Câu 1: So sánh sự khác nhau giữa quản lý hành chính nhà nước với các dạng quản
lý xã hội khác. Phân tích vai trò của quản lý hành chính nhà nước với sự phát triển của
kinh tế xã hội.
Nhà nước là một tổ chức quyền lực chính trị, có bộ máy chuyên trách để cưỡng chế và
quản lý xã hội nhằm thực hiện và bảo vệ trước hết lợi ích của giai cấp thống trị trong xã hội có
giai cấp đối kháng, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng
cộng sản trong xã hội xã hội chủ nghĩa. Do đó quản lý nhà nước là khâu rất quan trọng trong
quá trình phát triển nhà nước. Để hiểu được quản lý nhà nước là gì, chúng ta lần lượt tìm hiểu
các khái niệm:
Quản lý: quản lý là sự tác động có định hướng và tổ chức của chủ thể quản lý lên đối
tượng quản lý bằng các phương thức nhất định để đạt tới những mục tiêu nhất định.
Quản lý nhà nước: là hoạt động thực thi quyền lực nhà nước do các cơ quan nhà nước
tiến hành đối với tất cả mọi cá nhân và tổ chức trong xã hội, trên tất cả các mặt của đời sống xã
hội bằng cách sử dụng quyền lực nhà nước có tính cưỡng chế đơn phương nhằm mục tiêu phục
vụ lợi ích chung của cả cộng đồng. duy trì ổn định, an ninh trật tự và thúc đẩy xã hội phát triển
theo một định hướng thống nhất của nhà nước. Ví dụ: Để nhằm đảm bảo an toàn cho những
người tham gia giao thông, chính phủ ra Nghị định bắt buộc mọi người ngồi trên xe gắn máy,
khi tham gia giao thông phải đội mũ bảo hiểm. Nếu ai không chấp hành sẽ bị cưỡng chế của nhà
nước, mà cụ thể sẽ bị xử phạt theo luật định.
Quản lý hành chính nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà
nước với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của công dân do các cơ quan trong hệ thống
hành pháp từ trung ương đến cơ sở tiến hành để thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của
Nhà nước, phát triển các mối quan hệ xã hội duy trì trật tự an ninh, thõa mãn các nhu cầu hợp
pháp của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Quản lý hành chính nhà nước là
một bộ phận của quản lý nhà nước
Sự khác nhau của quản lý hành chính và các dạng quản lý xã hội khác:
Về phạm vi quản lý: đối với quản lý hành chính nhà nước chỉ diễn ra trong lĩnh vực của
hành chính nhà nước, còn quản lý xã hội quản lý chung bao gồm tất cả các mặt, các lĩnh vực
của đời sống xã hội.
Về mặt chủ thể quản lý: đối với quản lý hành chính nhà nước, chủ thể quản lý là các cơ
quan từ trung ương đến địa phương, các cán bộ, công chức nhà nước được trao quyền chấp
chiếnbinh…
Vai trò của quản lý hành chính nhà nước đối với sự phát triển của xã hội:
- Góp phần quan trọng trong việc hiện thực hóa chủ trương, đường lối chính trị. Đường
lối chính trị của đảng được thể chế hóa vào trong các văn bản pháp luật, chính sách của nhà
nước. Chính sách, pháp luật của nhà nước là các quy định cụ thể, thể hiệ và là cơ sở để triển
khai quan điểm, đường lối của đảng vào thực tiển cuộc sống. Thông qua việc sử dụng chính
sách pháp luật để tổ chức triển khai các hoạt động quản lý đối với xã hội, quản lý hành chính
nhà nước góp phần hiện thực hóa quan điểm, đường lối chính trị của đảng.
Ví dụ: mục tiêu của đảng và nhà nước ta đã nhất quán lựa chọn và luôn kiên định đi theo:
dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Để thực hiện được mục tiêu này, Đảng
phải đề ra được các chính sách, đường lối để tiến hành xóa đói giảm nghèo cho bà con nhân
dân, đặc biệt là đối với bà con ở các vùng sâu, vùng xa, kinh tế còn gặp nhiều khó khăn, đời
sống văn hóa còn nhiều hạn chế. Trên cơ sở các chủ trương, đương lối của đảng, chính phủ
phải đưa ra các chiến lược, các đề án, dự án như chương trình cho vay vốn, chương trình 135
cho bà con nhân dân ở vùng sâu, vùng xa vay vốn làm kinh tế thoát nghèo… cùng với đảng và
nhà nước, các cơ quan ở địa phương có trách nhiệm phối hợp để góp phần trong việc thực hiện
mục tiêu chung của đất nước.
- Định hướng, dẫn dắt sự phát triển kinh tế-xã hội thông qua hệ thống pháp luật và chính
sách của nhà nước. Để cho hoạt động kinh tế- xã hội phát triển theo đúng mục tiêu, các cơ quan
hành chính nhà nước quản lý vĩ mô đối với các đơn vị, tổ chức. Những định hướng lớn, mục
tiêu phát triển của đất nước trong mỗi giai đoạn phát triển sẽ được thể hiện trong các chính
sách, pháp luật của nhà nước. Thông qua sự tác động của các công cụ quản lý như pháp luật, kế
hoạch, chính sách lên các quan hệ xã hội, các cơ quan quản lý hành chính nhà nước chủ động
dự kiến những mục tiêu và phương hướng thực hiện mục tiêu phát triển của đất nước. Làm như
vậy sẽ hướng các hoạt động kinh tế- xã hội vận hành để đạt được những mục tiêu phát triển mà
Nhà nước đã đặt ra.
2
2
cơ quan quản lý hành chính nhà nước có thẩm quyền sử dụng pháp luật để giải quyết các tranh
chấp, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể.
Ví dụ: trong lĩnh vực tranh chấp đất đai. Nhà nước cần phải sử dụng pháp luật để giải
quyết các vụ kiện, bồi thường xung quanh lĩnh vực này.
Từ những phân tích trên, chúng ta có thể thấy rằng quản lý HCNN có vai trò hết sức quan
trọng trong việc quản lý và phát triển xã hội ở các quốc gia nói chung và Việt Nam nói riêng.
Làm tốt công tác QLHCNN sẽ góp phần quan trọng vào việc quản lý phát triển xã hội. Công tác
QLHCNN ở nước ta nói chung và Quảng Trị nói riêng đã được chú trọng, Nhà nước đã triển
khai nhiều chương trình CCHC ở nhiều lĩnh vực khác nhau đã mang lại nhiều kết quả nhất định.
3
3
Tuy nhiên, hiện nay trong lĩnh vực QLNN vẫn còn nhiều bất cập nhiều chính sách ban hành
chồng chéo khó thực thi, sự phân cấp giữa TW và địa phương chưa rõ ràng, bố máy HCNN còn
cồng kềnh, hoạt động kém hiệu quả, chi phí cho bộ máy lớn. Tất cả những hạn chế này đã ảnh
hưởng lớn đến quá trình phát triển của xã hội.
Để khắc phục những mặt trên đây, chúng ta cần tiếp tục cải cách công tác quản lý hành
chính nhà nước theo hướng tinh gọn, hiệu quả, phân định trách nhiệm nghĩa vụ và quyền hạn rõ
ràng, cụ thể giữa TW và địa phương đồng thời quy định rõ chức trách của những người tham
gia vào việc quản lý HCNN. Thực hiện tốt những giải pháp trên đây sẽ góp phần nâng cao vai
trò quản lý HCNN đối với sự phát triển của xã hội.
4
4
Câu 2: Phân tích những nguyên tắc chung về lựa chọn, bố trí và sử dụng cán bộ,
đúng tiêu chuẩn, phù hợp với sở trường. Đề bạt cán bộ phải đúng lúc, đúng người, đúng việc”.
Những quan điểm của Đảng về công tác cán bộ là những định hướng hết sức quan trọng
cho việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn quản lý và sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức. Đây
cũng là cơ sở để xây dựng các nguyên tắc khoa học trong việc lựa chọn, bố trí và sử dụng cb,
cc. Sau đây là một số nguyên tắc cơ bản cần chú ý:
1. Nguyên tắc bảo đảm đúng tiêu chuẩn cán bộ, công chức được bố trí, sử dụng
Nghị quyết Hội nghị lần thứ chín Ban chấp hành trung ương khóa X đã khẳng định tiếp
tục thực chiến lược cán bộ. Do đó, bố trí sử dụng cán bộ, công chức phải theo đúng các tiêu
chuẩn sau:
- Tiêu chuẩn chung:
+ Có tinh thần yêu nước sâu sắc, tận tụy phục vụ nhân dân, kiên định mục tiêu độc lập
dân tộc và chủ nghĩa xã hội, phấn đấu thực hiện có kết quả đường lối của Đảng, chính sách và
pháp luật của Nhà nước.
5
5
+ Cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư. Không tham nhũng và kiên quyết đấu tranh
chống tham nhũng. Có ý thức tổ chức kỷ luật; trung thực không cơ hội, gắn bó mặt thiết với
nhân dân, được nhân dân tín nhiệm.
+ Có trình độ hiểu biết về lý luận chính trị, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách và
pháp luật của Nhà nước; có trình độ văn hóa, chuyên môn, đủ năng lực và sức khỏe để làm việc
có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao.
+ Các tiêu chuẩn đó có quan hệ mặt thiết với nhau. Coi trọng cả đức và tài, đức là gốc.
- Ngoài các tiêu chuẩn chung nói trên, cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, đoàn thể nhân
dân còn phải:
+ Có bản lĩnh chính trị vững vàng trên cơ sở lập trường giai cấp công nhân, tuyệt đói
trung thành với lý tưởng cách mạng, với chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Có
năng lực dự báo và định hướng sự phát triển, tổng kết thực tiễn, tham gia xây dựng đường lối,
hoạch, thể hiện được quan điểm trẻ hoá, quan tâm cán bộ nữ, đội ngũ kế cận.
6
6
Thực hiện luân chuyển một số chức danh cán bộ lãnh đạo, quản lý trong quy hoạch cấp
uỷ, cán bộ chủ chốt cấp thành phố về giữ chức vụ chủ chốt ở cấp phường. Trước hết, ưu tiên
cho những phường còn nhiều cán bộ chủ chốt chưa đạt chuẩn, nơi tình hình phức tạp, yếu kém,
nội bộ mất đoàn kết… vừa nhằm củng cố và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của hệ
thống chính trị ở cơ sở, vừa tạo điều kiện cho số cán bộ chưa đạt chuẩn đi đào tạo nâng cao
trình độ học vấn và lý luận chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ.
2. Nguyên tắc khách quan, công bằng
Nguyên tắc này đòi hỏi việc lựa chọn, bố trí và sử dụng cán bộ công chức phải căn cứ
vào nhu cầu thực tế của công việc, căn cứ vào hệ thống văn bản của Nhà nước hoặc của cơ quan
có thẩm quyền ban hành. Tiêu chuẩn chức danh, năng lực thực tế và kết quả đánh giá được coi
là những căn cứ chính để bố trí, sắp xếp cán bộ, công chức. Nguyên tắc khách quan, công bằng
giúp loại trừ yếu tố chủ quan, cảm tính hay thiên vị trong công tác bố trí và sử dụng cán bộ như
lựa chọn, sắp xếp cán bộ, công chức không đủ tiêu chuẩn vào các chức danh quản lý, ưu tiên
người nhà, người “ăn cánh” hoặc có hành vi “hối lộ”.
Đông Hà đã cụ thể hóa tiêu chuẩn đối với từng chức danh cán bộ, công chức để đánh giá
đúng cán bộ, công chức. Đây là căn cứ, là tiêu chí rất quan trọng để các cơ quan Nhà nước tiến
hành nhận xét, đánh giá cán bộ. Các cơ quan nhà nước ở Đông Hà đã tiến hành bàn bạc, thảo
luận, thống nhất đánh giá từng cán bộ, công chức trên cơ sở tiêu chuẩn được xây dựng, đặc biệt
phải lấy hiệu quả công tác thực tế và sự tín nhiệm của quần chúng nhân dân làm thước đo chủ
yếu. Trước khi thảo luận đánh giá cán bộ, cần tổ chức lấy ý kiến tín nhiệm của quần chúng, các
cơ quan, đoàn thể nơi cán bộ, công chức công tác để tham khảo. Tránh cách làm chủ quan,
phiến diện, duy ý chí, không có căn cứ tiêu chuẩn cụ thể của từng chức danh cán bộ, công chức.
3. Nguyên tắc tập trung dân chủ
Trong lựa chọn, bố trí và sử dụng cán bộ, công chức phải chú ý tới hai mặt tập trung và
công việc và trình độ, khả năng thực hiện công việc được giao của CBCC để điều chỉnh, bổ
sung cho phù hợp. Kết quả khảo sát, điều tra cho thấy trình độ chuyên môn, nghiệp vụ đã và
đang từng bước được nâng lên, cùng với điều kiện, phương tiện làm việc, thông tin liên lạc
ngày càng phát triển, góp phần nâng cao năng lực thực hiện công việc của CBCC.
5. Nguyên tắc đảm bảo cơ cấu hợp lý giữa các nhóm cán bộ, công chức
Nguyên tắc này đòi hỏi trong lựa chọn, bố trí, sử dụng cán bộ cần kết hợp tốt để có cơ
cấu hợp lý giữa người già với người trẻ, người tại địa phương và người nơi khác tới, cán bộ
công chức nam với cán bộ công chức nữ và giữa các ngạch bậc khác nhau.
Nguyên tắc này có vai trò rất lớn trong việc phát huy sức mạnh của tập thể, của tổ chức
nhờ việc bổ sung cho nhau về kiến thức, kinh nghiệm thực tiễn, chuyên môn nghiệp vụ … của
các nhóm cán bộ, công chức khác nhau.
Các cơ quan quản lý của Đông Hà thường xuyên xem xét bổ sung, điều chỉnh công việc
một cách hợp lý; tiến hành phân công, bố trí lại, luân chuyển giữa các bộ phận, các phường để
tránh sự nhàm chán, tăng sự hứng thú, phát huy hết khả năng, tạo động lực làm việc cao nhất
cho từng CBCC thực hiện tốt công việc được giao. Đội ngũ cán bộ công chức tại UBND các
phường có cơ cấu hợp lý, đảm bảo gọn nhẹ, hoạt động có chất lượng, số lượng công chức
không quá đông cũng không quá ít. Đông Hà đã tạo ra cơ cấu hợp lý về giới tính, độ tuổi, trình
độ đào tạo, điều kiện công tác để tạo nên sức mạnh tổng hợp, tính năng động, phối hợp nhịp
nhàng, hài hòa và sự kế thừa, phát triển trong đội ngũ cán bộ, công chức.
6. Nguyên tắc đảm bảo quyền việc lựa chọn và sử dụng cán bộ, công chức phải dựa
trên quy hoạch cán bộ, công chức
Nguyên tắc này đòi hỏi cơ quan tổ chức phải xây dựng các chính sách và biện pháp để
tạo nguồn cán bộ, công chức, đặc biệt là cán bộ, công chức lãnh đạo. Làm tốt công tác này sẽ
đảm bảo tính chủ động và ổn định trong hoạt động của cơ quan, tổ chức nói chung và trong
công tác cán bộ nói riêng. Đây cũng là cơ sở để thực hiện các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng dựa
vào nhu cầu công việc.
Đông Hà đã xây dựng quy chế đào tạo và chính sách hỗ trợ kinh phí cho từng loại cán bộ
được cử đi học, hàng năm đã bố trí hơn 200 triệu đồng để cho công tác đào tạo cán bộ. Đồng
thời có chính sách khuyến khích cán bộ đi học và sinh viên học giỏi về công tác tại thành phố,
như hỗ trợ hàng tháng cho học sinh học đại học ở các ngành nghề mà thành phố đang cần, các
Câu 3: Phân tích các nguyên tắc QLHCNN về đất đai. Liên hệ thực tế tại địa
phương.
Đât đai là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, là điều kiện tồn tại và phát triển
của con người và các sinh vật khác ở trên trái đất. Dưới gốc độ chính trị pháp lý, đất đai là một
bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ quốc gia gắn liền với chủ quyền quốc gia; Không thể
quan niệm về một quốc gia không có đất đai. Tôn trọng chủ quyền quốc gia trước hết là tôn
trọng lãnh thổ quốc gia.
QLNN về đất đai là một lĩnh vực của QLNN, là hoạt động của CQQLNN có thẩm
quyền, người có thẩm quyền trong việc sử dụng các phương pháp, các công cụ quản lý thích
hợp tác động đến hành vi, hoạt động của người sử dụng đất nhằm đạt mục tiêu sử dụng đất tiết
kiệm, hiệu quả và bảo vệ môi trường trên phạm vi cả nước và ở từng địa phương.
* Nguyên tắc quản lý HCNN về đất đai:
Nguyên tắc quản lý NN về đất đai là những tư tưởng chủ đạo có tính chất bắt buộc
mà các cơ quan quản lý NN và các chủ thể sử dụng đất phải tuân theo trong quá trình quản lý và
sủ dụng đất. NN quản lý đất đai theo các nguyên tắc sau:
1/ Bảo đảm quản lý đúng thẩm quyền pháp lý:
Điều 53 Hiến pháp 2013 quy định “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản,
nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu
tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống
nhất quản lý.”
Do tính chất đặc biệt của đất đai nên NN cũng quy định rất rõ về thẩm quyền của
các CQNN trong công tác quản lý, cụ thể: QH có thẩm quyền ban hành pháp luật về đất đai,
quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cả nước, thực hiện quyền giám sát tối cao đối
với việc quản lý và sử dụng đất đai trong phạm vi cả nước.
CPhủ quyết định quy hoạch, kế hoach sử dụngug đất của tỉnh, thành phố trực thuộc
TW và quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất vào mục đích quốc phòng, an ninh, thống nhất QLNN
về đất đai trong pham vi cả nước.
Bộ TN và MT chịu trách nhiệm trước CP trong việc QLNN về đất đai
HĐND các cấp thực hiện quyền giám sát việc thi hành PL về đất đai tại địa phương
UBND các cấp thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu về đất đai và QLNN về đất đai
Trong QLNN về ktế nói chung và về đất đai nói riêng cần chú trọng kết hợp hài hòa giữa
lợi ích của NN, lợi ích cộng đồng với lợi ích của người sử dụng đất, bởi vì đất đai không chỉ là
tài sản của quốc gia, mà còn là tư liệu sx của người sử dụng đất, nhất là đối với nông dân VN.
Nếu chỉ coi trọng lợi ích của NN, xem nhẹ lợi ích của người sử dụng đất thì không động viên
được người sử dụng đất phát huy tính tích cực, sáng tạo trong sự ptriển ktế của đất nước. Ngược
lại, nếu chỉ chú ý đến lợi ích của người sử dụng đất thì sẽ làm ảnh hưởng đến lợi ích của quốc
gia.
Với tình hình hiện nay, khi tốc độ đô thị hóa ngày càng cao diễn ra trên địa bàn cả
nước đang ngày càng làm cho quỹ đất nông nghiệp bị thu hẹp dần. Trước tình hình đó, NN ta đã
ra nhiều văn bản để hạn chế tình hình đó:
- NN có chính sách bải vệ đất trồng lúa nước, hạn chế chuyển đất chuyên trồng lúa nước
sang sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp.
- Người sử dụng đất chuyên trồng lúa có trách nhiệm cải tạo, bồi bổ, làm tăng độ
màu mỡ của đất.
5/ Ng tắc sử dụng đất tiết kiệm và hiệu quả, bv môi trường và không làm tổn
hại đến lợi ích chính đáng của người sử dụng đất:
Khoản 1 và 2 Điều 6 Luật đất đai 2013 quy định:
“1. Đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và đúng mục đích sử dụng đất.
11
11
2. Tiết kiệm, có hiệu quả, bảo vệ môi trường và không làm tổn hại đến lợi ích chính đáng
của người sử dụng đất xung quanh.”
Sử dụng đất đai tiết kiệm, hiêu quả và bv môi trường vừa là nguyên tắc vừa là mục tiêu
của QLNN về đất đai, bởi vì đất đai là nguồn tài nguyên quý giá có giới hạn về mặt số lượng
(S), trong khi đó sức ép về mặt dân số và nhu cầu sử dụng đát ngày càng tăng.
Nhà nước k.khích các hành vi cải tạo, bồi bổ, đầu tư công của, làm tăng khả năng
sinh lợi cho đất. Các chủ thể sử dụng đất có nghĩa vụ băt buộc phải cải tạo, bồi bổ, làm tăng độ
12
Công tác tuyên truyền, phổ biến về các quy định của luật đất đai chưa được thường
xuyên liên tục, việc áp dụng vào thực tế còn lúng túng, sai phạm. Khiếu nại tố cáo tranh chấp
đất đai còn nhiều chiếm phần lớn
Công tác lập quy hoạch, kế hoạch điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất thiếu kịp thời, quy
hoạch tổng thể chi tiết phân khu thiếu đồng bộ. Việc quy hoạch phát triển như khoáng sản, du
lịch còn có sự chồng chéo, vấn đề cấp nhận chứng nhận quyền sử dụng đất còn chậm, nhiều địa
phương, đơn vị chưa bố trí quỹ đất để thực hiện xã hội hóa giáo dục, đào tạo y tế, văn hóa, du
lịch...
Vấn đề rà soát, thu hồi đất của một số tổ chức, doanh nghiệp được nhà nước giao đất sử
dụng sai mục đích, chuyển nhượng trái phép, trong khi nhu cầu sử dụng đất của người dân
không được đáp ứng
Công tác thanh tra kiểm tra thiếu sự phân công phân cấp và phối hợp gữa các chính
quyền cấp huyện với các cơ quan quản lý nhà nước. Đối với nhưng nơi không có HĐND không
có cơ quan nào đảm nhiệm nên xảy ra vi phạm chậm được phát hiện và xử lý
Giải pháp: để sử dụng đất đai có hiệu quả hơn, đồng thời sớm phát hiện những vi phạm
để khác phục, nhất là các huyện đang thí điểm không tổ chức HĐND ở tỉnh Quang trị nói riêng
và cả nước nói chung cần phải:
Thứ nhất, cần phải chấn chỉnh công tác quản lý đất đai ở cơ sở. Đây là vấn đề then chốt
trong việc thực hiện luật đất đai. Chính sách tốt đến đâu vẫn có sơ hở để kẻ xấu trục lợi. Vấn đề
dân chủ luôn nóng bỏng ở địa phương, ở đâu quy chế dân chủ phát huy tốt thì ở đấy ít có các
vấn đề bức xúc, không chỉ riêng ở lĩnh vực đất đai. Giải pháp cơ bản và lâu dài là phát huy dân
chủ trong quản lý đất đai, có cơ chế phản hồi ý kiến, bịt dần các kẽ hở trong luật pháp, lành
mạnh hoá thị truờng, những tiêu cực sẽ không còn đất sống. Thiết thực nhất là có một đường
dây nóng, cập nhật tất cả những phát sinh, xử lý từ lúc còn chưa phức tạp, lan rộng và ảnh
hưởng lớn đến quản lý và sử dụng đất.
Thứ hai, cần có sự chấn chỉnh, đổi mới việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về
Nguyên tắc tập trung dân chủ là sự kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa hai mặt cơ bản "tập
trung" và "dân chủ" trong mối quan hệ hữu cơ biện chứng chứ không phải chỉ là tập trung hoặc
chỉ là dân chủ. "Dân chủ" là điều kiện, là tiền đề của tập trung; cũng như "tập trung" là cái bảo
đảm cho dân chủ được thực hiện. Hay nói cách khác, tập trung phải trên cơ sở dân chủ; dân chủ
phải trong khuôn khổ tập trung.
Hướng vận dụng của nguyên tắc tập trung dân chủ:
- Bảo đảm sự chỉ đạo, điều hành tập trung của cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế ở
Trung ương đối với cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế ở địa phương, của cấp trên với cấp
dưới, của các cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế với các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh
doanh; đồng thời vẫn bảo đảm quyền độc lập, chủ động, sáng tạo nhất định trong quá trình thực
hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao của các địa phương, cơ sở, của cấp dưới và
quyền tự chủ trong hoạt động sản xuất, kinh doanh.
- Quyền của mỗi bên (Nhà nước và công dân; cấp trên và cấp dưới) phải được xác lập
một cách có căn cứ khoa học và thực tiễn. Có nghĩa là, phải xuất phát từ yêu cầu và khả năng
làm chủ của mỗi chủ thể: Nhà nước và công dân, cấp trên và cấp dưới.
- Trong mỗi cấp của hệ thống quản lý nhiều cấp của Nhà nước phải bảo đảm vừa có cơ
quan thẩm quyền chung, vừa có cơ quan thẩm quyền riêng. Mỗi cơ quan phải có thẩm quyền rõ
ràng, phạm vi thẩm quyền của cơ quan thẩm quyền riêng phải trong khuôn khổ thẩm quyền
chung.
Thực tế hiện nay, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản lý nhà nước về kinh
tế vẫn còn xảy ra tình trạng đó là:
Thứ nhất, quá nhấn mạnh đến tập trung mà hạn chế quyền dân chủ: Các tổ chức, cá nhân
sản xuất, kinh doanh còn quá dựa vào các chủ trương, đường lối của Nhà nước, thụ động trước
các chính sách, chỉ tiêu của Nhà nước nên đã hạn chế đến quyền tự chủ, sáng tạo trong sản xuất,
kinh doanh của địa phương, làm cho năng suất lao động, chất lượng, hiệu quả thấp.
Thứ hai, tuyệt đối hóa quyền tự chủ của địa phương, cấp dưới và các tổ chức, cá nhân sản
xuất, kinh doanh mà hạ thấp vai trò chỉ đạo tập trung thống nhất cần thiết của Trung ương, của
cấp trên dẫn đến dân chủ quá trớn, vô tổ chức, phân tán, tùy tiện, ỷ lại trong hoạt động kinh tế.
Hai là, nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành và quản lý theo lãnh thổ:
Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại Hội Đại Biểu toàn quốc
Khu công nghiệp Bình Dương thuộc tỉnh Bình Dương của vùng Đông Nam Bộ có các
ban quản lý do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập, là cơ quan trực thuộc UBND tỉnh
Bình Dương, chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế, chương trình kế hoạch công tác và
kinh phí hoạt động của UBND tỉnh. Chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn và kiểm tra về chuyên môn
nghiệp vụ của các Bộ, Ngành, lĩnh vực có liên quan, có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với các
cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh trong công tác quản lý khu công nghiệp.
Khu công nghiệp Bình Dương đã thể hiện rất rõ sự kết hợp giữa quản lý ngành với quản
lý lãnh thổ, thể hiện được sự hỗ trợ, phối hợp, đem lại sự phát triển không chỉ đối với khu công
nghiệp mà còn đưa tỉnh Bình Dương trở thành một trong những tỉnh phát triển hàng đầu của
Đông Nam Bộ.
Tuy nhiên việc thực hiện nguyên tắc vẫn còn nhiều thiếu sót và hạn chế:
Thứ nhất: đó là việc "xé rào” trong hoạt động ban hành văn bản quy phạm của địa
phương trái với quy định của cơ quan quản lý ngành, chức năng. Có một số cơ quan địa phương
vì lợi ích nhất thời mà bỏ qua văn bản thủ tục hành chính mà pháp luật đã quy định, để cấp giấy
phép hoạt động đó ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển chung của đất nước.
Thứ hai: là sự phối hợp không chặt chẽ trong việc tổ chức, thực hiện các quy định của
ngành ở địa phương.
Thứ ba: đó là việc bất cập trong hoạt động kiểm tra giám sát thực hiện các quy định của
ngành tại địa phương.
Điều đó đòi hỏi các cơ quan nhà nước, các ban ngành phải không ngừng nâng cao việc
kết hợp chặt chẽ giữa quản lý ngành với quản lý lãnh thổ, để khắc phục những hạn chế nhằm
phát triển kinh tế địa phương và phát triển kinh tế đất nước.
Ba là, phân định quản lý nhà nước về kinh tế và quản lý sản xuất kinh doanh:
Quản lý nhà nước về kinh tế với quản lý sản xuất - kinh doanh là hai phạm trù, hai mặt
khác nhau của quá trình quản lý, có sự phân biệt này vì:
Thứ nhất, trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp không tồn tại sự phân
biệt giữa quản lý nhà nước về kinh tế và quản lý sản xuất kinh doanh. Nhà nước can thiệp sâu
rộng, triệt để và toàn diện vào mọi hoạt động SX-KD của các doanh nghiệp, đồng thời, các
doanh nghiệp lại được giao thực hiện một số chức năng vượt quá khả năng, tầm kiểm soát.
Thứ hai, việc phân biệt quản lý nhà nước về kinh tế và quản lý sản xuất kinh doanh sẽ
Bộ máy quản lý doanh nghiệp
Quản lý một đơn vị sản xuất,
kinh doanh cụ thể (quản lý vi mô).
Phạm vi quản
Toàn bộ ngành, lĩnh vực nền
Các yếu tố sản xuất – kinh
kinh tế quốc dân (quản lý vĩ mô). doanh của doanh nghiệp.
Vd: SX cái gì, SX cho ai? SX
như thế nào?
Tạo môi trường thuận lợi cho
sx kinh doanh, điều tiết các mối
quan hệ trong kinh tế phát triển ổn
Mục tiêu
Mục tiêu chính là vì lợi nhuận
định theo định hướng và có trật tự vì
mục têu "Dân giàu, nước mạnh,
DC, CB, VM"
Nguồn
nhân
CB, CC nhà nước
Thuê mướn lao động
Nguồn lực
NSNN
Doanh thu của doanh nghiệp
trả lương cho người làm
Tạo hành lang pháp lý cho
việc kinh doanh phát triển nếu đem lại lợi nhuận cho đất nước. Doanh nghiệp phát triển theo
mệnh lệnh của nhà nước ban ra, phải chịu sự quản lý của nhà nước.
Bốn là, nguyên tắc tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong quản lý nhà nước về kinh
tế:
Một trong những đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa ở nước ta hiện nay là một nền kinh tế đa sở hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu. Chính sự
xuất hiện của nhiều loại hình kinh tế thuộc nhiều thành phần kinh tế khác nhau như: Kinh tế nhà
nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân tư bản, kinh tế tư nhân,... đòi hỏi nhà nước phải quản lý
đối với nền kinh tế bằng những biện pháp, trong đó đặc biệt phải coi trọng phương pháp quản lý
bằng pháp luật, trên cơ sở pháp luật. Thực hiện nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt
động quản lý nhà nước về kinh tế đòi hỏi mọi tổ chức, cá nhân, kể cả các cơ quan nhà nước và
các cán bộ, công chức, viên chức đều phải nghiêm chỉnh và triệt để tuân thủ pháp luật khi thực
hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của mình.
Để thực hiện nguyên tắc trên, cần thực hiện các hoạt động sau:
- Phải từng bước đưa mọi quan hệ kinh tế vào khuôn khổ pháp luật. Nhà nước phải xây
dựng được hệ thống pháp luật về kinh tế đầy đủ, đồng bộ, có chế tài rõ ràng, chính xác và đúng
mực.
- Xử lý nghiêm minh các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực kinh tế.
Ngay từ khi công cuộc cải cách kinh tế mới bắt đầu, Việt Nam đã xây dựng và ban hành
nhiều văn bản pháp luật liên quan trực tiếp đến phát triển kinh tế thị trường và khuyến khích
kinh doanh. Nội dung pháp luật kinh tế đã phù hợp hơn với cơ chế thị trường, đáp ứng được hầu
hết những đòi hỏi từ công cuộc cải cách kinh tế.
Tuy nhiên, thực tiễn quản lý nhà nước đối với nền kinh tế ở nước ta trong những năm qua
cho thấy, tình trạng buông lỏng kỷ luật, kỷ cương, sự hữu khuynh trong việc thực hiện chức
năng tổ chức, giáo dục, xem nhẹ pháp chế trong hoạt động kinh tế của nhiều doanh nghiệp,... đã
làm cho trật tự kinh tế ở nước ta có nhiều rối loạn, gây ra những tổn thất không nhỏ cho đất
nước, đồng thời làm giảm sút nghiêm trọng uy tín và hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nước.
Nhìn chung hệ thống pháp luật kinh tế của Việt Nam vẫn tồn tại nhiều yếu kém, bất cập
và vẫn chưa theo kịp nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Điều này thể hiện rõ nhất qua các thực
tiễn như:
công dân được Hiến pháp ghi nhận và bảo đảm thực hiện. Quyền khiếu nại của công dân không
tồn tại độc lập mà liên quan chặt chẽ với các quyền tự do khác của công dân trong mối quan hệ
tổng hòa của sự thống nhất các quyền và nghĩa vụ của công dân. Thực hiện và bảo đảm quyền
khiếu nại thể hiện mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân, thể hiện sự phát triển của chế độ
dân chủ xã hội chủ nghĩa và là biểu hiện của chế độ chính trị của mỗi Nhà nước. Khiếu nại
không những là công cụ, phương tiện pháp lí hữu hiệu để công dân, cơ quan, tổ chức bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của mình, lợi ích của Nhà nước khi bị xâm phạm, mà còn là một
trong những phương thức quan trọng để công dân tham gia quản lý nhà nước, phát huy một
cách có hiệu quả quyền làm chủ của mình, xây dựng nền công vụ minh bạch, đóng vai trò phục
vụ, phù hợp với xu thế phát triển nền hành chính hiện đại trong giai đoạn hiện nay.
Quyền khiếu nại của công dân là một trong các quyền hiến định và đã được cụ thể hoá
trong các văn bản luật trong đó hiện nay chủ yếu được quy định trong Luật Khiếu nại (2011) và
Luật Tiếp công dân (2013).
[1] Vậy, khiếu nại là gì?
Khoản 1 Điều 2 Luật Khiếu nại quy định: Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức
hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật này quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có
thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà
nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán
bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm
quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
[2] Từ khái niệm như trên, ta thấy khiếu nại có một số đặc điểm như sau:
- Thứ nhất, khiếu nại là hoạt động của cơ quan, tổ chức hoặc công dân nhằm bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại từ phía cơ quan hành chính nhà nước hoặc
CB,CC trong cơ quan hành chính nhà nước.
Quyền khiếu nại là một trong những quyền cơ bản của công dân đã được ghi nhận trong
Hiến pháp, một quyền có tính chất chính trị, pháp lý của công dân, là một hinh thức biểu hiện
của dân chủ xã hội chủ nghĩa, liên quan chặt chẽ và chiếm vai trò quan trọng trong hệ thống các
quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Việc thực hiện quyền khiếu nại là cơ sở để thực hiện
các quyền và nghĩa vụ khác của công dân. Khiếu nại quy định trong Luật này được hiểu là
khiếu nại hành chính, đó là khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ
Hành vi hành chính được hiểu là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước, của người có
thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước thực hiện hoặc không thực hiện nhiệm vụ, công
vụ theo quy định của pháp luật. Ví dụ: hành vi quá thời hạn do pháp luật quy định nhưng cơ
quan có thẩm quyền chưa cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho công dân; hành vi sách
nhiễu trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ của cán bộ, công chức... đều là những hành vi hành
chính có thể bị khiếu nại.
- Thứ năm, việc khiếu nại và giải quyết khiếu nại phải được thực hiện theo những nguyên
tắc nhất định bao gồm: đúng quy định của pháp luật; bảo đảm khách quan, công khai, dân chủ
và kịp thời. (Điều 4 Luật khiếu nại 2011)
[3] Vai trò của giải quyết khiếu nại
Theo quy định tại Khoản 11 Điều 2 Luật Khiếu nại, giải quyết khiếu nại là việc thụ lý,
xác minh, kết luận và ra quyết định giải quyết khiếu nại. Giải quyết khiếu nại là hoạt động có
vai trò hết sức quan trọng trong bảo đảm pháp chế xã hội, quyền dân chủ, quyền và lợi ích hợp
pháp của công dân. Vai trò đó thể hiện trên những phương diện cơ bản sau:
21
21
Thứ nhất, giải quyết khiếu nại có vai trò đảm bảo thực hiện và phát huy quyền dân chủ
của công dân được quy định trong Hiến pháp và pháp luật, góp phần quan trọng đối với việc
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức khi các quyền và lợi ích hợp pháp đó bị
xâm phạm từ phía các cơ quan, tổ chức cá nhân có thẩm quyền trong quá trình thực thi công
vụ.
Thứ hai, thông qua việc giải quyết khiếu nại khôi phục lại quyền và lợi ích hợp pháp của
người khiếu nại. Đồng thời thể hiện trách nhiệm của Nhà nước trước người dân.
Thứ ba, qua việc khiếu nại và giải quyết khiếu nại nhằm góp phần hoàn thiện, chấn chỉnh
trong hoạt động của cơ quan nhà nước. Giúp cơ quan nhà nước nhìn nhận lại những yếu kém,
bất cập trong hoạt động của mình, đồng thời là cơ sở để đánh giá năng lực, phẩm chất đạo đức
của đội ngũ công chức hành chính nhà nước.
22
22
Cấp huyện có 1 đơn thư tố cáo, 97 đơn kiến nghị phản ánh thuộc thẩm quyền; đã ban hành 20
văn bản trả lời cho công dân.
Nhìn chung, công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện công tác tiếp công dân, giải
quyết khiếu nại, tố cáo của công dân ngày càng tích cực; các cơ quan, đơn vị đã có sự nỗ lực
trong giải quyết các vụ việc khiếu nại, tố cáo. Số vụ việc thuộc thẩm quyền được giải quyết dứt
điểm chiếm tỉ lệ khá cao, qua đó đã hạn chế, ngăn ngừa được khiếu nại vượt cấp.
Sau mỗi kỳ tiếp công dân, UBND tỉnh kịp thời chỉ đạo các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh
kiểm tra, xác minh về giải quyết các vụ việc thuộc thẩm quyền, tích cực chỉ đạo giải quyết các
vụ việc tồn đọng, phức tạp kéo dài; đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo các cấp, các ngành giải
quyết các vụ việc khiếu nại, kiến nghị theo thẩm quyền, kịp thời giải quyết các vụ việc ngay tại
cơ sở. Vấn đề hạn chế hiện nay là lãnh đạo một số cơ quan, đơn vị chưa thực sự quan tâm đúng
mức công tác tiếp công dân; chưa gắn tiếp công dân với việc giải quyết các vụ việc khiếu nại, tố
cáo; việc tiếp công dân ở một số nơi còn mang tính hình thức.
Đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác tiếp công dân và cơ sở vật chất cho các phòng
tiếp công dân của các huyện, thị xã, thành phố chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ được giao; do
chưa được đào tạo, bồi dưỡng về kỹ năng, nghiệp vụ về tiếp công dân nên hiệu quả công việc
của một số cán bộ, công chức còn hạn chế; quá trình thực hiện kiểm tra, xác minh, tham mưu
giải quyết các vụ việc khiếu nại, tố cáo còn chậm, hiệu quả giải quyết vụ việc chưa kịp thời, còn
lúng túng; việc tổ chức thực hiện quyết định đã có hiệu lực pháp luật chưa nghiêm.
Để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo,
đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới, trong thời gian tới cần tăng cường sự lãnh đạo,
chỉ đạo điều hành của các cấp ủy, chính quyền, đoàn thể trong công tác tiếp công dân, giải
quyết khiếu nại, tố cáo nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, góp phần ổn
định chính trị, phát triển kinh tế, xã hội. Tiếp tục tuyên truyền, phổ biến Luật Khiếu nại, Luật
Tố cáo năm 2011, Luật Tiếp công dân cho cán bộ, công chức và nhân dân; thực hiện Nghị định
vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo môi trường thuận lợi để phát triển kinh tế, xã
hội của địa phương nói riêng và đất nước nói chung.
---
24
24
CÂU 6: Cải cách hành chính
Nền hành chính nhà nước là tập hợp tất cả các yếu tố: Hệ thống thể chế HCNN, hệ thống
tổ chức BMHCNN, đội ngũ CBCCVC làm việc trong các cơ quan HCNNvà các nguồn lực vật
chất cần thiết đảm bảo cho việc thực hiện nhiệm vụ quản lý HCNN.
CCHCNN có thể hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau.
CHCNN là quá trình cải biến có kế hoạch cụ thể để đạt mục tiêu hoàn thiện một hay một
số nội dung của nền hành chính nhà nước (thể chế, tổ chức bm, đội ngũ cbcc, tài chính công…)
nhằm xây dựng nền hành chính công đáp ứng yêu cầu của một nề hành chính hiệu lực, hiệu quả,
hiện đại.
Đứng trên phương diện QLHCNN thì CCHCNN là cải cách cách thức quản lý, tức là cải
cách cách thức thực thi quyền hành pháp tác động đến đời sống CT-VH-XH và con người nhằm
đạt được mục tiêu phát triển một cách bền vững.
Những yếu tố thúc đẩy CCHC cơ sở đó là:
Thứ nhất, yêu cầu phát triển KT – XH cơ sở: hiện nay, ở cơ sở, hoạt động sản xuát kinh
doanh và cung cấp dịch vụ ngày càng phát triển đa dạng và ở nhiều cấp độ. Điều đó đặt ra chính
quyề cơ sở không chỉ quan tâm đảm bảo trật tự , an toàn xh, bảo đảm an sinh xã hội… mà còn
phải quan tâm quản lý về kinh tế, tổ chức, quản lý các dịch vụ công trên địa bàn. Vai trò của
chính quyề cơ sở ngày càng tăng trên các phương diện như tham gia thẩm định, đánh giá các dự
án đầu tư, đánh giá tác động môi trường , vấn đề quản lý đất đai… Để bảo đảm quản lý và tổ
chức đời sống xh ở cơ sở trong bối cảnh phát triển đa dạng các lĩnh vực như vậy đòi hỏi phải
cải cách tổ chức và phương thức hoạt động của chính quyền cơ sở.