Đánh giá hiệu quả sử dụng đất của việc trồng cam và trồng rừng ở huyện hàm yên, tỉnh tuyên quang - Pdf 32

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
******

ĐẶNG THỊ TƯƠI

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT CỦA VIỆC
TRỒNG CAM VÀ TRỒNG RỪNG Ở HUYỆN
HÀM YÊN, TỈNH TUYÊN QUANG

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

HÀ NỘI – 2008


TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
*******

ĐẶNG THỊ TƯƠI

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT CỦA VIỆC
TRỒNG CAM VÀ TRỒNG RỪNG Ở HUYỆN
HÀM YÊN, TỈNH TUYÊN QUANG
Chuyên ngành : Kinh tế và Quản lý Môi trường

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
PGS. TS. NGUYỄN THẾ CHINH

Hà Nội, 2008



Bảng 1-1: So sánh CBA và Phân tích chi phí hiệu quả.........................................6
Bảng 1-2: So sánh CBA và Phân tích tài chính.....................................................6
Bảng 2-3: Diện tích trồng cam và sản lượng trồng cam của các xã ở huyện
Hàm Yên năm 2006...............................................................................................45
Bảng 2-4: Tổng hợp rà soát đất trồng cam, kế hoạch trồng mới từ năm 20072010
46
Bảng 2-5: Hiện trạng sử dụng đất lâm nghiệp của các xã tại huyện Hàm Yên
năm 2005
49
Bảng 3-6: Xác định các chi phí và lợi ích của việc trồng rừng trên quan điểm
tài chính và quan điểm kinh tế.............................................................................60
Bảng 3-7: Các phương pháp áp dụng để lượng giá các chi phí và lợi ích của
việc trồng rừng.......................................................................................................64
Bảng 3-8: Chi phí trồng mới 1ha rừng keo trong năm thứ 1.............................66
Bảng 3-9: Chi phí chăm sóc và bảo vệ rừng trong 3 năm tiếp theo...................66
Bảng 3-10: Tổng chi phí trồng, chăm sóc, bảo vệ cho 1 ha rừng trồng (keo lai)
qua chu kỳ 7 năm...................................................................................................67
Bảng 3-11: Giá trị hấp thụ CO2 của rừng trồng (keo lai)..................................69
Bảng 3-12: Giá trị cung cấp nguồn phân bón cho đất của rừng trồng (keo lai)
70
Bảng 3-13: Tổng hợp lợi ích của việc trồng 1 ha rừng qua chu kỳ 7 năm.........71
Bảng 3-14: Giá trị hiện tại ròng của việc trồng rừng trên quan điểm tài chính
71
Bảng 3-15: Giá trị hiện tại ròng của việc trồng rừng trên quan điểm kinh tế. .72
Bảng 3-16: Tỷ số B/C của việc trồng rừng trên quan điểm tài chính................73
Bảng 3-17: Tỷ số B/C của việc trồng rừng trên quan điểm kinh tế...................74
Bảng 3-18: Xác định các chi phí và lợi ích của việc trồng cam trên quan điểm
kinh tế và tài chính................................................................................................76
Bảng 3-19: Các phương pháp áp dụng để lượng giá các chi phí và lợi ích của
việc trồng rừng.......................................................................................................77

khấu r
85
Hình 3-10: NPV trồng cam trên quan điểm kinh tế khi thay đổi tỷ lệ chiết khấu
r
86
Hình 3-11: Nguyên lý kiểm soát xói mòn đất.......................................................97


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
B/C

Lợi ích/Chi phí (Benefit/Cost)

CBA

Phân tích Chi phí – Lợi ích (Cost – Benefit Analysis)

CDM

Cơ chế phát triển sạch (Clean Development Mechanism)

CER

Chứng chỉ giảm khí thải (Certified Emission Reduction)

IRR

Tỷ suất hoàn vốn nội bộ (Internal Rate of Return)

NPV

Chính nhờ vào loại cây trồng này mà cuộc sống người dân ở đây đã và đang được
cải thiện rõ rệt. Tuy nhiên, để đảm bảo cho chất lượng môi trường trên địa bàn,
ngoài những diện tích đất dành cho trồng cam, trong quy hoạch sử dụng đất vẫn
phải duy trì một quỹ đất nhất định cho trồng rừng. Thực tế cho thấy, do lợi ích trước
mắt của việc trồng cam mang lại nên nhiều nơi người dân muốn chuyển đất từ trồng
rừng sang trồng cam.
Trong quy hoạch sử dụng đất của huyện Hàm Yên, lựa chọn phương án trồng
cam hay trồng rừng chính là giải quyết mối quan hệ giữa kinh tế và môi trường. Để
giải quyết đưa ra phương án lựa chọn tối ưu nhất, với kiến thức chuyên môn đã
được đào tạo tại trường cùng với kinh nghiệm làm việc hiện tại, tôi đã lựa chọn đề
tài nghiên cứu là: “Đánh giá hiệu quả sử dụng đất của việc trồng cam và trồng
rừng ở huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang”. Nghiên cứu này nhằm tính toán đầy
đủ và so sánh các lợi ích và chi phí của hai phương án trồng cam và trồng rừng trên
các quan điểm tài chính và kinh tế. Từ đó làm cơ sở tham khảo trong lựa chọn chính
sách đối với quy hoạch sử dụng đất, đảm bảo phát triển kinh tế đi đôi với bảo vệ
môi trường trên địa bàn huyện. Nếu chọn phương án sử dụng đất nào thì cần có
những biện pháp tương ứng nhằm đảm bảo phát triển kinh tế một cách bền vững.


2

2. Mục tiêu của đề tài
-

Vận dụng cơ sở lý luận của phân tích Chi phí – Lợi ích (CBA) để xem xét,
đánh giá lựa chọn phương án sử dụng đất hợp lý.

-

Đánh giá và so sánh hiệu quả kinh tế - xã hội – môi trường của các phương

tổng hợp, phương pháp kế thừa để thực hiện nghiên cứu.
Để thực hiện được nội dung nghiên cứu trên, đề tài sử dụng 2 nguồn số liệu cơ
bản: 1) Số liệu sơ cấp: Tiến hành điều tra khảo sát địa bàn nghiên cứu để lấy các dữ
liệu phục vụ cho tính toán chi phí và lợi ích của việc trồng cam và trồng rừng; 2) Số
liệu thứ cấp: Thu thập các dữ liệu thứ cấp từ Ủy ban nhân dân huyện như Báo cáo
quy hoạch sử dụng đất của huyện Hàm Yên đến năm 2010; Chương trình phát triển
lâm nghiệp từ 2006 -2010 của huyện; Đề án phát triển trồng cam của huyện.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia thành 3 chương, cụ thể
như sau:
Chương 1: Cơ sở khoa học của việc áp dụng phân tích Chi phí – Lợi ích trong
đánh giá hiệu quả dự án.
Chương 2: Hiện trạng thực hiện việc trồng cam và trồng rừng ở huyện Hàm
Yên, Tuyên Quang.
Chương 3: Đánh giá hiệu quả sử dụng đất của việc trồng cam và trồng rừng
– Đề xuất giải pháp sử dụng bền vững tài nguyên đất.


4

CHƯƠNG 1:CƠ SƠ KHOA HỌC CỦA VIỆC ÁP DỤNG PHÂN TÍCH
CHI PHÍ – LỢI ÍCH TRONG ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ DỰ ÁN
1.1.

CBA và vai trò của CBA trong phân tích chính sách

1.1.1.

Khái niệm về CBA


tiến hành được một CBA có chất lượng. Chỉ đơn giản là việc xác định đâu là chi
phí, đâu là lợi ích cũng đã đòi hỏi chúng ta phải cân nhắc kỹ lưỡng. Cũng có thể có
nhiều ý kiến khác nhau xoay quanh vấn đề này. Trong khi một số đầu vào, đầu ra có
thể có các mức giá phổ biến và ổn định thì một số khác lại có mức giá biến đổi
trong quá trình triển khai dự án. Tuy nhiên có thể có một số đầu vào, đầu ra không
được đưa ra buôn bán trên thị trường. Điều này khiến cho chúng ta cần phải đưa ra
những phương pháp định giá khác nhau.
CBA mặc định rằng tất cả các mặt hàng đều có một giá trị tiền tệ nhất định.
Điều này là cần thiết trong việc so sánh giữa đầu vào và đầu ra để quyết định xem
liệu một dự án có khả thi về mặt kinh tế hay không. Trong khi chúng ta có những kỹ
năng thích hợp để quy ra tiền với phần lớn các mặt hàng thì chúng ta khó có thể làm
như vậy với một số mặt hàng nhất định. Ví dụ như không khí trong lành và sức
khỏe tốt đều rất đáng quý song sẽ là một thách thức lớn để có thể xác định chính
xác lợi ích ròng của một chương trình mang lại không khí trong lành và sức khỏe tốt
cho mọi người.
Cần phải nhận thấy một điều rằng người ta đưa các quyết định liên quan đến
các dự án không chỉ đơn thuần dựa trên cơ sở CBA. Các tính toán chính trị và xã
hội nằm ngoài CBA có thể có tầm quan trọng ít nhất là ngang bằng với các lợi ích
kinh tế trong việc quyết định có nên triển khai dự án hay không. Điều này đúng nhất
là trong trường hợp đưa ra các quyết định đối với chính sách công. Lúc đó, các tài
nguyên thường được phân bổ dựa trên các lý do khác chứ không phải là hiệu quả
kinh tế. Những vấn đề công bằng, bình đẳng trong các trường hợp này có thể sẽ thế
chỗ cho những nguồn lợi ròng lớn về kinh tế. Nhưng ít nhất cũng có thể hy vọng
rằng một CBA có thể tác động tới quyết định của một người còn đang do dự hay có


6

thể đưa chúng ta đến với lựa chọn tối ưu giữa các dự án có tác động chính trị, xã hội
tương tự như nhau.


 Chỉ so sánh các phương án có
cùng mục tiêu

 Khi thông tin tương đối rõ ràng

 Thông tin càng rõ càng tốt

 Ứng dụng trong hầu hết các lĩnh
vực

 Phù hợp với các dự án thuộc
phạm vi các chương trình dịch vụ
cộng đồng và xã hội (y tế, giáo
dục, phúc lợi, ..)

Nguồn: Tác giả tự tổng hợp
Phân biệt CBA với phân tích tài chính

Bảng 1-2: So sánh CBA và Phân tích tài chính


7

CBA

Phân tích tài chính

Quan điểm



Chi phí cơ hội

Chi phí bằng tiền

Đánh giá

Thay đổi ròng trong phúc Thay đổi doanh thu
lợi

Đơn vị đo lường

Tiền

Tiền

Khác





Nguồn: Tác giả tự tổng hợp
1.1.3. Ưu điểm và nhược điểm của CBA
Những ưu điểm của CBA
 Cung cấp thông tin giúp xã hội ra quyết định về việc phân bổ nguồn lực hiệu
quả giữa các mục tiêu sử dụng cạnh tranh lẫn nhau (sự rõ ràng và tin cậy cho
việc ra chính sách)
 Cung cấp khung phân tích vững chắc cho việc thu thập dữ liệu cần thiết
 Giúp tổng hợp và lượng hóa bằng tiền các tác động khác nhau để có thể so

án để xem vốn thực tế đã bỏ vào so với dự toán trước đây có phù hợp với dự kiến
ban đầu không để tiếp tục có những điều chỉnh để đảm bảo tính tiến độ. Thực tế gần
100% các dự án không đạt.
- Cấp độ 3: Giai đoạn cuối
Khi đã kết thúc dự án, phân tích giai đoạn này để rút ra những kinh nghiệm về
những hoạt động, chi phí thực tế để thực hiện các dự án tương tự.


9

Ngoài ra nếu trong phân tích CBA thực hiện cả 3 giai đoạn thì có thể người ta
so sánh giữa các giai đoạn với nhau. So sánh phân tích ban đầu với phân tích cuối
cùng hoặc phân tích ban đầu với phân tích giữa. Việc so sánh này giúp cho các nhà
quản lý nắm được vận hành của từng giai đoạn và kết quả cả quá trình thực hiện dự
án giai đoạn nào có tính hiệu quả nhất trong 3 giai đoạn. Như vậy, đối với nhu cầu
thực tế trong các chương trình, các dự án tuỳ theo hoàn cảnh cụ thể mà người ta yêu
cầu các nhà CBA phải thực hiện các giai đoạn khi bắt đầu thực hiện hoặc trong quá
trình đang thực hiện hoặc khi kết thúc để tổng kết. Thông thường khi họ gặp phản
ứng từ xã hội, chịu sức ép của người dân thì yêu cầu đặt ra làm CBA càng lớn.

1.2. Các bước thực hiện CBA cho đánh giá một dự án
Phân tích chi phí – lợi ích có thể được nghĩ đến như một quá trình vận hành
trong đó có một số bước nổi bật. Không phải phân tích nào cũng yêu cầu phải thực
hiện đầy đủ tất cả các bước đi này. Một dự án ngắn hạn sẽ không đòi hỏi phải chiết
khấu lợi ích trong tương lai. Một dự án đã triển khai nhiều lần có thể sẽ không gặp
phải rủi ro hay bất trắc. Tuy nhiên, trong phần lớn các trường hợp, để cân nhắc có
nên triển khai một dự án hay không cho việc triển khai dự án nào giữa các dự án
được đề xuất, chúng ta cần thực hiện theo các bước như sơ đồ sau:



1.2.1. Quyết định lợi ích thuộc ai và chi phí thuộc ai
Khi bắt đầu một phân tích, cần phải chỉ rõ nghiên cứu này là do ai làm, chi phí
và lợi ích thuộc ai. Chúng ta luôn phải rõ ràng và nhất quán trong việc giải quyết
những vấn đề này cũng như trong việc tính toán lợi ích và chi phí cho những
người/nhóm người khác nhau. Nếu bước này phân định không rõ ràng thì chúng ta
sẽ định giá sai quy trình tính toán sau này.
Từ thực tiễn cho thấy việc phân định đó phụ thuộc vào từng loại chương trình,
dự án, từng vị trí nhìn nhận của người ra hoạch định chính sách hoặc người đánh
giá.
Một phân tích cần phải nêu rõ được dự án hay các dự án là đối tượng xem xét.
Chúng có loại trừ lẫn nhau hay không. Cần phải đưa được các lựa chọn thay thế
tương ứng vào phân tích. Mốc chuẩn để so sánh là lựa chọn không tiến hành dự án.
Song đó có thể chỉ là một cơ sở để so sánh.
Về mặt cơ sở khoa học thì bất cứ một dự án hoặc chương trình nào cũng có
nhiều giải pháp thay thế khác nhau. Do vậy, khi chúng ta có nhiều phương án sẽ
giúp chúng ta chọn ra phương án hiệu quả nhất. Cho nên bất cứ CBA nào chúng ta
phải đưa ra các phương án thay thế. Tuy nhiên trên thực tế, những thiếu sót kiểu này
không phải là hiện tượng hiếm khi xảy ra. Khi chúng ta thay đổi quy mô, thời hạn
thực hiện của một dự án, chúng ta có thể có được những thay thế thích ứng.
Trong việc sử dụng đất ở huyện Hàm Yên có rất nhiều phương án sử dụng đất
có thể thay thế nhau. Do giới hạn của đề tài chỉ tập trung vào 2 phương án sử dụng
đất phổ biến đó là phương án sử dụng đất để trồng cam và phương án sử dụng đất
để trồng rừng.
1.2.2. Liệt kê các ảnh hưởng tiềm năng và các chỉ số đo lường
Bất cứ một CBA nào người có trình độ cao phải hình dung ra được khi thực
hiện dự án thì tác động của nó tới môi trường và xã hội như thế nào. Mỗi tác động


12


Trên cơ sở chúng ta dự báo, liệt kê những ảnh hưởng vật chất tiềm năng thì
vấn đề tiếp theo là dự đoán những ảnh hưởng về lượng làm cơ sở cho việc tính toán
sau này.
Tất cả những nhân tố tác động đều phải được lượng hóa. Có những nhân tố
lượng hóa đơn giản nhưng có những nhân tố lượng hóa phức tạp, nhưng bất cứ một
lượng hóa nào cũng phải có cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn.
Có hai phương án: thứ nhất là dùng giá thị trường: nên dùng giá thị trường
chung; thứ hai nếu không có giá thị trường chúng ta dùng “shadow price” – “giá
bóng”. Trong kinh tế môi trường chúng ta có nhiều phương pháp định giá khác
nhau khi không có giá thị trường. Đó là các phương pháp sau:
- Phương pháp đáp ứng - liều lượng
- Phương pháp chi phí thay thế
- Phương pháp chi phí cơ hội
- Phương pháp chi phí du lịch
- Phương pháp đánh giá hưởng thụ
- Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên

1.2.5. Quy tất cả các giá trị tiền tệ đã tính toán về giá trị hiện tại
Bất cứ một dự án nào thì sự tồn tại và vận hành của dự án cũng biến đổi theo
thời gian nhất định. Khi tiến hành CBA để ra quyết định thì phải tính tại thời điểm
hiện tại, điều này buộc chúng ta phải quy đổi tất cả giá trị tiền tệ về giá trị hiện tại.
Thông thường người ta dùng chiết khấu để quy đổi, trong đó có tính yếu tố về
lạm phát, biến động khách quan về thị trường do ảnh hưởng chính trị.
Đối với phần lớn các dự án, cần phải tính chi phí và lợi ích được chiết khấu tại
những thời điểm khác nhau. Người ta thường thực hiện điều này bằng cách sử dụng
biện pháp chiết khấu lũy thừa để tính giá trị hiện tại của chi phí lợi ích. Rất khó để


14


trong những chỉ tiêu dễ được mọi người chấp nhận nhất.


15

Công thức tính NPV là:

Bt − Ct

t
t =0 (1 + r )
n

NPV =
Trong đó:
t - thời gian tính dòng tiền
n - Tổng thời gian thực hiện dự án
r - Tỉ lệ chiết khấu
Ct – Chi phí tại thời gian t
Bt - Lợi ích tại thời gian t

Dự án chỉ có ý nghĩa khi NPV > 0. Khi có nhiều dự án khác nhau thì sẽ lựa
chọn dự án nào có giá trị NPV lớn nhất.
Bên cạnh chỉ tiêu NPV người ta còn sử dụng các chỉ tiêu B/C, IRR, thời gian
hoàn vốn.
- Chỉ tiêu Lợi ích/Chi phí (B/C):
Chỉ tiêu B/C được tính bằng cách đem chia giá trị hiện tại của các lợi ích cho
giá trị hiện tại của các chi phí, sử dụng chi phí cơ hội của vốn làm suất chiết khấu.
Tỷ số Lợi ích-Chi phí (B/C) = Giá trị hiện tại của lợi ích/Giá trị hiện tại của
chi phí

vào các số liệu của dự án mà thôi. Đặc biệt, việc tính toán này không đòi hỏi số liệu
về chi phí cơ hội của vốn. Tuy nhiên, những điểm bất lợi của tỷ suất hoàn vốn nội
bộ lại rất lớn và bắt chúng ta phải thận trọng khi sử dụng nó.
Sau khi các chỉ tiêu được tính toán, nó sẽ cho chúng ta những kết quả, một
phương án mà chúng ta lựa chọn để có nhìn nhận ban đầu trên cơ sở đã định lượng.
- Thời gian hoàn vốn:
Thời gian hoàn vốn là số năm cần phải có để lợi ích ròng chiết khấu hoàn lại
vốn đầu tư.
Các dự án có thời gian hoàn vốn nhanh sẽ được ưu tiên lựa chọn đầu tư kinh
doanh. Nhưng chỉ tiêu này có thể dẫn đến những kết quả sai lệch, đặc biệt là những
trường hợp các dự án đầu tư có thời gian hoạt động dài và người ta biết khá chắc
chắn về các lợi ích và chi phí trong tương lai.
1.2.7. Phân tích độ nhạy
Xem xét khả năng nhạy cảm của dự án trước biến động của thị trường. Thông
thường người ta có những phép thử khác nhau trong biến động về tỷ lệ chiết khấu,


17

để xem các biến động ở bước 7 còn phù hợp hay không, những giá trị lựa chọn ban
đầu thay đổi như thế nào trước biến động của thị trường. Đây là cơ sở tư vấn cho
các nhà chính sách để xem mức độ hấp dẫn của dự án.
Có lẽ khiếm khuyết hay gặp nhất trong phân tích CBA là thất bại trong việc xử
lý rủi ro và bất trắc. Bất trắc có thể tiềm ẩn trong nhiều khía cạnh của dự án. Phải
xác định được đầy đủ nguyên nhân gây ra các bất trắc này một cách đầy đủ nhất có
thể. Chẳng hạn như kinh phí dự toán cho một công trình xây dựng, điều kiện thời
tiết bất ổn khiến cho các hoạt động ngoài trời trở nên khó khăn hơn hay mức tăng
trưởng dân số dẫn đến mật độ sử dụng các thiết bị tiện dụng tăng lên.
Nên nỗ lực trong việc nhận thức được rủi ro hay bất trắc của dự án. Có thể
dùng cách đơn giản như đưa ra một phân tích độ nhạy. Phân tích này sẽ tính toán

những ảnh hưởng về lượng. Vì nghiên cứu này thực hiên so sánh đồng nhất trên 1
ha trồng cam và 1 ha trồng rừng.
Sau đây là sơ đồ thể hiện các bước sẽ thực hiện khi phân tích đánh giá hiệu
quả của việc trồng cam và trồng rừng ở huyện Hàm Yên, Tuyên Quang:


Trích đoạn Những mặt đạt được của việc trồng rừng Những tồn tại của việc trồng rừng Đánh giá chung về nguyên nhân những thành công và hạn chế của việc trồng cam TRỒNG CAM VÀ TRỒNG RỪNG ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP SỬ DỤNG BỀN VỮNG TÀI NGUYÊN ĐẤT Giải pháp về giống:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status