Khoá luận tốt nghiệp nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tác phẩm kịch của victo huygô - Pdf 32

TRƯỜNG ĐẠI HỌC s ư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VÃN

BÙI THỊ HỔNG

NGHỆ THUẬT XÂY DựNG NHÂN VẬT
TRONG TÁC PHẨM KỊCH CỦA VICTO
HUYGồ
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC




*

9

Chuyên ngành: Văn học nước ngoài

Người hướng dẫn khoa học
ThS. ĐỖ THỊ THẠCH

HÀ NỘI - 2010

r/ỉùi í7Ai '3f)ồ!tụ

1

~Klioa (ìitịữ 0Oătt



DChtìa Q(í/Ũ
thế, cho tới nay ông vân được coi là nhà vãn đã kết hợp được qua một sự
nghiệp đồ sộ gồm thơ và văn xuôi, những tình cảm phố biến nhất, những khát
vọng bình dị và sâu xa nhât của con người và được coi như tiên tri của hòa
bình thế g iớ i” [4, 473].
Giáo sư Hoàng Nhân trong cuốn “ Văn học Pháp thế kỷ X IX ”, (NXB
Trẻ Thành phố Hồ Chí Minh, 1997) đã đánh giá cao về V.Huygô. Giáo sư cho
rằng “V.Huygô là nhà văn lớn nhất thế kỷ XIX, là một nghệ sỹ toàn diện. Ông

rũìù Q^lti 'ĨỊtmnụ

4

icitou ffỌ/ữ
nghĩa lãng mạn đi đến sự thẳng lọ7. Neu kịch cố đỉến chỉ có thế đưa vào
những phần thanh nhã cao quý thì V.Huygô lại chấp nhận đưa cả những yếu
tổ bình thường của cuộc sổng vào trong kịch ” [22, 64].
Đặng Thị Hạnh trong cuốn “Vicío Huygô” (NXB Văn hóa Hà Nội,
1978) đã đánh giá rất cao vở kịch Crômoen và bài tựa mang tính lí luận về
kịch. Bài tựa đó có thế coi là cương lĩnh đế sáng tạo nghệ thuật. “ Với bài tựa
vở Crômoen, Huygô đã trở thành chủ súy của trường phái mới. Những luận
điếm của Huygô không có gì thật mới so với các nhà lãng mạn đi trước với
cảm hứng say sưa, bài tựa đã trở thành tuyên ngôn của trường phải lãng
mạn ” [8, 87].
v ề nghệ thuật sáng tác kịch, Vũ Đức Phúc trong bài viết UL Ỉ luận và
sáng tác kịch lãng mạn của V.Huygô” có nhận xét về đặc điểm xung đột kịch tính trong kịch Huygô: "Tỉnh kịch của V.Huygô rất căng thắng, nó
không chỉ căng thắng ở đỉnh điếm của hành động chính mà là căng thắng
trong mọi tình huống, mọi hoàn cảnh. Vào kịch đã thấy ngay lập tức không
khí căng thắng, hết tình huống căng thắng này người xem vừa cảm thấy nhẹ
nhõm thì lại thấy tình huống khác, kết thúc mỗi tình huống đều là bất ngờ”
[23, 194].
Đặng Thị Hạnh, Lê Hồng Sâm trong cuốn “ Văn học lãng mạn và vãn
học hiện thực phương Tây thế kỷ X I X ” (NXB Đại học và THCN, 1985) lại
đề cập tới những hình tượng nhân vật trung tâm trong tác phẩm kịch và ý

rũìù Q^lti 'ĨỊtmnụ

6

ychtm

r()ún



1

icitou ffỌ/ữ
trong văn học là một hiện tượng nghệ thuật mang tính ước lệ, đó không phải
là sự sao chụp đầy đủ mọi chi tiết biểu hiện của con người mà chỉ là sự thể
hiện của con người qua những đặc điểm điển hình về tiểu sử, nghề nghiệp,
tính cách...và cần chú ý thêm một điều: Thực ra khái niệm “nhân vật” thường
được quan niệm với một phạm vi rộng hơn nhiều, đó không chỉ là con người
có tên hoặc không tên, được khắc họa sâu đậm hoặc chỉ xuất hiện thoáng qua
trong tác phẩm, mà còn là những sự vật, loài vật khác mang bóng dáng, tính
cách của con người (...). Cũng có khi đó không phải là con người, sự vật cụ

rũìù Q^lti 'ĨỊtmnụ

9

icitou ffỌ/ữ
v ề hình thức: nhân vật với tính cách của nó quyết định phần lớn các
yếu tố như kết cấu, ngôn ngữ, các biện pháp thể hiện...về luận điểm này
Hêghen đã từng nói “tính cách là điểm trung tâm của mối liên hệ giữa nội
dung và hình thức”. Như vậy, tính cách ở một phương diện nào đó đã trở
thành cầu nối giữa hai mặt nội dung và hình thức của tác phẩm văn chương.
Tuy nhiên, tính cách nhân vật mang tính chất lịch sử, tức là mỗi thời
đại khác nhau tính cách được đề cao hay coi nhẹ phụ thuộc vào nhận thức và
quan điểm lịch sử, có thể cùng một tính cách trong thời kỳ này được tôn sùng,
ca ngợi thì đến sau không hẳn được đánh giá như vậy.
Đó là những vai trò, chức năng của nhân vật trong tác phẩm văn
chương. Với những vai trò như thế, chúng ta có thể khắng định nhân vật là
yếu tố không thế thiếu trong tác phẩm văn chương, góp phần tạo nên sự hấp
dẫn và sức sống bền lâu cho tác phấm văn chương.
1.1.3. Các loại nhân vật văn học cơ bản
Nhân vật văn học là hiện tượng hết sức đa dạng. Các nhân vật thành
công thường là những sáng tạo độc đáo, không lặp lại. Nhà văn trong quá
trình sáng tác, muốn xây dựng nhân vật theo phong cách riêng của mình vì thế
nhân vật văn học rất phong phú. Nhưng nhìn tổng thể trong lịch sử văn học từ
trước tới nay, các nhà nghiên cứu lí luận văn học đã chia thế giới nhân vật

rJLiìti ^Ĩlĩi 7Ị(>ồiuf

11

DChtìa (ìltịữ 0Oătt


thành các kiểu loại khác nhau để người đọc dễ tiếp nhận, dễ phân tích và
khám phá theo tiêu chí như: nội dung, cấu trúc, chức năng của nhân vật.
Thứ nhất, dựa trên vai trò của nhân vật đối với cấu trúc và cốt truyện



lại, điều cần chú ý nhất vẫn là khả năng phản ánh và tác động đến cuộc sống,
khả năng hấp dẫn, lôi cuốn người đọc của nhân vật.
1.1.4. Nhân vật trong tác phấm kịch
Nói như nhà nghiên cứu văn học Huỳnh Lý: “Chúng ta không giảng
dạy kịch với tư cách là một loại hình nghệ thuật mà chỉ giảng dạy kịch về
phương diện văn học” [3, 239] thì nhân vật kịch chúng ta xem xét cũng không
phải là diễn viên trên sân khấu được hóa trang, diễn xuất theo sự chỉ đạo của
đạo diễn mà là nhân vật của kịch bản văn học, chính xác hơn là một nhân vật
văn học bởi kịch bản văn học cũng là một loại văn.
Ở mỗi loại văn khác nhau thì đặc trưng nhân vật cũng khác nhau. Neu
nhân vật trong tác phẩm tự sự được miêu tả một cách tỉ mỉ, mang nhiều màu
sắc thẩm mĩ, nhân vật trong tác phẩm trữ tình thiên về khám phá cảm xúc,
tình cảm thì nhân vật kịch lại có những nét khu biệt đặc thù. Với mục đích
viết để diễn trên sân khấu, kịch bản văn học chịu sự chi phối của không gian,
thời gian do đó buộc nhân vật cũng có những đặc điếm phù họp với thế loại.
Đặc điểm nổi bật thứ nhất: Nhân vật kịch xuất hiện vào lúc dòng chảy
của cuộc đời đang cao trào, sôi động nhất. Bởi vì, trong truyện, tiểu thuyết
không hạn định về không gian, thời gian nên nhà văn có thế đề cập đến nhân
vật một cách tỉ mỉ, kỹ lưỡng theo ý đồ chủ quan của nhà văn, những mối xung
đột của các nhân vật được xem xét từ trạng thái manh nha, âm ỉ rồi đến giai
đoạn đối lập, đấu tranh xung đột... Nhưng kịch do hạn định của không gian,
thời gian nên khi nhân vật xuất hiện trong tác phấm cũng là lúc hoàn cảnh,
mâu thuẫn của cốt truyện kịch đã phát triển tới chỗ xung đột, đòi hỏi phải giải
quyết. Đó chính là lúc dòng chảy của cuộc đời không êm ả mà đã có dòng
xoáy bắt đầu dữ dội. Trong hoàn cảnh cam go ấy, các nhân vật mới có cơ hội
tự bộc lộ mình rõ ràng và chính xác nhất.

rJLiìti ^Ĩlĩi 7Ị(>ồiuf

Do đặc điếm cốt lõi của kịch là những mâu thuẫn, xung đột nên nhân
vật kịch thường được khắc họa tính cách rất nổi bật. Mỗi nhân vật kịch
thường mang ít phẩm chất thẩm mĩ nhưng phẩm chất đó phải nổi trội.

rJLiìti ^Ĩlĩi 7Ị(>ồiuf

14

DChtìa (ìltịữ 0Oătt


Timôphêép đã từng giải thích: “Hình tượng kịch phản ánh những mâu
thuẫn của cuộc sống đã chín muồi gay gắt nhất và đã được xác định. Chính vì
vậy nó đã được xác định trên cơ sở nhấn mạnh trong tính cách con người sự
cảm xúc phiến diện do các mâu thuẫn trên quy định” [13, 254]. Từ sự nổi bật
về tính cách như thế, các nhân vật dễ dàng đứng thành các tuyến riêng trong
mỗi tuyến, nhân vật có những đặc điếm chung nào đó, cũng đối lập mâu thuẫn
với tuyến khác nhưng tính cách nối bật và tính cách ít phấm chất thấm mĩ của
nhân vật kịch không có nghĩa rằng nhất nhất mọi hàng động, suy nghĩ của
nhân vật đều đơn giản, một chiều, mà xoay quanh nét nổi bật còn có những
tính cách khác vừa tương quan, vừa tương phản làm cho gương mặt nhân vật
sinh động và đa dạng hơn.
Như vậy, từ những đặc điểm chung về nhân vật, vào kịch đã có những
nét riêng, đặc thù mang màu sắc thể loại. Nhà văn là người cần nhạy cảm đối
với điều đó đế xây dựng nhân vật trong tác phẩm của mình sao cho phù hợp
với thế loại.
1.2. Lý luận về nghệ thuật xây dựng nhân vật kịch
Như đã trình bày ở trên, nhân vật ngoài chức năng quan trọng là
phương tiện đế nhà văn gửi gắm ý tưởng nghệ thuật của mình, còn có vai trò
quyết định tới phần lớn những yếu tố hình thức của tác phấm văn chương. Vì

cả nội dung lời đối thoại, qua cả cách (hình thức) nhân vật đối thoại. Chẳng
hạn, trong vở kịch Hamlet của Secxpia, ta có thể thấy được những đặc điểm
về tính cách của nhân vật Hamlet và Clôđiut qua đoạn đối thoại ở hồi V,
cảnh 1.
Vua : Chao ôi ỉ Chao ôi! Hamlet...
H a m le t: Một gã lẩy con bọ đã xơi thịt vua làm mồi câu cá rồi lại ăn
con cá đã xơi mồi bọ.
Vua : Nhà ngươi nói thế có ỷ gì ?
H a m le t: Có nghĩa gì đâu, chang qua cũng chỉ muốn nói cho ngài hay
một ông vua đã ngự giả chu du như thế nào trong bao tử của một anh chàng
hành khất.
Ở màn đối thoại này, Hamlet dùng một thứ ngôn ngữ sắc nhọn, lạnh
lùng, lột trần ngay chân tướng của Clôđiut. Hamlet như muốn vạch mặt chỉ

rJLiìti ^Ĩlĩi 7Ị(>ồiuf

16

DChtìa (ìltịữ 0Oătt


tên kẻ thù, đã gọi Clôđiut là “một thằng sát nhân, một gã đê tiện, một tên vô
lại...m ột tên vua hề, một tên ăn cắp ngai vàng và quyền uy, xoáy trộm vương
miện trên giá cao đút vào túi áo”. Qua đối thoại, Hamlet luôn thế hiện một
con người đấu tranh - con người tiên tiến - lý tưởng của thời đại Phục Hưng.
Có thế nói, đối thoại là một biện pháp nghệ thuật quan trọng trong việc
thế hiện nhân vật kịch. Arixtôt đã từng nói “Kịch sẽ trở nên vô nghĩa nếu
không có xung đột và càng vô nghĩa hơn nếu ở đó không có các nhân vật đối
thoại với nhau”. Vì vậy, đối thoại trong kịch nhiều về số lượng và quan trọng
về chất lượng, khả năng thể hiện nội dung của biện pháp đối thoại là rất lớn.

“Sống hay không sống”. “Sống hay không sống đó là vấn đề, chịu tất cả
những viên đá, mũi tên của số mệnh phũ phàng hay là cầm vũ khí đứng lên
mà chống lại với sóng gió của bể khổ, chống lại để mà tiêu diệt chúng đi,
đằng nào quý hơn ?” (hồi III, cảnh 1). Lời độc thoại nội tâm của Hamlet chính
là câu hỏi xoáy sâu vào mỗi con người chân chính ở mọi thời đại và buộc họ
phải suy nghĩ. Hamlet trở thành bất tử một phần từ chính những độc thoại nội
tâm này bởi nó đã thể hiện một thế giới nội tâm phong phú, một cuộc giằng co
quyết liệt trong một con người về quan niệm làm người.
Như vậy, cùng với những biện pháp thể hiện nhân vật, biện pháp độc
thoại nội tâm hoàn thiện nhân vật ở mức độ sâu hơn: đó là chiều sâu tâm hồn
nhân vật. Đây cũng chính là ưu thế của văn chương so với tất cả các loại hình
nghệ thuật khác. Neu như hội họa, điêu khắc chỉ nhấn mạnh về ngoại hình,
vóc dáng của đối tượng, âm nhạc tác động trực tiếp vào thính giác để người
tiếp nhận tự suy ra hoàn toàn cái hồn của đối tượng thì nhờ độc thoại nội tâm,
văn chương có khả năng vượt trội trong miêu tả đời sống tâm lý - cái trừu
tượng, khó nắm bắt của đối tượng. Những suy nghĩ, tình cảm tinh tế của nhân
vật sinh động, tùy thuộc vào khả năng sáng tạo của nhà văn chứ không bị hạn
chế như việc sáng tạo trong các ngành nghệ thuật khác.
1.2.3. Biện pháp tạo xung đột kịch tính
Biện pháp tạo xung đột kịch tính là biện pháp không thế thiếu trong các
tác phấm kịch. Dù ở bất kì thời đại nào, tính xung đột kịch tính cũng là yêu
cầu quan trọng để tạo nên sức hấp dẫn của tác phẩm kịch.

rJLiìti ^Ĩlĩi 7Ị(>ồiuf

18

DChtìa (ìltịữ 0Oătt




DChtìa (ìltịữ 0Oătt


lập) là cách sử dụng các từ ngữ biếu thị các khái niệm trái ngược nhau trong
cùng một văn cảnh” [18, 86].
Có thể thấy, tương phản là một thủ pháp nghệ thuật được sử dụng nhiều
trong các ngành nghệ thuật. Trong hội họa, trong âm nhạc, sự tương phản về
màu sắc và các nốt nhạc sẽ gây cảm giác mạnh mẽ tạo nên ấn tượng sâu sắc.
Đặc biệt trong văn học, tương phản là một trong những biện pháp tu từ được
sử dụng rộng rãi ở tất cả các cấp độ khác nhau của ngôn ngữ và trong mọi thế
loại văn học. Trong thế loại kịch cũng vậy, các tác giả cũng triệt đế sử dụng
biện pháp tương phản để xây dựng nhân vật cho tác phẩm của mình. Đặc biệt
trong hài kịch, các tác giả đã sử dụng biện pháp tương phản giữa hình thức và
nội tâm, giữa cái quý phái và cái lố bịch để tạo nên chân dung những nhân vật
hề để qua sự tương phản đó tạo nên tiếng cười trào phúng như trong hài kịch
của Môlie với các vở: Trưởng giả học làm sang, Lão hà tiện, Tactuyt...Còn
trong chính kịch thì các tác giả lại sử dụng biện pháp tương phản chủ yếu vào
việc khắc họa chân dung tính cách, phấm chất của nhân vật thông qua việc đặt
nhân vật thông qua việc đặt nhân vật vào thế tương phản giữa vị thế xã hội
với tính cách hoặc đơn giản là tương phản giữa các nhân vật với nhau để qua
đó làm nối bật lên hình tượng nhân vật trung tâm của tác phấm.
Tóm lại, các biện pháp nghệ thuật trên là những yếu tố quan trọng trong
việc xây dựng nhân vật kịch. Mỗi biện pháp này được sử dụng tất cả hay
không, đậm hay nhạt phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: loại nhân vật, ý đồ
nghệ thuật của nhà văn. Với sự phân tích bốn yếu tố nghệ thuật trên: biện
pháp đối thoại, biện pháp độc thoại, biện pháp tạo xung đột kịch tính, biện
pháp tương phản, chúng tôi thấy mỗi yếu tố đều góp phần vào việc xây dựng
nhân vật cho tác phấm. Vì vậy, khi xem xét nghệ thuật xây dựng nhân vật
trong tác phẩm kịch của V.Huygô, chúng tôi sẽ đi xem xét ở bốn yếu tố này.

hình thức. Việc thay đổi lối dàn dựng sân khấu đi vào những chủ đề, đề tài
khác nhau, đưa kiểu nhân vật mới lên sân khấu, Huygô đã đem lại một luồng
gió mới cho kịch trường Pháp. Với quan điểm nghệ thuật phải phục vụ chân
lý, phản ánh thực tế, những nhân vật kịch của V.Huygô bước lên sân khấu với
những diện mạo khác nhau nhưng đều mang tính chân thực. Đó có thể là một
vị lãnh tụ cách mạng (Crâmoen), một tên tướng cướp (Hecnani), một anh
đầy tớ (Ruy Bias), một cô gái giang hồ {Mariông Đoiormơ)...Tuy xuất thân
từ những giai cấp khác nhau nhưng ở họ luôn toát lên một phẩm chất cao đẹp,
một tính cách mạnh mẽ, một vẻ đẹp tâm hồn lương thiện đáng được trân trọng
ngợi ca. Những nhân vật đó mang những nét tính cách của con người đời

rJLiìti ÇJhi 'Жтш/

21

Xhoa (ìltịữ 0[)ăn


thường. Những mặt khác nhau, thậm chí tương phản nhau đều có thể dung
hòa trong một con người. Trong Lời tựa kịch Crômoen, Huygô chỉ ra rằng
“Kịch Đram nhào lẫn cái thô kệch và cái trác tuyệt, cái khủng khiếp và cái hài
hước, bi kịch và hài kịch...Đram là đặc tính của văn chương hiện nay”. Vì
vậy, tính bình dị, chân thực đã khiến cho những nhân vật trong kịch Huygô
không còn xa cách với quần chúng như nhân vật trong kịch cố điến.
Đó chỉ là những giới thiệu ban đầu về thế loại kịch Đram và nhân vật
trong kịch Đram của Huygô. Qua việc tìm hiếu khám phá về “Nghệ thuật xây
dựng nhân vật trong tác phẩm kịch của Victo H uygô”, chúng tôi sẽ đi “giải
mã” những đặc trưng của kịch lãng mạn và lý giải tại sao Huygô được coi là
“chủ soái của chủ nghĩa lãng mạn” và là “hiện thân của chủ nghĩa lãng mạn”.
Ớ chương 1, chúng tôi đã đưa ra và phân tích hệ thống lí luận cần thiết

cách cụ thể và sâu sắc hơn. Đồng thời, qua đối thoại của các nhân vật chúng
ta còn thấy được ngoại hình, tính cách, tâm tình của nhân vật dù cho chúng ta
chỉ đọc kịch bản mà không xem kịch diễn trên sân khấu.
Bảng khảo sát sau đây sẽ thống kê số lần đối thoại của các nhân vật
trong tác phấm kịch của V.Huygô. Qua đó chúng ta sẽ thấy được vai trò của
đối thoại trong việc miêu tả ngoại hình, tính cách, tâm tình, triết lý của nhân
vật kịch.
BẢNG KHẢO SÁT VÈ BIỆN PHÁP ĐỐI THOẠI TRONG TÁC PHẨM KỊCH
CỦA V.HUYGÔ.
Đôi thoại nhăm

Đôi thoại nhăm

Đôi thoại nhăm

miêu tả ngoại

khẳc họa tính

triết lý tâm tình

hình (số lần)

cách (số lần)

(số lần)

Hecnani

3


Đơlormơ

Điđiê

0

3

0

Ruy Blas

5

9

2

Hoàng hậu

1

2

1

Đôn Xaluyxt

1

Khi xây dựng nhân vật, hầu hết các nhà văn đều chú ý tạo cho nhân vật
của mình một ngoại hình, một diện mạo góp phần thế hiện tính cách. Ngoại
hình có thế chỉ giúp người đọc hiếu được phẩn nào tính cách của nhân vật,
nhưng đó là con đường quan trọng, bước đầu nắm bắt được nhân vật. Đặc
biệt, ở thế loại kịch, ngoại hình nhân vật lại càng được các tác giả chú ý khắc
họa vì nó tác động trực tiếp lên thị giác của người xem, người đọc, dẫn họ đến
những liên tưởng và đánh giá về nhân vật.
Các nhân vật trong tác phẩm kịch của V.Huygô hầu như ngoại hình đều
được khắc họa qua lời đối thoại của nhân vật, một số ít được khắc họa qua lời
miêu tả của tác giả. Ngoại hình ấy như tấm gương phản chiếu tâm hồn, tính
cách, đời sống, nghề nghiệp, thân phận của nhân vật. Trong ba vở kịch
Hecnani, Mariông Đơlormơ, Ruy Blas, chúng ta sẽ thấy được chân dung
ngoại hình của một tên tướng cướp, một tiểu thư quý tộc, một cô gái giang hồ
và một anh đầy tớ. Ở mỗi nhân vật sẽ có một nét riêng độc đáo thể hiện tài
năng viết kịch của V.Huygô.
Trong vở Hecnani, ngoại hình của “tên tướng cướp Hecnani” được
khắc họa ở ngay những hồi đầu, qua đối thoại của Jôdepha với Đôn Carlox,
của Đônha Xon với Hecnani và qua lời chỉ dẫn của tác giả.
Đầu tiên, qua lời chỉ dẫn của tác giả ở hồi I, lớp 2, ta có thể thấy
Hecnani tuy là một tướng cướp nhưng chàng lại mang phong thái đường
hoàng của một tráng sĩ lục lâm, giọng nói trong và cao quý “Chàng mặc một
chiếc ảo khoác rộng, đội mũ rộng vành, bên trong là bộ quần áo tráng s ĩ lục
lâm xứ Aragông màu xám, một bộ áo giáp bằng da, một thanh kiếm, một con
dao găm và một chiếc tù và ở thắt lưng”.

rũ ì l i Q ^ lĩi '3f)Ồ tt€J

24

XI,oa ()((JĨÌ r()ùn


25

XI,oa ()((JĨÌ r()ùn



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status