NGHIÊN CỨU, PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ KINH NGHIỆM NHẬT BẢN, HÀN
QUỐC, TRUNG QUỐC, ĐÀI LOAN… TRONG HỖ TRỢ THÔNG TIN CÔNG
NGHỆ PHỤC VỤ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA ĐỔI MỚI CN
Hỗ trợ thông tin khoa học công nghệ phục vụ doanh nghiệp là một nhu cầu cấp thiết
của Việt Nam trong tiến trình đổi mới công nghệ quốc gia. Thông tin khoa học công nghệ
cung các thông tin cần thiết về cải tiến công nghệ, thị trường công nghệ, nhu cầu công
nghệ, doanh nghiệp công nghệ, chính sách công nghệ …giúp doanh nghiệp vừa và nhỏ có
đầy đủ thông tin để hoạch định chiến lược kinh doanh và đổi mới công nghệ của mình.
Các trung tâm thông tin KH&CN có vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ sự vận hành
của thị trường thông qua các hoạt động thông tin đặc biệt, giúp, cho hàng hoá công nghệ
có thể lưu thông một cách thuận lợi giữa bên cung và bên cầu. Các trung tâm thông tin
KH&CN có thể tham gia một cách tích cực vào những hoạt động quan trọng của thị
trường công nghệ như cung cấp thông tin, tổ chức các Techmart, tổ chức các sàn giao
dịch công nghệ thường xuyên, các sàn giao dịch công nghệ trên mạng, v.v..
Ở Việt Nam, nhiều trung tâm thông tin KH&CN được xác định là những tổ chức có
vai trò quan trọng trong tổ chức thực hiện các Techmart. Những hoạt động của các trung
tâm thông tin KH&CN thông qua các Techmart có vai trò hỗ trợ các bên tham gia một
cách thiết thực như:
Đối với bên “cung” công nghệ: tạo cơ hội hiểu rõ hơn nhu cầu của bên mua và những
khách hàng tiềm năng để hoạch định chiến lược, định hướng sản phẩm công nghệ phù
hợp với nhu cầu thực tiễn, chủ động phát triển các giải pháp công nghệ mới đáp ứng đòi
hỏi của doanh nghiệp.
Đối với bên cầu công nghệ: tạo điều kiện đánh giá trực tiếp năng lực của nhà cung cấp
sản phẩm công nghệ để đặt hàng giải quyết các vấn đề công nghệ cụ thể; thiết lập các
quan hệ hợp tác chiến lược, lựa chọn hình thức liên kết nhằm nâng cao khả năng cạnh
tranh của sản phẩm.
Đối với các tổ chức dịch vụ/môi giới: tạo điều kiện tìm hiểu, nắm bắt nhu cầu tham gia
giao dịch công nghệ, nâng cao trình độ nghiệp vụ và tư vấn cho các bên “cung - cầu công
nghệ”.
Đối với các tổ chức tài chính (Quỹ đầu tư, ngân hàng, tổ chức tín dụng...): giúp thu
nhận các thông tin bổ ích, cân nhắc các dự án đầu tư đổi mới công nghệ có triển vọng,
trao đổi, thảo luận…
Thông tin về những dự án, thành tựu và sự kiện KH&CN nổi bật được chia sẻ tại câu
lạc bộ báo chí của MEXT và xuất bản trên các ấn phẩm báo chí. Mỗi năm có khoảng 200
chủ đề, hơn 1.000 bài báo được đăng trên các báo, tạp chí. Cùng với đó, mạng lưới
2
website về KH&CN đã được hình thành để mọi người dù ở bất kỳ đâu cũng có thể truy
cập được rất nhiều thông tin về KH&CN. Có 2 trang chính là Kênh khoa học, đăng các
video (http://sc-smn.jst.go.jp/), Cổng thông tin khoa học đăng các bài viết
(http://scienceportal.jp/) và 5 trang chuyên đề là Trung tâm Khoa học ảo thuộc JST
(http://jvsc.jst.go.jp/en/), Cơ sở dữ liệu khoa học của các tình nguyện viên
(http://rikasuki.tokyo.jst.go.jp/), Quản lý bảo tàng ở Nhật Bản (http://museumdir.jst.go.jp/), Khoa học vệ tinh (http://www.kagakunavi.jp/), Liên kết khoa học Nhật Bản
(tiếng Anh, Trung, Pháp: http://sciencelinks.jp/).
Một hình thức truyền thông khác Nhật Bản đang thực hiện là hình thành hệ thống gồm
hàng trăm viện bảo tàng khoa học trên khắp cả nước. Trong khuôn khổ chương trình làm
việc, đoàn đã đến thăm và làm việc với Bảo tàng Quốc gia về khoa học và sáng tạo tiên
tiến (Miraikan). Đây là nơi mô hình hoá những hiện tượng khoa học tự nhiên, tổ chức các
cuộc triển lãm giới thiệu những thành tựu KH&CN, tổ chức các hoạt động giao lưu giữa
các nhà khoa học với công chúng; phối hợp với các trường đại học để xây dựng những
chương trình giúp nâng cao kiến thức về khoa học cho sinh viên; xây dựng mạng lưới
gồm các nhà nghiên cứu, tình nguyện viên, khách tham quan, trường học, các viện bảo
tàng khoa học khác… Những sự vật, hiện tượng tự nhiên, đều được thể hiện bằng hình
ảnh, mô hình trực quan, sinh động, thậm chí cả những sản phẩm công nghệ đã và đang
được sử dụng trong thực tế… như các mô hình về hiện tượng động đất, sóng thần, rô bốt
cứu hộ... khiến Miraikan không chỉ là địa chỉ thú vị để tham quan mà còn là nơi học sinh,
sinh viên có điều kiện thực hành những kiến thức được học trong nhà trường.
Mô hình trung tâm truyền thông cũng là mô hình hoạt động hiệu quả trong lĩnh vực
này tại Nhật Bản. Trung tâm truyền thông khoa học Nhật Bản (SMC) trực thuộc JST
được thành lập với vai trò là cầu nối giữa nhà khoa học với nhà báo thông qua các
Trung Quốc:
Trung tâm Xúc tiến Năng suất (PCC)
Trung tâm này được xem như tổ chức trung gian và tư vấn thành lập từ năm 1992 trên
toàn quốc để hỗ trợ đổi mới trong khu vực doanh nghiệp (tính đến năm 2002 có tới 865
4
Trung tâm). Cỏc PCC cung cấp các dịch vụ tư vấn, dịch vụ dựa trên công nghệ như thúc
đẩy công nghệ và kiểm tra sản phẩm, dịch vụ thông tin, dịch vụ nguồn nhân lực, dịch vụ
đào tạo, dịch vụ ươm tạo doanh nghiệp.
Hiệp hội KH&CN Trung Quốc (CAST)
CAST là một tổ chức phi lợi nhuận, một tổ chức phi Chính phủ của các nhà KH&CN
Trung Quốc. CAST quy tụ 165 cơ quan đơn vị chuyên nghiệp trong nước, với tổng cộng
4,3 triện thành viên trên toàn đất nước. Nhiệm vụ chính của CAST là tổ chức các cuộc
trao đổi hàn lâm, phổ biến tri thức khoa học đến mọi người, phổ biến các quan điểm và
nguyện vọng của các nhà KH&CN và tham gia vào đánh giá và đổi mới giáo dục.
Phát triển thư viện số TVS ở Trung Quốc cho việc chia sẻ và phổ biến thông tin .
Trung Quốc bắt đầu việc nghiên cứu và thử nghiệm những thư viện số vào năm 1995.
Chỉ sau một vài năm, chúng đã được sự phát triển nhanh chóng. Nhiều dự án đã được
triển khai với sự tiến triển đáng chú ý, dưới đây là một vài dự án.
Dự Án Thư Viện Số Trung Quốc Thử nghiệm (CPDL- The Chinese Pilot Digital Library
Project)
Dự Án Thư Viện Số Trung Quốc Thử nghiệm (CPDL) được phát triển bởi chín thư
viện công cộng danh tiếng ở Trung Quốc, bao gồm Thư Viện Quốc Gia Trung Quốc
(NLC), Thư Viện Thành Phố Thượng Hải, Thư viện Thẩm Quyến, ... Mục tiêu chính
nhằm tạo ra một Dự Án Thư Viện Số Trung Quốc Thử nghiệm (CPDL) thống nhất và
liên kết mà trong đó nhiều thư viện có thể hợp tác và hỗ trợ lẫn nhau. Dự Án CPDL được
đưa vào thử nghiệm các kho tài nguyên thông tin được tiêu chuẩn hóa và phân tán thuộc
nhiều dạng khác nhau chuyển giao một công nghệ ban đầu sẵn có và hỗ trợ thực hành cho
việc xây dựng những thư viện số của Trung Quốc đạt tiêu chuẩn quốc tế. Hiện tại, các tổ
gồm việc xây dựng tài nguyên số, cùng phần cứng và phần mềm cho hạ tầng cơ sở hệ
thống thư viện số, phát triển hệ thống ứng dụng, phát triển các tiêu chuẩn, chi tiết kỹ
thuật, những quy tắc, và thiết lập hệ thống dịch vụ và xử lý nhằm làm tăng hiệu lực của
Quyền Sở Hữu Trí Tuệ, cũng như là tạo dựng năng lực cho hệ thống (Zhang, 2003).
Dự Án Thư Viện Số Kiến Trúc Đại Học Thanh Hoa (Tsinghua University Architecture
Digital Library)
Dự Án Thư Viện Số Kiến Trúc Đại Học Thanh Hoa (THADL) là sự hợp tác giữa
trường đại học Thanh Hoa và “Yingzaoxueshe”, một viện nghiên cứu của người Trung
Quốc mà tập trung vào công trình kiến trúc cổ và cuộc đời của ông Liang Sicheng, một
kiến trúc sư nổi tiếng. Bộ sưu tập trung tâm sẽ là hình vẻ của 2.783 tòa nhà cổ và những
hình ảnh về kiến trúc cổ. Về mặt kỹ thuật, một kiến trúc dịch vụ hệ thống nhiều lớp được
6
xây dựng bằng sử dụng những công nghệ đối tượng phân tán và tương tác thông minh,
ngoài là một hệ thống định hướng đối tượng ra, hệ thống còn là một cơ sở dữ liệu đa
phương tiện phân tán. Đối với siêu dữ liệu mô tả, hệ thống sử dụng lược đồ mô tả siêu dữ
liệu Dublin Core mở rộng (Xiao et al.,2002).
Trung Tâm Thông Tin Khoa Học và Công Nghệ Quốc Phòng Trung Quốc (China
Defense Science and Technology Information Center)
Ngày nay, nhiều thư viện Trung Quốc đang phát triển những kho dữ liệu số đầu tiên.
Cho dù những nỗ lực nhất định trong lĩnh vực này cũng đã được tiến hành tại thư viện
của Trung Tâm Thông Tin Khoa Học và Công Nghệ Quốc Phòng Trung Quốc (CDSTIC)
– đáng chú ý nhất là, những bộ sưu tập quý giá bao gồm những tạp chí, bản ghi âm hội
nghị, và sách đã được số hóa; nhiều nguồn tài nguyên thông tin số đa dạng đã được tích
hợp với nhau; và một hệ thống dịch vụ thông tin tích hợp trên nền tảng Web đã được tạo
lập; nhìn chung CDSTIC vẫn còn ở những bước khởi đầu trong việc phát triển một thư
viện số.
Tư vấn chuyển giao công nghệ cho các doanh nghiệp
Trong các mô hình xúc tiến CGCN xuất sắc của Trung Quốc, phải kể mô hình các sàn
cho TAKES của Phần Lan; công nghệ bể chứa xoay tròn; công nghệ bạc nano...
Kinh nghiệm của Đài Loan
Đài Loan có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam trong quá trình phát triển đất nước.
Vào những năm 70, nền kinh tế của Đài Loan nói chung chỉ bao gồm các doanh nghiệp
gia đình quy mô nhỏ. Thiết bị và năng lực trong các trường đại học phục vụ nghiên cứu
cơ bản yếu và hầu hết doanh nghiệp không có bất cứ khái niệm nào về R&D (nghiên cứu
phát triển). Con đường phát triển của Đài Loan đã trải qua 3 giai đoạn. Giai đoạn đầu nền
kinh tế dựa vào nông nghiệp (1973-1985), tiếp đó là các ngành công nghiệp nhập khẩu
công nghệ, sản xuất dựa vào nhân công giá rẻ (1985-1994) và giai đoạn ba là chuyển đổi
các ngành công nghiệp nội địa, tăng cường định hướng đổi mới sáng tạo (1994-2002),
hiện nay đang chuyển sang phát triển nền công nghiệp giá trị cao, xây dựng kinh tế dựa
vào tri thức. Đài Loan đã tiến hành các bước đi rất bài bản và quyết liệt, tạo ra sự chuyển
8
đổi phi thường, đưa nền kinh tế từ một mô hình dựa vào nông nghiệp sang một đất nước
công nghiệp trong vòng 30 năm.
Ở Đài Loan, phần lớn cán bộ trong các công ty công nghệ cao tốt nghiệp các trường
đại học như Chiao Tung, Tsing Hua … hoặc đã từng công tác trong các viện nghiên cứu.
Đội ngũ cán bộ trong các ngành công nghệ cao có xu hướng sử dụng các mối quan hệ của
họ để hỗ trợ khi họ gặp phải khó khăn. Do nhân dân Đài Loan rất chú ý đến việc duy trì
các mối quan hệ của họ và xem nó như một thành phần quan trọng nhất trong xã hội, nên
mối quan hệ thân thiết của các cán bộ ngày càng làm tăng tính hiệu quả của việc truyền
bá kiến thức và thông tin trong ngành công nghiệp công nghệ cao. Ngoài ra, các doanh
nghiệp của Đài Loan, cụ thể là SME thường xuyên tổ chức các buổi giao lưu với các nhà
cung cấp và thậm chí cả với các nhà cạnh tranh trong lãnh thổ khi phải đối mặt với sự
cạnh tranh quốc tế. Ví dụ như trong ngành công nghiệp bán dẫn, mỗi một công ty tập
trung vào một phần nào đó trong quy trình sản xuất như thiết kế, sản xuất vỏ, lắp ráp,
kiểm tra… và rồi liên kết lại với nhau thậm chí còn hỗ trợ các nhà cạnh tranh để đáp ứng
dân Đài Loan làm việc ở nước ngoài đã quay về nước làm việc và đã mang về một vốn
kiến thức dồi dào và nhiều công nghệ mới làm giàu cho hệ thống đổi mới của Đài Loan.
Tạo hứng thú cho người dân
Theo đó, đề án có nhiệm vụ phổ cập kiến thức khoa học đến người dân ở mọi tầng lớp,
để xã hội nhận thức rõ vai trò của KH&CN đối với sự phát triển kinh tế xã hội nơi
đây. GS Shang Ren Kwan, người chủ trì đề án truyền thông phổ cập khoa học Đài Loan
cho biết, hiện nay, nhân lực chủ chốt để triển khai đề án này gồm 6 GS, 7 chuyên gia về
truyền thông khoa học. Đội ngũ này thường xuyên ngồi lại với nhau để bàn bạc, trao đổi
để xây dựng nội dung truyền thông. GS Kwan cho biết, cách truyền tải thông tin khoa
học không cứng nhắc và sẽ rất linh hoạt để tạo sự hứng thú, quan tâm của người dân. Ví
dụ, khi xảy ra động đất, thì ngay lập tức, đội chuyên gia cũng giới truyền thông sẽ ngồi
lại với nhau để đưa các thông tin có tính phân tích, cùng với đó là phổ biến kiến thức về
động đất và cách phóng tránh.
Kinh nghiệm của Hàn Quốc
Cũng giống như Đài Loan, Trung Quốc và Nhật Bản, Hàn Quốc đã xây dựng cơ sở dữ
liệu (CSDL) về nguồn và giá cung cấp công nghệ. CSDL này được liên kết với các CSDL
tương tự ở nước ngoài và được cung cấp thông tin trực tuyến ở các trung tâm công
nghiệp chính.
Bên cạnh đó Hàn Quốc đã có những chính sách như sau để thông tin về khoa học công
nghệ được lan tỏa tới các doanh nghiệp,
10
Khuyến khích thành lập các tổ chức nghiên cứu liên kết với doanh nghiệp
Để được nhận những khoản hỗ trợ hào phóng của Chính phủ Hàn Quốc, các doanh
nghiệp nước ngoài thường lập ra các tổ chức nghiên cứu liên kết với doanh nghiệp. Hiện
nay, 134 viện nghiên cứu của Hàn Quốc được xếp vào loại hình liên kết với doanh
nghiệp...
Để đăng ký thành lập một tổ chức nghiên cứu liên kết với doanh nghiệp, các tập đoàn
Các Trung tâm Cải tiến Công nghệ - Technology Innovation Center (TIC) là những dự
án với mục tiêu hình thành môi trường cải tiến công nghệ cho các ngành công nghiệp ở
địa phương, hỗ trợ những dự án công nghệ mạo hiểm. Cách làm là kết nối các ngành
công nghiệp trọng điểm của địa phương với các trường đại học và viện nghiên cứu thông
qua việc điều phối quỹ kinh phí khoa học của Chính phủ, chính quyền địa phương, và các
trường đại học cùng viện nghiên cứu. Mỗi trường đại học, viện nghiên cứu trên cả nước
đều có một TIC. Những TIC này kết nối với nhau để hợp tác nghiên cứu, chia sẻ nguồn
lực, và hợp tác đào tạo nhân lực, cung cấp thông tin cho các doanh nghiệp, tập đoàn địa
phương. Trung bình hằng năm Chính phủ hỗ trợ cho các TIC 1 tỷ won để mua trang thiết
bị phục vụ nghiên cứu (mỗi TIC được hỗ trợ như vậy trong 5 năm), trong khi các trường
đại học và chính quyền địa phương có nghĩa vụ cung cấp đất, cơ sở nghiên cứu, chi phí
vận hành, và chi phí nghiên cứu.
Hỗ trợ chuyển thông tin về chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp
Hoạt động xúc tiến chuyển giao công nghệ ( CGCN) đã trở nên mạnh mẽ ở Hàn Quốc
với sự ra đời của Luật Xúc tiến CGCN vào năm 2000. Đạo luật này đã khuyến khích các
trường đại học và các viện nghiên cứu công cộng thành lập các văn phòng CGCN (TLO)
cùng với các tổ chức tương ứng của họ, đồng thời tập trung vào việc xúc tiến chuyển giao
và thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Trước khi có đạo luật này, Chính phủ Hàn Quốc
đã tập trung vào sự phát triển của tri thức công nghệ bằng cách tăng cường đầu tư cho
hoạt động R&D.
Hàn Quốc có nhiều tổ chức dịch vụ xúc tiến CGCN như trung tâm đổi mới công nghệ
vùng, công viên công nghệ, các doanh nghiệp nhân rộng kết quả nghiên cứu, các trung
tâm CGCN thuộc các trường đại học... Tiêu biểu phải kể đến là Trung tâm CGCN Hàn
12
Quốc (Korea Technology Transfer Center - KTTC) - một tổ chức xúc tiến CGCN hàng
đầu tại Hàn Quốc. KTTC được thành lập vào tháng 3.2000 dưới sự hỗ trợ của Bộ Thương
mại, Công nghiệp và Năng lượng (MOCIE) và các bộ liên quan. KTTC có nhiệm vụ tích
hợp thương mại và công nghệ với việc thúc đẩy cạnh tranh trong các lĩnh vực CGCN,
trọn gói.
Ngoài ra, KTTC đang nỗ lực xây dựng các mối quan hệ hợp tác quốc tế để phát triển
và mở rộng mạng lưới. Đồng thời, thực hiện đồng hóa và tiếp thu công nghệ từ nước
ngoài thông qua các kênh đào tạo tại nước ngoài, hợp tác quốc tế, hội thảo quốc tế; hợp
tác với các công ty, trường đại học nước ngoài; chia sẻ dữ liệu thông tin công nghệ với
đối tác nước ngoài.
Bài học cho Việt Nam
Từ kinh nghiệm của các nước trong việc hỗ trợ thông tin công nghệ phục vụ cho doanh
nghiệp đổi mới công nghệ. Một số bài học có thể được rút ra như sau:
Việt Nam cần tăng cường xây dựng cơ sở dữ liệu về công nghệ ở tầm quốc gia cũng
như tích cực xây dựng và chia sẻ dữ liệu với các trường đại học trong và ngoài nước
nhằm cung cấp các thông tin KHCN đầy đủ cho các doanh nghiệp. Bên cạnh đó cần có
chính sách khuyến khích liên kết, chia sẻ thông tin từ các CSDL với nhau và với các
doanh nghiệp có nhu cầu.
Tăng cường vai trò hỗ trợ và tư vấn công nghệ, thông tin công nghệ của các trung tâm,
tổ chức khoa học công nghệ của nhà nước và tư nhân bằng các biện pháp hỗ trợ tài chính
( hỗ trợ phí tư vấn, chuyển giao công nghệ)
Tăng cường phổ biến về khoa học công nghệ trên các phương tiện truyền thông nhằm
nâng cao nhận thức của người dân cũng như các doanh nghiệp về vai trò của đổi mới
khoa học công nghệ
Tăng cường liên kết mô hình 3 nhà : nhà khoa học, nhà doanh nghiệp và nhà nước
trong việc chia sẻ thông tin công nghệ và hợp tác đổi mới công nghệ
14
15