháy Sđ do giãn nở của số hòa khí đã cháy
gây ra, giữa chúng có mối liên hệ sau:
Sn S f Sd
Xét sự biến thiên của áp suất trong xilanh sẽ tìm được tỉ số:
Sf
Sn
hơn, màng lửa dày hơn. Trong dòng chảy rối, do mạch động của tốc độ dòng
chảy làm biến dạng bề mặt màng lửa. Quy mô chảy rối khác nhau sẽ làm cho
bề mặt màng lửa biến dạng khác nhau.
Dựa vào mối quan hệ giữa ℓ và δ ta chia màng lửa chảy rối thành hai
loại: loại quy mô lớn và loại quy mô nhỏ.
Với
ℓ = u’.τ’
u’: tốc độ trung bình của mạch động;
τ’ : thời gian tồn tại trung bình của mạch động.
Màng lửa chảy rối quy mô nhỏ ℓ δ: hình dạng màng lửa bị uốn cong
và trở nên mấp mô làm tăng diện tích. Lúc ấy mặc dù tốc độ lan truyền màng
lửa theo hướng pháp tuyến vẫn tương tự như trường hợp của màng lửa chảy
tầng. Nhưng do diện tích tăng lên nhiều làm cho tốc độ lan truyền tăng nhanh.
13
SV: Trần Thị Bích Nguyệt
14
SV: Trần Thị Bích Nguyệt
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Trần Văn Giảng
chỉ bắt nguồn từ một tâm điểm lửa là buzi, tạo nên màng lửa rồi lan truyền với
tốc độ tăng dần theo mọi hướng cho tới khi đốt hết hòa khí.
Để nghiên cứu quá trình cháy trong động cơ có nhiều phương pháp
khác nhau, thường dùng nhất là vẽ đồ thị công P – φ tức là đồ thị thể hiện sự
biến thiên của áp suất P trong xilanh theo góc quay φ của trục khuỷu.
Trên nắp xilanh lắp một bộ cảm biến áp suất, dao động kí ghi lại sự
biến thiên của áp suất P trong xilanh theo góc quay của trục khuỷu. Dựa vào
biến thiên của P = f(φ) có thể biết tình hình tiến triển của quá trình cháy.
Ưu điểm: cho biết rõ hiệu quả thực tế của quá trình.
Nhược điểm: không cho biết rõ cơ lí của quá trình cũng như tình hình
lan truyền màng lửa.
Nhưng phương pháp này thường được dùng nhất vì đây là một phương
pháp hữu hiệu và đơn giản.
Ngoài phương pháp trên người ta còn sử dụng hương pháp chụp ảnh
nhanh quá trình cháy dựa vào một dãy các bức ảnh liên tiếp chụp được sẽ biết
tình hình tiến triển của qúa trình cháy trong xilanh.
Hình 2.2. quá trình cháy của động cơ xăng
I. cháy trễ; II. cháy nhanh ; III. Cháy rớt
1. đánh lửa; 2. hình thành màng lửa trung tâm; 3. áp suất lớn nhất
khi nhiên liệu bắt đầu cháy thì tốc độ tăng trung bình của áp suất rất lớn làm
cho động cơ phải chịu lực tác dụng lớn. Vì thế τi càng ngắn thì quá trình cháy
càng hoàn hảo, còn nếu φi quá lớn thì quá trình cháy sẽ lan sang quá trình
cháy rớt.
2.2.2. Thời kì cháy nhanh II
Giai đoạn này diễn biến từ điểm 2 đến điểm 3.
16
SV: Trần Thị Bích Nguyệt
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Trần Văn Giảng
Thời kì này cũng tương ứng với thời kì lan truyền của màng lửa tính từ
lúc xuất hiện màng lửa trung tâm tới khi màng lửa lan truyền khắp buồng
cháy. Trong quá trình lan truyền, màng lửa có dạng mặt cầu nhấp nhô, lồi
lõm. Ở thời kì này màng lửa được lan truyền với tốc độ tăng dần, hòa khí
trong xilanh có phản ứng hóa học ngày càng mãnh liệt và nhả ra một số nhiệt
lượng lớn, trong khi dung tích xilanh thay đổi ít làm cho áp suất và nhiệt độ
môi chất tăng nhanh.
Thời kì cháy nhanh là giai đoạn chính trong quá trình cháy hòa khí của
động cơ xăng, phần lớn nhiệt lượng được nhả ra trong giai đoạn này, quy luật
nhả nhiệt sẽ quyết định việc tăng áp suất tức là quyết định khả năng đẩy
pittông sinh công.
Để nâng cao hiệu suất nhiệt của chu trình, thì cần thời gian cháy càng
nhanh càng tốt. Muốn rút ngắn thời gian cháy phải nâng cao tốc độ cháy, làm
cho áp suất cực đại và nhiệt độ cực đại xuất hiện tại vị trí gần sát ĐCT, khiến
mật độ môi chất γ. Màng lửa lan càng rộng, γ càng lớn vì lúc ấy số hòa khí
chưa cháy phải chịu sự chèn ép của phần đã cháy gây ra. Số hòa khí cháy cuối
cùng bị chèn ép tới 7 ÷ 8 lần, hình 2.2.2
Hình 2.2.2. sơ đồ lan màng lửa
1. sản vật cháy;
2. hòa khí chưa cháy;
3. trung tâm phát hỏa tự cháy;
4. màng lửa
Tốc độ lan truyền và diện tích màng lửa càng lớn sẽ làm cho tốc độ
cháy, tốc độ nhả nhiệt, áp suất và nhiệt độ môi chất trong xilanh trong thời kì
cháy nhanh tăng lên càng nhiều làm cho công suất và hiệu suất của động cơ
được cải thiện tốt hơn.
Tuy vậy tốc độ cháy không thể quá lớn nếu không sẽ làm tăng nhanh
tốc độ tăng áp suất, gây ra va đập cơ khí, tăng tiếng ồn, các chi tiết bị mài
18
SV: Trần Thị Bích Nguyệt
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Trần Văn Giảng
mòn, giảm tuổi thọ sử dụng động cơ. Tốc độ tăng áp suất trung bình của thời
2.3.1. Ảnh hưởng của thành phần khí hỗn hợp
Thành phần khí hỗn hợp được đặc trưng bởi hệ số dư lượng không khí α:
19
SV: Trần Thị Bích Nguyệt
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Trần Văn Giảng
L
α=L
0
Trong đó :
L: khối lượng không khí đưa vào xilanh tương ứng với 1kg nhiên liệu;
L0: khối lượng không khí cần thiết để đốt cháy hết 1kg nhiên liệu.
Hệ số α có thể =1, >1 hoặc 1 hỗn hợp nhạt.
Thực nghiệm cho thấy:
+ Nếu α = 0,8 ÷ 0,9: thì nhiên liệu cháy với tốc độ nhanh nhất,
công suất của động cơ tăng.
+ Nếu α > 0,9: thì tốc độ cháy của nhiên liệu giảm, vì mật độ
của nhiên liệu giảm.
+ Nếu α < 0,8: thì tốc độ cháy của nhiên liệu cũng giảm, vì khi
trình nén, động cơ làm việc không êm và dễ xảy ra hiện tượng kích nổ.
2.3.2.2. Ảnh hưởng của vị trí đặt buzi
Vị trí đặt bizi trong buồng cháy gây ảnh hưởng lớn tới khuynh hướng
gây kích nổ. Khoảng cách từ tâm lửa đến khu vực xa nhất của buồng cháy
càng dài hay hành trình màng lửa càng dài thì khuynh hướng cháy kích nổ
càng lớn.
Nếu đặt buzi gần sát xupap nạp xa xupap xả sẽ làm tăng khả năng nâng
cao nhiệt độ của khối hòa khí ở cuối hành trình màng lửa, do nhiệt độ lớn của
xupap xả gây ra vì vậy làm tăng tính kích nổ.
Vì vậy cần phải đặt buzi sát với khu vực giữa của buồng cháy và gần
bộ phận nóng nhất của buồng cháy để làm giảm hành trình màng lửa làm
giảm khuynh hướng gây kích nổ.
2.3.2.3. Ảnh hưởng của loại buzi
Buzi có phù hợp hay không cũng ảnh hưởng tới tính năng của động cơ,
chọn loại buzi phải dựa vào trạng thái phụ tải nhiệt của động cơ. Chọn buzi
cần phải đảm bảo cho động cơ hoạt động tốt ở tốc độ thấp và không được tạo
ra điểm nóng rực vì dễ gây hiên tượng đánh lửa bề mặt khi chạy ở tải lớn.
Thực nghiệm chỉ ra rằng: nhiệt độ phần đầu của sứ cách điện phải nằm
trong phạm vi 580oC ÷ 850oC động cơ mới hoạt động được bình thường, vì
21
SV: Trần Thị Bích Nguyệt
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Trần Văn Giảng
trong phạm vi ấy dầu nhờn vào trong xilanh và dính trên cực buzi sẽ bị đốt
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Trần Văn Giảng
lửa hồ quang yếu, thậm chí không xuất hiện tia lửa điện ở buzi, gây bỏ nổ ở
tốc độ lớn, tích muội than ở cực bzi, khi đóng mở các tiếp điểm thường xuất
hiện tia lửa điện hồ quang làm cháy tiếp điểm. Những điều trên sẽ làm giảm
công suất và hiệu suất của động cơ, gây hiện tượng khó khởi động động cơ.
2.3.3. Ảnh hưởng của tốc độ quay của trục khuỷu động cơ
Tốc độ quay của trục khuỷu động cơ thường được kí hiệu là n, tính theo
vòng/ phút.
Khi tăng n, một mặt làm tăng tốc độ dòng khí nạp đi vào xilanh, mặt
khác tăng tốc độ chuyển dịch của pittông sẽ làm tăng cường độ dòng khí, làm
cải thiện chất lượng hòa trộn của hòa khí, tăng nhiệt độ của hòa khí cuối kì
nén, gia tăng quá trình chuẩn bị cháy của hòa khí kết quả làm tăng nhanh tốc
độ lan truyền màng lửa.
Tăng tốc độ động cơ sẽ làm giảm τi nhưng φi lại tăng đáng kể mà quá
trình cháy của động cơ chủ yếu phụ thuộc vào φi, φi tăng quá trình cháy lan
sang quá trình cháy rớt, làm giảm hiệu suất động cơ. Do đó khi tăng n thì ta
phải tăng θ cho phù hợp.
2.3.4. Ảnh hưởng của tải trọng
Khi giảm tải trọng (đóng bớt bướm ga) tạo cân đối với dòng khí nạp,
qua đó làm giảm lượng hòa khí đi vào xilanh. Nhưng lúc ấy do lượng khí sót
còn lại trong buồng cháy thay đổi không nhiều, làm tăng hệ số khí sót, do đó
làm tăng độ loãng của hòa khí và tăng thời gian cháy trễ, quá trình cháy trở
nên chậm chạp, kết quả làm tăng thời gian quá trình cháy. Như vậy ở tải nhỏ
cần tăng góc đánh lửa sớm.
2.3.5. Ảnh hưởng của cường độ làm mát
cùng phải đảm bảo là ngắn nhất. Do đó nếu động cơ có đường kính xilanh lớn
thì phải tăng số buzi cho một xilanh.
2.2. Những hiện tượng cháy không bình thường trong động cơ châm cháy
cưỡng bức
2.3.1. Cháy sớm hoặc đánh lửa bề mặt
Nếu buzi chưa bật tia lửa điện mà nhiên liệu đã cháy thì được gọi là
hiện tượng cháy sớm (hiện tượng cướp nổ). Hiện tượng này là do có một khu
vực nào đó trong xilanh bị nóng rực làm cho nhiên liệu ở đó bị bốc cháy trước
khi có tia lửa điện ở buzi, hình 2.3.1
24
SV: Trần Thị Bích Nguyệt
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Trần Văn Giảng
Hình 2.3.1 đồ thị của cháy sớm
Đặc trưng bên ngoài của hiện tượng cháy sớm đó là gây tiếng gõ kim
loại mạnh (tiếng gõ hơi trầm, đục).
Có rất nhiều nguyên nhân gây ra hiện tượng cháy sớm ví dụ như: tình
trạng sử dụng, lọc nhiên liệu, loại dầu bôi trơn, làm mát kém, tất cả các yếu
tố làm tăng áp suất và nhiệt độ môi chất trong xilanh, thúc đẩy việc tạo
muội than hoặc hình thành các điểm, các mặt nóng rực bên trong buồng
cháy. Các động cơ mà có tỉ số nén vượt quá 9 khi suất hiên các mặt nóng
rực trong xilanh càng dễ xảy ra cháy sớm, mà cháy sớm lại gián tiếp gây ra
cháy kích nổ, cháy kích nổ lại làm xuất hiện thêm nhiều mặt nóng rực tạo
nên cháy sớm mãnh liệt hơn. Với động cơ có tỉ số nén trên 9,5 chỉ cần xuất
và do bị chèn ép bởi kết quả nhả nhiệt của phần hòa khí đã cháy gây ra, làm ra
tăng phản ứng hóa học tại khu vực phía trước màng lửa. Nếu màng lửa lan tới
kịp thời đốt cháy số hòa khí này thì đó là hiện tượng cháy bình thường. Nếu
số hòa khí trên tự phát hỏa bốc cháy khi màng lửa chưa lan tới sẽ tạo nên
màng lửa mới, màng lửa này sẽ lan truyền với tốc độ lớn đạt tới 1500 ÷ 2000
m/s, làm cho hòa khí chưa cháy được bốc cháy với tốc độ rất lớn, hiện tượng
trên mang tính nổ phá. Do tốc độ cháy nhanh, dung tích hòa khí không kịp
giãn nở làm cho áp suất và nhiệt độ tăng lên đột ngột, tạo nên sóng áp suất,
truyền đi mọi phương theo tốc độ truyền âm, đập vào thành vách xilanh tạo
nên tiếng gõ kim loại sắc và đanh. Hiện tượng cháy trên gọi là hiện tượng
cháy kích nổ, hình 2.3.2
26
SV: Trần Thị Bích Nguyệt