phân tích tình hình sử dụng vốn lưu động và biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty cổ phần én vàng quốc tế - Pdf 13

Lời mở đầu
1.Lý do nghiên cứu đề tài :
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, mỗi doanh nghiệp đều
phải có trong tay một lượng vốn nhất định. Việc tổ chức quản lý, sử dụng vốn
có hiệu quả hay không mang tính quyết định đến sự tồn tại và phát triển của
doanh nghiệp trong tương lai.
Trong nền kinh tế thị trường, quản lý và sử dụng vốn lưu động là một
trong những nội dung quản lý rất quan trọng đối với các doanh nghiệp. Muốn
cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh được diễn ra liên tục và thường
xuyên thì doanh nghiệp phải có đủ lượng vốn lưu động cần thiết để đầu tư.
Ngoài ra, vốn lưu động còn là yếu tố góp phần mang lại lợi nhuận trong kinh
doanh. Việc sử dụng vốn lưu động hợp lý hay không hợp lý của doanh nghiệp
sẽ đem lại hiệu quả tốt hay xấu cho quá trình sản xuất kinh doanh. Vấn đề đặt
ra cho doanh nghiệp là phải sử dụng vốn lưu động như thế nào để đảm bảo
cho quá trình tuần hoàn vốn và tạo hiệu quả kinh tế cao.
Với nhận thức như vậy, bằng những kiến thức quý báu về tài chính
doanh nghiệp, vốn lưu động tích luỹ được trong thời gian học tập, nghiên cứu
tại trường Đại học Hải Phòng, em đã chọn đề tài: “Phân tích tình hình sử
dụng vốn lưu động và biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động
tại công ty cổ phần Én Vàng Quốc Tế” làm đề tài viết chuyên đề thực tập
tốt nghiệp.
2. Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài được thực hiện trong quá trình thực tập tại Công ty Cổ Phần Én
Vàng Quốc Tế, nội dung nghiên cứu trong phạm vi của công ty.
3. Phương pháp nghiên cứu:
1
Đề tài sử dụng các phương pháp cơ bản như so sánh, tổng hợp, thống
kê… Các chỉ tiêu Báo cáo Tài chính kết hợp với việc tham khảo sách báo, tài
liệu liên quan để làm sáng tỏ lý luận thực tiễn.
4. Kết cấu đề tài :
Chuyên đề gồm có 3 chương:

cần vốn để duy trì sản xuất và để đầu tư nâng cao năng lực sản xuất… Quyết
định tài trợ, do đó, là một trong 3 nhóm quyết định quan trọng của tài chính
doanh nghiệp và có ảnh hưởng sâu sắc tời mục tiêu cuối cùng của doanh
nghiệp – tối đa hoá giá trị doanh nghiệp.
1.1.1.2. Đặc điểm và phân loại vốn
*. Đặc điểm của vốn
Vốn là giá trị toàn bộ tài sản hữu hình (nhà xưởng, máy móc thiết bị…),
tài sản vô hình (sáng chế, phát minh, nhãn hiệu thương mại…) mà doanh
nghiệp đầu tư và tích luỹ được trong quá trình sản xuất kinh doanh nhằm tạo
ra giá trị thặng dư.
Vốn tồn tại trong mọi quá trình sản xuất và được chuyển hoá từ dạng này
sang dạng kia: từ nguyên, nhiên vật liệu đầu vào đến các chi phí sản xuất dở
dang, bán thành phẩm và cuối cùng chuyển hoá thành thành phẩm rổi chuyển
về hình thái tiền tệ.
Vốn luôn gắn liền với quyền sở hữu, việc nhận định rõ và hoạch định cơ
cấu nợ – vốn chủ sở hữu luôn là một nội dung quan trọng và phức tạp trong
quản lý tài chính doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trường, vốn còn được coi là một hàng hoá đặc biệt
do có sự tách bạch giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng. Do đó, việc huy
động vốn bằng nhiều con đường: phát hành cổ phiếu, trái phiếu; tín dụng
thương mại; vay ngân hàng…đang được các doanh nghiệp rất quan tâm và
được vận dụng linh hoạt.
3
Do sự tách bạch giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng, sự luân chuyển
phức tạp của vốn nên yêu cầu quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả tránh lãng
phí thất thoát được đặt lên cao.
*. Phân loại vốn
Tuỳ theo từng tiêu thức khác nhau, vốn của doanh nghiệp được phân loại
như sau:
- Theo hình thái tài sản, vốn của doanh nghiệp gồm 2 bộ phận

ứng trước một số tiền tương ứng để đầu tư mua sắm các tài sản đó.
4
Vốn lưu động của doanh nghiệp thương mại là số tiền ứng trước về tài
sản lưu động để đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh được tiến hành
thường xuyên, liên tục.Đặc điểm của nó là vận động không ngừng và chuyển
dịch qua nhiều hình thái khác nhau. Giá trị của nóđược chuyển dịch toàn bộ
một lần vào giá trị hàng hoá và hoàn thành một vòng tuần hoàn sau mỗi chu
kỳ sản xuất kinh doanh.
1.1.3. Đặc điểm và phân biệt vốn lưu động với vốn cố định
*. Đặc điểm của vốn lưu động
Vốn lưu động luân chuyển với tốc độ nhanh. Vốn lưu động hoàn thành
một vòng tuần hoàn sau khi kết thúc một chu kỳ sản xuất kinh doanh.
Vốn lưu động trong doanh nghiệp luôn thay đổi hình thái biểu hiện trong
quá trình tuần hoàn luân chuyển. Vốn lưu động chỉ tham gia vào một chu kỳ
sản xuất mà không giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu, giá trị của nó được
chuyển dịch toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm.
Vốn lưu động vận động theo một vòng tuần hoàn, từ hình thái này sang
hình thái khác rồi trở về hình thái ban đầu với một giá trị lớn hơn giá trị ban
đầu. Chu kỳ vận động của vốn lưu động là cơ sở quan trọng đánh giá hiệu quả
sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp.
*. Phân biệt vốn lưu động và vốn cố định
Vốn cố định là biểu hiện bằng tiền của tài sản cố định. Đặc điểm khác
biệt lớn nhất giữa vốn lưu động và vốn cố định là vốn cố định chỉ chuyển dần
giá trị của nó vào giá trị sản phẩm theo mức khấu hao trong khi giá trị vốn lưu
động được chuyển dịch toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm.
Do đặc điểm vận động, số vòng quay của vốn lưu động lớn hơn rất nhiều
so với vốn cố định.
1.1.4. Phân loại vốn lưu động
1.1.4.1. Dựa theo hình thái biểu hiện của vốn lưu động có thể chia vốn
lưu động thành:

*.Vốn lưu động trong khâu sản xuất bao gồm các khoản:
- Vốn sản phẩm dở dang: là biểu hiện các chi phí sản xuất kinh
doanh đã bỏ ra cho các loại sản phẩm sản xuất dở dang trong quá trình sản
xuất kinh doanh.
- Vốn về chi phí trả trước: là các khoản chi phí đã thực tế phát sinh có
tác dụng cho nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh chưa thể tính hết vào giá
thành sản phẩm kỳ này; mà để tính dần vào giá thành sản phẩm của một số kỳ
tiếp theo như: chi phí nghiên cứu phát triển, chi phí cải tiến kỹ thuật, chi phí
xây dựng lắp đặt
*.Vốn lưu động trong khâu lưu thông bao gồm các khoản:
- Vốn thành phẩm: là giá trị những sản phẩm đã được sản xuất, đạt tiêu
chuẩn kỹ thuật và được nhập kho.
- Vốn bằng tiền: bao gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi Ngân hàng và tiền
đang chuyển. Tiền là một loại tài sản của doanh nghiệp mà có thể dễ dàng
chuyển đổi thành các loại tài sản khác. Do vậy, trong hoạt động kinh doanh
đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải có một lượng tiền nhất định.
6
- Vốn trong thanh toán: bao gồm những khoản phải thu và tạm ứng.
Cách phân loại này giúp cho nhà quản lý thấy được số lượng, chủng loại
vật tư, hàng hoá cần dự trữ trong các khâu ở mức độ hợp lý, xác định tỷ trọng
và thành phần vốn lưu động ở các khâu nhằm đảm bảo cho sự cân đối giữa
các khâu để hoạt động sản xuất nhịp nhàng, ăn khớp.
1.1.4.3. Căn cứ vào nguồn hình thành : theo cách phân loại này, vốn
lưu động được chia làm 2 loại:
*.Nguồn vốn chủ sở hữu
Là nguồn vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, doanh nghiệp có
đầy đủ các quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền chi phối và định đoạt.
Tuỳ theo loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau mà
vốn chủ sở hữu có nội dung cụ thể riêng: Số vốn lưu động được ngân sách
nhà nước cấp hoặc có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước (đối với các doanh

chất lượng sản phẩm, mẫu mã phong phú hay tiết kiệm được nguyên vật liệu,
…trên khía cạnh nào đó doanh nghiệp chỉ cần một lượng vốn lưu động ít hơn
nhưng hiệu quả đem lại cao hơn. Mặt khác chu kỳ sản xuất kéo dài sẽ làm cho
vòng quay vốn lưu động chậm, khả năng thu hồi vốn lâu cũng ảnh hưởng
không tốt tới hiệu quả sử dụng vốn. Do đó nếu biết kết hợp một cách tối ưu và
hài hoà các yếu tố của quá trình sản xuất kinh doanh, nhằm giảm những chi
phí không cần thiết, đồng thời nắm bắt những cơ hội kinh doanh sẽ đem lại
cho doanh nghiệp sự tăng trưởng và phát triển bền vững.
- Nhân tố về cung ứng tiêu thụ bao gồm : khoảng cách của doanh
nghiệp tới nơi cung cấp, khả năng cung cấp của thị trường, kỳ hạn giao hàng
và khối lượng vật tư được cung cấp mỗi lần giao hàng, đặc điểm thời vụ của
chủng loại vật tư được cung cấp. Trong sản xuất kinh doanh, các doanh
nghiệp thường cần rất nhiều vật tư, hàng hoá và do nhiều đơn vị cung cấp
khác nhau. Nếu khoảng cách giữa doanh nghiệp với nơi cung cấp ngắn thì
doanh nghiệp sẽ tiết kiệm được chi phí vận chuyển, chi phí lưu kho. Khi
nguồn nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất bị giảm cũng ảnh hưởng không
nhỏ tới quá trình sản xuất của doanh nghiệp. Bởi vì khi nguồn nguyên liệu
không được cung cấp đầy đủ sẽ làm gián đoạn quá trình sản xuất, doanh
nghiệp sẽ không hoàn thành kế hoạch theo dự kiến, không đảm bảo hoàn
thành các hợp đồng đã ký kết. Còn nếu nguồn nguyên liệu được cung cấp
thường xuyên, ổn định thì doanh nghiệp sẽ không phải dự trữ với số lượng
lớn, tránh được tình trạng ứ đọng vốn lưu động mà có thể đầu tư vào lĩnh vực
kinh doanh khác. Khi kỳ hạn giao hàng của người cung cấp dài và số lượng
vật tư được cung cấp mỗi lần giao hàng thấp thì doanh nghiệp luôn phải đầu
tư một lượng vốn lưu động để dự trữ vật tư hàng hoá thì mới có thể đảm bảo
cho quá trình sản xuất được diễn ra thường xuyên, liên tục. Như vậy, lượng
vốn lưu động bị ứ đọng đó sẽ không đem lại hiệu quả, ngoài ra doanh nghiệp
cũng phải chịu thêm phần chi phí lưu kho tăng,…tuỳ từng đặc điểm kinh
doanh của từng doanh nghiệp mà cần chủ động trong thời gian giao hàng và
khối lượng vật tư hàng hoá được cung cấp cho mỗi lần giao hàng đó cho phù

cấu vốn lưu động cần nên xem xét những nhân tố chủ yếu để có cơ cấu vốn
lưu động hợp lý.
1.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động
1.2.1. Tốc độ luân chuyển vốn lưu động
Tốc độ luân chuyển vốn lưu động là một chỉ tiêu tổng hợp đánh giá hiệu
quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp. Tốc độ luân chuyển vốn lưu
động nhanh hay chậm nói lên tình hình tổ chức các mặt: mua sắm, dự trữ sản
9
xuất, tiêu thụ của doanh nghiệp có hợp lý hay không, các khoản vật tư dự trữ
sử dụng tốt hay không, các khoản phí tổn trong quá trình sản xuất – kinh
doanh cao hay thấp…Thông qua phân tích chỉ tiêu tốc độ luân chuyển vốn
lưu động có thể giúp cho doanh nghiệp đẩy nhanh được tốc độ luân chuyển,
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động.
Tốc độ luân chuyển vốn lưu động có thể đo bằng hai chỉ tiêu là vòng
quay vốn lưu động và kỳ luân chuyển vốn lưu động.
- Vòng quay vốn lưu động là chỉ tiêu phản ánh số vòng mà vốn lưu động
quay được trong một thời kỳ nhất định, thường là một năm. Công thức tính
toán như sau:
L = M
V
LD
Trong đó: L: Vòng quay của vốn lưu động
M: Tổng mức luân chuyển vốn trong kỳ
V
LD
: Vốn lưu động
- Kỳ luân chuyển vốn lưu động là chỉ tiêu phản ánh số ngày để thực hiện
một vòng quay của vốn lưu động. Công thức tính toán như sau:
K = 360
L

Hệ số đảm nhiệm VLĐ = VLĐ bình quân
Doanh thu thuần
Hệ số đảm nhiệm vốn lưu động phản ánh số vốn lưu động cần có để đạt
được một đồng doanh thu thuần. Hệ số này càng nhỏ phản ánh hiệu quả sử
dụng vốn lưu động của doanh nghiệp càng cao.
1.2.4. Hệ số sinh lợi của vốn lưu động
Hệ số sinh lợi VLĐ = Lợi nhuận trước thuế ( hoặc sau thuế thu nhập)
Vốn lưu động bình quân
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn lưu động có thể tạo bao nhiêu
đồng lợi nhuận trước thuế (hoặc lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp).
Hệ số sinh lợi của vốn lưu động càng cao thì chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn
lưu động càng cao.
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động
1.3.1. Các nhân tố lượng hóa
Các nhân tố lượng hoá là các nhân tố mà khi chúng thay đổi sẽ làm thay
đổi các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn lưu động về mặt số lượng. Có
thể dễ thấy đó là các chỉ tiêu như: Doanh thu thuần, lợi nhuận trước thuế
(hoặc sau thuế thu nhập doanh nghiệp), vốn lưu động bình quân trong kỳ, các
bộ phận vốn lưu động…
Ta biết, vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động nên đặc
điểm vận động của vốn lưu động luôn chịu sự chi phối bởi những đặc điểm
của tài sản lưu động. Để sử dụng vốn lưu động có hiệu quả, doanh nghiệp cần
có các biện pháp quản lý tài sản lưu động một cách khoa học. Quản lý tài sản
lưu động được chia thành 3 nội dung quản lý chính: Quản lý dự trữ, tồn kho;
quản lý tiền mặt và các chứng khoán thanh khoản cao; quản lý các khoản phải
thu.
*.Quản lý dự trữ, tồn kho
Dự trữ, tồn kho là một bộ phận quan trọng của vốn lưu động, là những
bước đệm cần thiết cho quá trình hoạt động bình thường của doanh nghiệp.
11

Sự quản lý này liên quan chặt chẽ đến việc quản lý các loại tài sản gắn liền
với tiền mặt như các loại chứng khoán có khả năng thanh khoản cao.
Trong kinh doanh, doanh nghiệp phải lưu giữ tiền mặt cần thiết cho các
hoá đơn thanh toán, khi tiền mặt xuống thấp doanh nghiệp sẽ phải bổ sung
tiền mặt bằng cách bán các chứng khoán thanh khoản cao. Chi phí cho việc
12
lưu giữ tiền mặt ở đây chính là chi phí cơ hội, là lãi suất mà doanh nghiệp bị
mất đi.
Trong các doanh nghiệp lớn, luồng tiền vào ra của doanh nghiệp hàng
ngày là rất lớn, nên chi phí cho việc mua bán chứng khoán sẽ trở nên quá nhỏ
so với cơ hội phí mất đi do lưu giữ một lượng tiền mặt nhàn rỗi do vậy hoạt
động mua bán chứng khoán nên diễn ra hàng ngày ở các doanh nghiệp này.
Mặt khác, chúng ta cũng thấy tại sao các doanh nghiệp vừa và nhỏ lưu giữ
một số dư tiền mặt đáng kể.
*.Quản lý các khoản phải thu
Trong nền kinh tế thị trường, để thắng lợi trong cạnh tranh các doanh
nghiệp có thể áp dụng các chiến lược về sản phẩm, về quảng cáo, về giá cả…
Trong đó chính sách tín dụng thương mại là một công cụ hữu hiệu và không
thể thiếu đối với các doanh nghiệp. Tín dụng thương mại có thể làm cho
doanh nghiệp đứng vững trên thị trường và trở nên giàu có nhưng cũng có thể
đem đến những rủi ro cho hoạt động của doanh nghiệp. Do đó, các doanh
nghiệp cần phải đưa ra những phân tích, những nghiên cứu và quyết định có
nên cấp tín dụng thương mại cho đối tượng khách hàng đó hay không. Đây là
nội dung chính của quản lý các khoản phải thu.
+. Phân tích năng lực tín dụng của khách hàng
Để thực hiện việc cấp tín dụng cho khách hàng thì điều đầu tiên doanh
nghiệp phải phân tích được năng lực tín dụng của khách hàng. Công việc
này gồm: Thứ nhất, doanh nghiệp phải xây dựng một tiêu chuẩn tín dụng hợp
lý; Thứ hai, xác minh phẩm chất tín dụng của khách hàng tiềm năng. Nếu khả
năng tín dụng của khách hàng phù hợp với những tiêu chuẩn tín dụng tối thiểu

dụng có được chấp nhận hay không.
+. Theo dõi các khoản phải thu
Theo dõi các khoản phải thu là một nội dung quan trọng trong quản lý
các khoản phải thu. Thực hiện tốt công việc này sẽ giúp cho doanh nghiệp có
thể kịp thời thay đổi các chính sách tín dụng thương mại phù hợp với tình
hình thực tế. Thông thường, để theo dõi các khoản phải thu ta dùng các chỉ
tiêu, phương pháp và mô hình sau:
- Kỳ thu tiền bình quân (The average collection period – ACP):

Kỳ thu tiền bình quân phản ánh thời gian bình quân mà công ty thu hồi
được nợ. Do vậy, khi kỳ thu tiền bình quân tăng lên mà doanh số bán và lợi
nhuận không tăng thì cũng có nghĩa là vốn của doanh nghiệp bị ứ đọng ở
khâu thanh toán. Khi đó nhà quản lý phải có biện pháp can thiệp kịp thời.
- Sắp xếp ‘tuổi’ của các khoản phải thu
14
Kỳ thu tiền bình
quân =
Các khoản phải thu
Doanh thu tiêu thụ bình quân 1
ngày
Thông qua phương pháp sắp xếp các khoản phải thu theo độ dài thời
gian, các nhà quản lý doanh nghiệp có thể theo dõi và có biện pháp thu hồi nợ
khi đến hạn.
- Xác định số dư khoản phải thu
Sử dụng phương pháp này doanh nghiệp hoàn toàn có thể thấy được nợ tồn
đọng của khách hàng nợ doanh nghiệp. Cùng với các biện pháp theo dõi và
quản lý khác, doanh nghiệp có thể thấy được ảnh hưởng của chính sách tín
dụng thương mại và có những điều chỉnh kịp thời, hợp lý phù hợp với từng
đối tượng khách hàng, từng khoản tín dụng cụ thể.
1.3.2. Các nhân tố phi lượng hóa

1.4.1. Kế hoạch hoá vốn lưu động
Trong mọi lĩnh vực, để đạt được hiệu quả trong hoạt động một yêu cầu
không thể thiếu đối với người thực hiện đó là làm việc có kế hoạch, khoa học.
Cũng vậy, kế hoạch hoá vốn lưu động là một trong những nhiệm vụ quan
trọng hàng đầu và rất cần thiết cho các doanh nghiệp. Nội dung của kế hoạch
hoá vốn lưu động trong các doanh nghiệp thường bao gồm các bộ phận: Kế
hoạch nhu cầu vốn lưu động, kế hoạch nguồn vốn lưu động, kế hoạch sử dụng
vốn lưu động theo thời gian.
+. Kế hoạch nhu cầu vốn lưu động
Để xây dựng một kế hoạch vốn lưu động đầy đủ, chính xác thì khâu đầu
tiên doanh nghiệp phải xác định đúng nhu cầu vốn lưu động cho hoạt động
sản xuất kinh doanh. Đây là bộ phận kế hoạch phản ánh kết quả tính toán tổng
nhu cầu vốn lưu động cho năm kế hoạch, nhu cầu vốn cho từng khâu: dự trữ
sản xuất, sản suất và khâu lưu thông. Xác định nhu cầu vốn lưu động cho sản
xuất kinh doanh chính xác, hợp lý một mặt bảo đảm cho quá trình sản xuất và
tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp được tiến hành liên tục, mặt khác sẽ tránh
được tình trạng ứ đọng vật tư, sử dụng lãng phí vốn, không gây nên tình trạng
căng thẳng giả tạo về nhu cầu vốn kinh doanh của doanh nghiệp.
+. Kế hoạch nguồn vốn lưu động
Sau khi xác định được nhu cầu vốn lưu động thường xuyên cần thiết để
đảm bảo cho sản xuất được liên tục, đều đặn thì doanh nghiệp phải có kế
hoạch đáp ứng nhu cầu vốn đó bằng các nguồn vốn ổn định, vững chắc. Vì
vậy một mặt doanh nghiệp phải có kế hoạch dài hạn để huy động các nguồn
vốn một cách tích cực và chủ động. Mặt khác hàng năm căn cứ vào nhu cầu
vốn lưu động cho năm kế hoạch, doanh nghiệp phải xác định được quy mô
vốn lưu động thiếu hoặc thừa so với nhu cầu vốn lưu động cần phải có trong
năm.
Trong trường hợp số vốn lưu động thừa so với nhu cầu, doanh nghiệp
cần có biện pháp tích cực để tránh tình trạng vốn bị ứ đọng, chiếm dụng.
Trường hợp vốn lưu động thiếu so với nhu cầu, doanh nghiệp cần phải

Quản lý vốn lưu động được thực hiện theo các mô hình đã được trình
bày trong phần “các nhân tố lượng hoá ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn
lưu động của doanh nghiệp”. Vấn đề đặt ra là các nhà quản lý phải lựa chọn
mô hình nào để vận dụng vào doanh nghiệp cho phù hợp với điều kiện hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp.
Trong khi vận dụng các mộ hình quản lý vốn lưu động khoa học, doanh
nghiệp cần phải biết kết hợp các mô hình tạo sự thống nhất trong quản lý tổng
thể vốn lưu động của doanh nghiệp. Quản lý tốt vốn lưu động sẽ tạo điều kiện
cho doanh nghiệp chủ động, kịp thời đưa ra những biện pháp giải quyết các
17
vấn đề phát sinh đảm bảo việc thực hiện kế hoạch vốn lưu động, tránh thất
thoát, lãng phí từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động.
1.4.3. Rút ngắn chu kỳ sản xuất kinh doanh, giảm giá thành sản xuất
thông qua việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất
Ta biết chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp phụ thuộc vào độ dài thời
gian của các khâu: dự trữ, sản xuất và lưu thông. Khi doanh nghiệp áp dụng
các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất sẽ đảm bảo sản xuất ra những sản
phẩm có chất lượng cao, năng suất cao, giá thành hạ. Điều này đồng nghĩa với
việc thời gian của khâu sản xuất sẽ trực tiếp được rút ngắn. Mặt khác, với
hiệu quả nâng cao trong sản xuất sẽ ảnh hưởng tích cực đến khâu dự trữ và
lưu thông: chất lượng sản phẩm cao, giá thành hạ sẽ góp phần đảm bảo cho
doanh nghiệp tiêu thụ được hàng hoá nhanh hơn, giảm thời gian khâu lưu
thông, từ đó doanh nghiệp sẽ chủ động hơn trong dự trữ, tạo sự luân chuyển
vốn lưu động nhanh hơn.
1.4.4. Tổ chức tốt công tác quản lý tài chính trên cơ sở không ngừng nâng
cao trình độ cán bộ quản lý tài chính
Nguồn nhân lực luôn được thừa nhận là yếu tố quan trọng quyết định sự
thành bại của mỗi doanh doanh nghiệp. Sử dụng vốn lưu động là một phần
trong công tác quản lý tài chính của doanh nghiệp, được thực hiện bởi các cán
bộ tài chính do đó năng lực, trình độ của những cán bộ này có ảnh hưởng trực

Địa chỉ trụ sở: Cụm công nghiệp Cành Hầu, Phường Lãm Hà, quận
Kiến an Hải Phòng
Điện thoại:0313.777.889,
fax: 0313.777.777.
Ngành nghề kinh doanh: vận tải hành khách bằng Taxi hàng hóa bằng
đường bộ bán buôn xăng dầu ô tô… bồi dưỡng bổ túc cho lái xe và đào tạo
nghề lái xe cho taxi. dịch vụ giao nhận hàng hóa, lầm thủ tục hải quan, tờ khai
xuất nhập khẩu hàng hóa, khách sạn nhà nghỉ, đại lý du lịch,
Công ty cổ phần Én Vàng Quốc Tế( được chuyển từ công ty TNHH
vân tải An Thái, giấy CNĐKKD số 0202000930 do phòng ĐKKD sở
KH&ĐT Hải Phòng cấp ngày 24-9-2002).
2.1.2. Cơ cấu tổ chức sản xuất
Kể từ khi được thành lập cho đến nay Công ty luôn lấy phương châm “
Én Vàng Quốc Tế sẽ dung nạp những ai có khát vọng làm việc, có tâm huyết
với nghề vận tải, tất cả họ đều có cơ hội được tham gia cổ đông. Nghĩa là
được tham gia làm chủ “ để làm mục tiêu phát triển sản xuất kinh doanh giải
quyết việc làm, ổn định và không ngừng cải thiện đời sống của cán bộ công
nhân viên là nhiệm vụ trọng tâm, đòi hỏi thực tiễn của thị trường để xây dựng
tổ chức thực hiện hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu kế hoạch, xây dựng Công
ty ngày càng vững mạnh.
Cơ cấu tổ chức của Tổng công ty gồm có:
*Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát
*Tổng giám đốc và các phòng ban
Hội đồng quản trị: có trách nhiệm xây dựng điều lệ tổ chức và hoạt động
của Tổng công ty. Hội đồng quản trị có chức năng quản lý hoạt động của
Tổng công ty, chịu trách nhiệm trước Bộ Công nghiệp và Chính phủ, về sự
phát triển của Tổng công ty theo nhiệm vụ của Nhà nước giao.
Hội đồng quản trị gồm 5 thành viên:
1 Chủ tịch hội đồng quản trị
1 Thành viên kiêm Tổng Giám đốc

BAN KIỂM
SOÁT
TỔNG
GIÁM ĐỐC
PHÒNG HÀNH
CHÍNH NHÂN SỰ
PHÒNG KẾ TOÁN
TÀI CHÍNH
HỘI ĐỒNG
QUẢN TRỊ
TRUNG TÂM
ĐIỀU HÀNH
PHÒNG
KINH DOANH

2.1.3. Đặc điểm hoạt động kinh doanh
Công ty Cổ Phần Én Vàng Quốc Tế được thành lập dựa trên 3 thương
hiệu vận tải mạnh tại Hải Phòng là Hoàng Long – Hải Âu – Bình Dân. Ngành
nghề kinh doanh chính : Kinh doanh vận chuyển hàng hóa bằng xe taxi tải và
xe taxi khách. Hiện nay công ty có hơn 100 đầu xe tải cùng với hơn 200 đầu
xe taxi khách và vẫn tiếp tục đầu tư thêm nhằm đáp ứng nhu cầu của người
dân.
Công ty có hệ thống điều hành tổng đài hiện đại đáp ứng đầy đủ các
yêu cầu trong việc kinh doanh taxi, tạo ra lợi thế lớn trong quá trình kinh
doanh và phục vụ khách hàng.
2.2. Đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty Cổ
phần Én Vàng Quốc Tế
Bảng 2.1. Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty qua các năm
Đơn vị : Triệu đồng
S

9 Chi phí tài chính 17.695 18.765 19.098 1.070 6 333 1,8
10 Lợi nhuận từ HĐKD 17.146 17,955 47.596 809 4,7 19.641 165,1
11 Các khoản thu nhập
khác
8.987 9.765 11.235 778 8,7 1.470 15,1
12 Chi phí khác 7.796 8.967 8.566 1.771 22,7 -401 -4,5
13 Lợi nhuận khác 1.191 798 2.669 -393 -33 1.871 234,5
14 Lợi nhuận trước thuế 18.337 18.753 50.265 416 2,3 31.512 168
15 Thuế TNDN phải nộp - - - - - - -
16 Lợi nhuận sau thuế 18.337 18.753 50.265 416 2,3 31.512 168
Kết quả hoạt động kinh doanh là chỉ tiêu tổng hợp nhất đánh giá hiệu
quả sử dụng vốn nói chung và vốn lưu động nói riêng của doanh nghiệp. Vì
vậy trước khi xem xét hiệu quả sử dụng vốn lưu động của công ty, chúng ta
xem xét một cách khái quát kết quả hoạt động kinh doanh của công ty trong 3
năm gần đây.
Mặc dù trong những năm gần đây công ty gặp không ít khó khăn do
mới chuyển đổi từ công ty TNHH sang công ty cổ phần nhưng với sự nỗ lực
không ngừng, công ty đã đạt được những kết quả rất đáng khích lệ.
Qua bảng 2.1 ta thấy, tổng doanh thu năm 2009 là 187.940 triệu đồng
tăng 39,7% (tương ứng với 53.480 triệu đồng) so với năm 2008, doanh thu
năm 2010 là 246.022 triệu đồng tăng 30,9% (+58.082 triệuđồng) so với năm
2009. Cho thấy kết quả kinh doanh của công ty khá khả quan.
Giá vốn hàng bán năm 2009 là 145.576 triệu đồng ,tăng 50,7 % so với
năm 2008, trong khi đó năm 2010 là 174.876 triệuđồng tăng 20,1% so với
năm 2009 (+ 29.390 triệuđồng), như vậy so sánh năm 2010 với năm 2009 tốc
độ tăng của doanh thu thuần cao hơn tốc độ tăng của giá vốn là do những năm
gần đây công ty đã chú trọng đến các điểm tiếp thị lớn, thường xuyên quảng
bá trên các phương tiện truyền thông để tăng khách hàng trong dân đồng thời
đầu tư thêm đầu xe, đây là một trong các nguyên nhân chủ yếu làm tăng lợi
nhuận của công ty.

Tổng doanh thu thuần 134.532 100 187.940 100 246.022 100
Năm 2009, doanh thu thuần của tăng trưởng 32,5% so với so với năm
2008. Đến hết năm 2010, hoạt động kinh doanh vẫn tiếp tục khả quan với
doanh thu thuần đạt được bằng 130,9% doanh thu thuần năm 2009. Xét riêng
từng mảng hoạt động của Công ty thì doanh thu thuần từ hoạt động dịch vụ
taxi chiếm tỷ trọng rất lớn và gần như tuyệt đối trong tổng doanh thu thuần
của Công ty. Điều này cho thấy Công ty luôn theo đuổi chiến lược kinh doanh
tập trung vào hoạt động cốt lõi taxi mà Công ty đã và đang xây dựng được
thương hiệu và vị thế vững chắc trên thị trường. Cho đến thời điểm hiện nay,
Công ty là một trong những đơn vị hàng đầu về lĩnh vực vận tải taxi tại Hải
Phòng. Vì thế, mặc dù các doanh nghiệp khác cùng ngành gặp khó khăn do
ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế, Công ty vẫn đảm bảo được mục tiêu tăng
trưởng doanh thu.
2.3. Tình hình sử dụng vốn lưu động tại Công ty Cổ Phần Én Vàng Quốc
Tế
24
2.3.1.Khái quát về tình hình tài chính của Công ty
Để có thể phân tích chi tiết về hiệu quả sử dụng vốn lưu động của Công
ty Cổ phần Én Vàng Quốc Tế ta cần có cái nhìn khái quát về tình hình hoạt
động của Công ty trong những năm gần đây. Nhìn tổng thể kết quả kinh
doanh của Công ty, ta có thể thấy phần nào hiệu quả hoạt động, xu hướng
phát triển theo các giai đoạn, tuy nhiên để có thể hiểu sâu về tình hình tài
chính không thể không xét đến tình hình vốn kinh doanh của công ty.
*.Tình hình vốn kinh doanh
Bảng 2.3. Tình hình vốn kinh doanh
Đơn vị: Triệuđồng
Chỉ
Tiêu
Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010 2009/2008 2010/2009
Giá trị Tỷ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status