biện pháp giáo dục tính sáng tạo cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi tại góc tạo hình - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
____________________________________

Phạm Thị Nguyên Chi

BIỆN PHÁP GIÁO DỤC TÍNH SÁNG TẠO
CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 – 6 TUỔI
TẠI GÓC TẠO HÌNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh - 2013


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
____________________________________

Phạm Thị Nguyên Chi

BIỆN PHÁP GIÁO DỤC TÍNH SÁNG TẠO
CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 – 6 TUỔI
TẠI GÓC TẠO HÌNH

Chuyên ngành

: Giáo dục học (Mầm non)

Mã số


LỜI CẢM ƠN ............................................................................................................ 1
MỤC LỤC .................................................................................................................. 2
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT....................................................................... 5
MỞ ĐẦU..................................................................................................................... 6
1. Lý do chọn đề tài ...........................................................................................................6
2. Mục đích nghiên cứu ....................................................................................................7
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu ............................................................................7
4. Nhiệm vụ nghiên cứu ....................................................................................................7
5. Giả thuyết khoa học......................................................................................................8
6. Giới hạn nghiên cứu .....................................................................................................8
7. Cách tiếp cận nghiên cứu .............................................................................................8
8. Phương pháp nghiên cứu .............................................................................................9
9. Những đóng góp mới của đề tài.................................................................................10
10. Cấu trúc của luận văn ..............................................................................................10

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC TÍNH SÁNG
TẠO CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 – 6 TUỔI TẠI GÓC TẠO HÌNH..................... 11
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ......................................................................................11
1.1.1. Những nghiên cứu trên thế giới ......................................................................... 11
1.1.2. Những nghiên cứu ở Việt Nam .......................................................................... 13
1.2. Cơ sở lý luận về sáng tạo .........................................................................................15
1.2.1. Khái niệm sáng tạo ............................................................................................. 15
1.2.2. Cơ sở thần kinh và cơ chế tâm lý của sáng tạo .................................................. 17
1.2.3. Bản chất của sáng tạo ......................................................................................... 19
1.2.4. Đặc điểm của sáng tạo........................................................................................ 22
1.2.5. Các cấp độ của sáng tạo ..................................................................................... 23
1.3. Tính sáng tạo của trẻ MG .......................................................................................24
1.3.1. Khái niệm ........................................................................................................... 24
1.3.2. Vai trò của tính sáng tạo đối với sự phát triển tâm lý trẻ mẫu giáo ................... 25
1.3.3. Đặc điểm sáng tạo của trẻ mẫu giáo................................................................... 26

3.1. Xây dựng một số biện pháp giáo dục tính sáng tạo cho trẻ MG 5 - 6 tuổi tại góc
tạo hình ............................................................................................................................63
3.1.1. Các nguyên tắc khi xây dựng một số biện pháp giáo dục tính sáng tạo cho trẻ
MG 5 – 6 tuổi tại góc tạo hình ..................................................................................... 63
3.1.2. Đề xuất một số biện pháp giáo dục tính sáng tạo cho trẻ MG 5 – 6 tuổi tại góc
tạo hình ......................................................................................................................... 65
3.1.3. Hướng dẫn triển khai các biện pháp................................................................... 66
3.2. Tổ chức thử nghiệm các biện pháp ........................................................................75
3.2.1. Mục đích thử nghiệm ......................................................................................... 75
3.2.2. Quy trình thử nghiệm ......................................................................................... 75
3.2.3. Điều kiện tiến hành TN ...................................................................................... 76
3.2.4. Cách đánh giá kết quả TN .................................................................................. 77
3.2.5. Kết quả TN ......................................................................................................... 77

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ SƯ PHẠM ............................................................. 97
1. Kết luận chung ............................................................................................................97
2. Kiến nghị sư phạm ......................................................................................................98
3


TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................... 100

4


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BGH

Ban Giám hiệu


Nguyên vật liệu

TN

Thử nghiệm

Tp.HCM

Thành phố Hồ Chí Minh

5


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân. Theo Luật
giáo dục, mục tiêu của giáo dục mầm non là “Giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm,
trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào
lớp một;…”[5].
“Hoạt động sáng tạo có ảnh hưởng to lớn không chỉ đến sự tiến bộ khoa học kỹ
thuật, mà còn đến toàn xã hội nói chung, và dân tộc nào biết nhận ra được nhân cách sáng
tạo một cách tốt nhất, biết phát triển họ và biết tạo ra được một cách tốt nhất cho họ
những điều kiện thuận lợi nhất, thì dân tộc đó sẽ có những ưu thế lớn lao” [25]. Do đó,
tính sáng tạo là một trong các phẩm chất rất quan trọng không thể thiếu được để hình thành
con người trong thời đại mới.
Chính vì vậy, phát triển tính sáng tạo là một trong những nhiệm vụ quan trọng của
giáo dục nói chung và giáo dục mầm non nói riêng. Tính sáng tạo không tự đến, nó cần
được hình thành, nuôi dưỡng và phát triển dựa vào nhiều yếu tố. Nhiều công trình nghiên
cứu khoa học của các nhà tâm lý chứng minh rằng, trẻ lứa tuổi mầm non đã có những biểu

dụng tối đa góc tạo hình ở trong lớp lẫn ngoài trời để giáo dục tính sáng tạo cho trẻ mầm
non, đặc biệt trẻ MG 5 - 6 tuổi. Bên cạnh đó vẫn chưa có nhiều đề tài nghiên cứu về biện
pháp sử dụng môi trường, cụ thể là góc tạo hình trong việc giáo dục tính sáng tạo cho trẻ
MG 5 - 6 tuổi.
Từ những lý do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài “Biện pháp giáo dục tính
sáng tạo cho trẻ MG 5 – 6 tuổi tại góc tạo hình”.

2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số biện pháp giáo dục tính sáng tạo cho trẻ MG
5 – 6 tuổi tại góc tạo hình.

3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình giáo dục tính sáng tạo cho trẻ mầm non.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Một số biện pháp giáo dục tính sáng tạo cho trẻ MG 5 – 6 tuổi tại góc tạo hình.

4. Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận của đề tài
4.2. Khảo sát thực trạng biện pháp giáo dục tính sáng tạo cho trẻ MG 5 – 6 tuổi tại
góc tạo hình ở một số trường mầm non tại TP.HCM
7


4.3. Đề xuất và thử nghiệm một số biện pháp giáo dục tính sáng tạo cho trẻ MG 5 –
6 tuổi tại góc tạo hình

5. Giả thuyết khoa học
Nếu xác định đúng thực trạng biện pháp giáo dục tính sáng tạo cho trẻ MG 5 – 6 tuổi
tại góc tạo hình ở các trường mầm non (MN) thì sẽ đề xuất một số biện pháp phù hợp với

hưởng và làm biến đổi một thành tố khác của cấu trúc. Sự biến đổi các biện pháp giáo dục
trẻ MG 5 - 6 tuổi tại góc tạo hình sẽ nuôi dưỡng, phát triển tính sáng tạo cho trẻ MG 5 - 6
tuổi.
7.2. Cách tiếp cận thực tiễn: Dựa vào chương trình giáo dục mầm non (GDMN) 2009 và
thực tiễn chỉ đạo, triển khai hoạt động giáo dục nhằm phát triển tính sáng tạo cho trẻ ở các
trường MN.
7.3. Cách tiếp cận hoạt động (L.X. Vygotsky, A.N. Leontev, S.L. Rubinstein): Các
thuộc tính tâm lý (trí tuệ, cảm xúc) và ý thức được hình thành và thể hiện trong hoạt động
(xuất tâm). Việc phân tích sản phẩm HĐTH nhằm mục đích làm nổi rõ tính sáng tạo của
trẻ MG 5 - 6 tuổi.

8. Phương pháp nghiên cứu
8.1. Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận
8.1.1. Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết
Đọc các tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu như luận văn, khoá luận tốt
nghiệp, các đề tài nghiên cứu khoa học, sách, tạp chí, giáo trình…nhằm phân tích và tổng
hợp tài liệu.
8.1.2. Phương pháp hệ thống hóa lý thuyết
Hệ thống hoá lý thuyết nhằm sắp xếp thông tin lý luận thu được thành những đơn vị
kiến thức có cùng bản chất, từ đó xây dựng cơ sở lý luận của đề tài.
8.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
8.2.1. Phương pháp quan sát sư phạm
- Quan sát HĐTH của trẻ MG 5 - 6 tuổi tại một số trường MN, Tp.HCM
- Quan sát hoạt động vui chơi tại góc tạo hình nhằm thu thập thông tin về biện pháp
giáo dục tính sáng tạo cho trẻ MG 5 - 6 tuổi của GVMN tại góc tạo hình.
8.2.2. Phương pháp điều tra bằng phiếu (Anket)
Sử dụng phiếu điều tra để thu thập ý kiến của BGH, GVMN về:
- Nhận thức của BGH, GVMN về góc tạo hình, góc tạo hình “mở” trong việc giáo
dục tính sáng tạo cho trẻ MG 5 – 6 tuổi.
- Thực trạng xây dựng, thiết kế góc tạo hình nhằm giáo dục tính sáng tạo cho trẻ

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, danh mục các bảng biểu và
chữ viết tắt, cấu trúc luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về biện pháp giáo dục tính sáng tạo cho trẻ MG 5 – 6
tuổi tại góc tạo hình
- Chương 2:. Thực trạng biện pháp giáo dục tính sáng tạo cho trẻ MG 5 – 6 tuổi tại
góc tạo hình ở một số trường MN, Tp. HCM.
- Chương 3: Đề xuất và thử nghiệm một số biện pháp giáo dục tính sáng tạo cho trẻ
MG 5 – 6 tuổi tại góc tạo hình.

10


CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC TÍNH
SÁNG TẠO CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 – 6 TUỔI TẠI GÓC TẠO
HÌNH
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Những nghiên cứu trên thế giới
 Những nghiên cứu về tính sáng tạo
Trước đây khi nói đến sáng tạo là người ta thường đề cập tới những thiên tài trong
các lĩnh vực khoa học, nghệ thuật như: Wolfgang AmadeusMozart, Albert Einstein, Lev
Nikolayevich Tolstoy, Isaac Newton, Leonardo da Vinci…, vì vậy vấn đề bản chất và quy
luật của hoạt động sáng tạo chưa được đi sâu nghiên cứu trên cơ sở các hồi ký, tiểu sử, các
tác phẩm văn học mang tính tự thuật của các danh nhân, do vậy, cũng mới chỉ được mô tả,
giải thích sơ bộ.
Giữa thế kỷ XIX, với những nghiên cứu đầu tiên và có ý nghĩa lớn về sáng tạo, các
nhà xã hội học đã cho rằng, bản chất của tính tích cực sáng tạo là hoạt động tưởng tượng.
Quan điểm này gần với quan điểm của các nhà tâm lý học ngày nay.
Sang thế kỷ XX, đây là một thời điểm có tính chất bước ngoặt trong lịch sử phát triển
nhân loại, cùng với những tiến bộ vượt bậc trong các lĩnh vực khoa học, nhiều ngành khoa
học ra đời, nhiều thành tựu khoa học được công bố và lĩnh vực sáng tạo cũng bắt đầu được

về sáng tạo, đóng góp cho xã hội, nổi bật như: G.S.Altshuller, V.N. Puskin, B.N. Kedrop,
M.G. Iarosepxki, P.A.Rudich, X.L.Rubinstein, L.X. Vygotsky … Họ cũng đã tổ chức cuộc
hội nghị, hội thảo về sáng tạo vào những năm 1960 – 1980 tại Matxcơva, Praha,
Budapest…
Từ những năm 60 – 70 của thập kỷ 20 trở đi, không chỉ ở Mỹ, Liên xô mà Tây Âu
đặc biệt ở Đức, do nhận ra ý nghĩa phát triển kinh tế xã hội, khoa học kỹ thuật cũng như ý
nghĩa phát triển cá nhân của sáng tạo mà vấn đề sáng tạo dưới góc nhìn mới của Tâm lý
học, Giáo dục học và Xã hội học đã được quan tâm nghiên cứu thích đáng.
 Những nghiên cứu về môi trường hoạt động cho trẻ
Vai trò của môi trường hoạt động trong việc giáo dục và phát triển của trẻ rất quan
trọng và quyết định chất lượng của các hoạt động của trẻ, đặc biệt là sự sáng tạo. Vì vậy,
vấn đề này được rất nhiều nhà giáo dục trên thế giới quan tâm và nghiên cứu, đặc biệt là ở
các nước đã từ lâu trong lịch sử giáo dục, người học luôn được đặt vào vị thế chủ thể của
quá trình nhận thức như: M. Montessori, Piaget, J. Dewey, Carol Seefeldt, A.N.
Leonchiev,…
Rất nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, hiệu quả giáo dục phụ thuộc rất nhiều về cách
suy nghĩ của nhà giáo dục, về vị thế của người được giáo dục. Quan điểm về vị thế của
12


người được giáo dục quyết định đến việc người được giáo dục sẽ xây dựng và sử dụng môi
trường giáo dục như thế nào và vai trò của họ ra sao.
Về vấn đề này Carol Seefeldt cho rằng: “Môi trường tạo nên hành vi của người thầy
sau khi người thầy tạo nên nó. Cách mà người thầy sử dụng môi trường và cách mà người
thầy sắp xếp các đồ vật bên trong cấu trúc vật chất đã định vị này phụ thuộc vào chính
ông ấy. Trong công tác dạy học, người thầy có quan điểm riêng về bản chất của trẻ em.
Những đánh giá, hệ thống niềm tin này sẽ quy định nên cách mà người thầy sẽ sử dụng
môi trường” [19].
J. Dewey lại đề cập đến vai trò của môi trường như một tác nhân kích thích trẻ đến
với hoạt động: “Chỉ có một con đường cho phép người lớn kiểm soát trẻ nhỏ, đó là bằng

• Luận án Tiến sĩ của Lê Thanh Thủy nghiên cứu “Ảnh hưởng của tri giác tới tưởng
tượng sáng tạo trong hoạt động vẽ của trẻ 5 – 6 tuổi”.
• Luận án Tiến sĩ của Trương Thị Bích Hà nghiên cứu về “Tưởng tượng sáng tạo
hành động của sinh viên trường Đại học sân khấu điện ảnh”.
• Luận văn Thạc sĩ của Phạm Thị Thu Hương nghiên cứu “Tiềm năng sáng tạo và
biểu hiện của nó trong vận động theo nhạc của trẻ MG 5 – 6 tuổi”, của Trần Thị Nga,
Phạm Thị Thu Hoa nghiên cứu “Khả năng sáng tạo của trẻ MG và học sinh tiểu học thông
qua hoạt động vui chơi và qua môn kể chuyện”.
• Luận văn Thạc sĩ của Vũ Thị Kiều Trang nghiên cứu về “Phát huy tính sáng tạo
của trẻ MG 5 – 6 tuổi trong trò chơi lắp ghép xây dựng từ các NVL thiên nhiên và phế
liệu”…
Ngoài ra, một số tác giả như: PGS – TS Nguyễn Huy Tú, TS. Đức Uy, TS. Trần Tuấn
Lộ, TS. Vũ Kim Thanh… có bài giảng về Tâm lý học sáng tạo.
 Những nghiên cứu về môi trường hoạt động cho trẻ
Hiện nay, cùng với sự đổi mới sâu và rộng các biện pháp giáo dục trẻ ở trường MN,
các nhà giáo dục cũng đã quan tâm nhiều hơn đến môi trường hoạt động của trẻ. Ở trẻ MG,
hoạt động vui chơi đóng vai trò chủ đạo, môi trưòng chơi có tác động rất nhiều tới quá
trình và kết quả chơi. Việc tổ chức môi trưòng chơi được các tác giả xem nó như là biện
pháp trong tổ chức hoạt động chơi để phát triển một năng lực nào đó hay một số phẩm chất
như: tính tích cực, tính sáng tạo, tính tự lập… nhằm phát triển toàn diện nhân cách trẻ.
Một số công trình nghiên cứu về môi trường hoạt động như:
• Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Thị Kim Anh nghiên cứu “Biện pháp phát triển tính tích
cực sáng tạo của trẻ MG 5 - 6 tuổi trong trò chơi đóng vai theo chủ đề”.
• Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Thị Thanh Hà nghiên cứu về “Phuơng pháp hướng
dẫn trẻ 2 – 3 tuổi chơi trò chơi phản ánh sinh hoạt”.

14


• Luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Thị Thanh Hươngnghiên cứu về “Một số biện pháp

người. Theo ông,“Bộ não không những là một cơ quan giữ lại và tái hiện kinh nghiệm cũ
15


của chúng ta, nó còn là cơ quan phối hợp, chỉnh lý một cách sáng tạo và xây dựng nên
những tình thế mới và hành vi mới bằng những yếu tố của kinh nghiệm cũ đó” [38,8].
Thông thường chúng ta thường cho rằng sáng tạo là hoạt động chỉ có ở một số ít
những thiên tài, những tài năng xuất chúng như: Mozart, Newton, Einstein, Tolstoy… đã
tạo ra những tác phẩm vĩ đại hoặc phát minh ra những cái mới về khoa học kỹ thuật.
Nhưng theo L.X. Vygotsky: “Sự sáng tạo thật ra không phải chỉ có ở nơi nó tạo ra những
tác phẩm vĩ đại, mà ở khắp nơi nào con người tưởng tượng, phối hợp, biến đổi và tạo ra
một cái gì mới, cho dù cái mới ấy nhỏ bé đến đâu đi nữa so với những sáng tạo của các
thiên tài” [36, 10].
Ông quan niệm rằng: “Sáng tạo là bất cứ hoạt động nào của con người tạo ra được
một cái gì mới, không kể rằng cái được tạo ra ấy là một vật của thế giới bên ngoài hay
một cấu tạo nào đó của trí tuệ hoặc tình cảm chỉ sống và biểu lộ trong bản thân con
người”. Như vậy, sáng tạo ở đây được hiểu là hoạt động và hoạt động này tạo ra cái mới.
Ở Việt Nam, cũng có nhiều định nghĩa khác nhau về sáng tạo. Trong từ điển Tiếng
Việt (do Hoàng Phê chủ biên): “Sáng tạo là tạo ra cái mới, cách giải quyết mới, không bị
phụ thuộc vào cái đã có” [17].
Từ điển Tiếng Việt của tác giả Như Ý: “Sáng tạo là tìm thấy và làm nên cái mới”
[34].
Khi đề cập đến quá trình sáng tạo, Nguyễn Đức Uy cho rằng “Đó là sự đột khởi
thành hành động của một sản phẩm liên hệ mới mẻ nảy sinh từ sự độc đáo của một cá
nhân một đằng và những tư liệu biến cố, nhân sự hay những hoàn cảnh của đời người ấy,
đằng khác” [30, 4].
PGS – TS Nguyễn Huy Tú định nghĩa:“Sáng tạo thể hiện khi con người đứng trước
hoàn cảnh có vấn đề. Quá trình này là tổ hợp các phẩm chất và năng lực mà nhờ đó con
người trên cơ sở kinh nghiệm của mình, và bằng tư duy độc lập tạo ra được ý tưởng mới,
độc đáo, hợp lý trên bình diện cá nhân hay xã hội. Ở đó người sáng tạo gạt bỏ được các

thái độ, cảm xúc, các liên hệ thị giác – không gian, cảm nhận âm nhạc, nhịp điệu, vũ điệu,
các hoạt động và có sự phối hợp cơ thể, các quá trình tư duy phân kỳ. Tư duy của não phải
là tố chất của sự sáng tạo.
Các chức năng của não trái có đặc điểm là tuần tự và hệ thống, trong khi não phải có
đặc điểm là ngẫu hứng và tản mạn. Não trái có thể ghép các mảnh rời rạc thành một tổng
thể có tổ chức, trong khi não phải theo bản năng nhìn thấy cái tổng thể trước, sau đó mới
đến từng phần nhỏ. Hai bán cầu não cần phải hoạt động cân bằng và phối hợp với nhau để
con người phát triển toàn diện, hài hòa và sức khỏe tinh thần cũng như thể chất được cân
bằng (A.W.Mubzert, 1994).
Chúng ta vốn coi trọng những người có tư duy não trái. Điều này thể hiện rõ nhất
trong trường học. Các trường học phần lớn có xu hướng khuyến khích và ca ngợi những
17


học sinh học thuộc bài và luôn vâng lời thầy cô. Vì vậy, những cá nhân có tư duy não phải
chiếm ưu thế trở nên lạc điệu so với tiếng trống chung của nhà trường. Thomas Edison Bĩ
đánh giá là học kém, Albert Einstein biết đọc chậm hơn so với hầu hết trẻ em khác và ở
trường, ông học hành cũng chẳng giỏi giang gì. Thầy dạy nhạc của Ludwigvon Beethoven
đã từng đánh giá ông là nhà soạn nhạc đại bại. Nhà tâm lý học John B. Waston cũng bị các
thầy cũ cho là lười và không chịu vâng lời…
Tóm lại, các điều kiện bẩm sinh, di truyền có ảnh hưởng nhất định tới khả năng sáng
tạo của cá nhân. Tuy nhiên, yếu tố bẩm sinh, di truyền của cá nhân không quyết định mức độ
sáng tạo của mỗi người. Sáng tạo là sản phẩm hoạt động của cá nhân dưới sự ước chế của
môi trường sống, đặc biệt là môi trường giáo dục. Để có những cá nhân sáng tạo đáp ứng
được nhu cầu phát triển của xã hội, hơn ai hết, các nhà giáo dục phải là những người đầu
tiên quan tâm tới việc cải cách nội dung, phương pháp giáo dục học sinh. Đặc biệt là đối với
các em nhỏ, ở giai đoạn mới bắt đầu thể hiện khả năng sáng tạo. Nhà trường, thầy cô giáo
cần phải khuyến khích, động viên các em sáng tạo, tạo môi trường thuận lợi cho các em phát
triển khả năng sáng tạo của mình sau này.
1.2.2.2. Cơ chế tâm lý của sáng tạo

chỉnh, sự le lói ban đầu của giải pháp mà họ đang phải tìm kiếm trong hàng tháng, thậm
chí trong hàng năm trời.
- Giai đoạn xác minh (Verification): giai đoạn chiếu sáng chưa phải là giai đoạn kết
thúc quá trình sáng tạo, thường phải có sự sàng lọc cẩn thận tiếp theo. Ý tưởng mới mẻ
phải được tôi luyện, phải được chuyển sang dạng có thể thử nghiệm được, rồi thử nghiệm
thực sự. Chỉ khi nào các chứng cứ chỉ ra rằng nó là đúng, thì giải pháp sáng tạo mới được
khẳng định.
Mô hình 4 giai đoạn của Walles về quá trình sáng tạo cho chúng ta một cái khung
quan niệm (Conceptual framework) để phân tích sự sáng tạo một cách có hiệu quả [24, 3].
Trong thực tế, quá trình sáng tạo diễn ra rất linh hoạt. Không phải giai đoạn sau bao
giờ cũng được bắt đầu sau khi hoàn thành giai đoạn trước. Tuy rằng mỗi giai đoạn là một
thành phần trọn vẹn và cần thiết của quá trình sáng tạo nhưng chúng thường đan xen vào
nhau, có khi ở giai đoạn kết thúc công việc có thể lại có sự điều chỉnh ý đồ ban đầu và khi
có được kết quả ở một mức độ nào đó lại gây bất ngờ cho nhà sáng tạo mà ta không nhìn
thấy từ trước hoặc lường trước.
Kết quả của bất kỳ một hoạt động nào cũng đều tạo ra sản phẩm, chỉ khác nhau ở chỗ
sản phẩm sáng tạo hay không sáng tạo.
1.2.3. Bản chất của sáng tạo
Khi tìm hiểu về hoạt động sáng tạo, các nhà nghiên cứu đã xác định bản chất của hoạt
động này ở mấy vấn đề đó là:
Thứ nhất, hoạt động sáng tạo của con người mang bản chất xã hội.
19


Một xã hội phát triển luôn là tiền đề và là cơ hội có một không hai cho sáng tạo phát
triển, có thể nói sáng tạo được nảy sinh từ chính sự phát triển không ngừng đó của xã hội
và góp phần làm cho cuộc sống xã hội ngày càng tốt đẹp hơn.
Như vậy, hoạt động sáng tạo xuất phát từ chính nhu cầu của bản thân mỗi con người
và nhu cầu xã hội nhằm giải quyết các tình huống đặt ra. Khi xã hội phát triển, các điều
kiện thực tiễn không còn đáp ứng một cách phù hợp cho nhu cầu xã hội thì buộc con người

chứng minh cho quan điểm này.
Thực tế, để có được những linh cảm, cảm hứng hay trực giác trong sáng tạo đó chính
là kết quả của sự lao động không mệt mỏi của bản thân mỗi con người. Sự bừng sáng của
tư duy ấy là kết quả của sự tích lũy kiến thức, của sự say mê, kiên trì suy nghĩ sáng tạo.
Phát minh không nằm ngoài tầm hoạt động kiên trì với định hướng khoa học nghiêm túc.
Linh cảm, trực giác không đến với người lười biếng, đó chỉ là yếu tố bổ sung tuyệt vời cho
kinh nghiệm và hiểu biết.
Hai là, những ý kiến cho rằng tư duy, tưởng tượng mới là mắt xích trung tâm của sáng
tạo. Đại diện cho quan điểm này là các nhà nghiên cứu như: L.X.Vygotsky, A.N.
Leonchiev, X.L. Rubinstein, M. Arnauđôp… Hầu hết họ cho rằng hoạt động có ý thức của
con người có vai trò quan trọng trong hoạt động sáng tạo.
Theo L.X.Vygotsky “Hoạt động sáng tạo dựa trên năng lực, phối hợp của bộ não
chúng ta được khoa học tâm lý gọi là tưởng tượng”. Chúng ta thường quan niệm tưởng
tượng là những gì không có thực, không thực tế, nhưng ông đã khẳng định “Trí tưởng
tượng là cơ sở của bất cứ hoạt động sáng tạo nào, biểu hiện hoàn toàn như nhau trong
mọi phương diện của đời sống văn hóa, nó làm cho mọi sáng tạo nghệ thuật, khoa học và
kỹ thuật có khả năng thực hiện” [33, 8 - 9].
A. N.Leonchiev cũng đã đề cập đến vấn đề này trong các nghiên cứu của mình, ông
cho rằng tư duy là vấn đề chính tham gia vào công việc sáng tạo chứ không phải là linh
cảm.
Vậy có thể thấy rằng, cả hai quan niệm đưa ra ở trên đều đúng, nhưng chưa trọn vẹn.
Vì thực tế, các yếu tố như linh cảm, tư duy, tưởng tượng không thể tách rời nhau trong hoạt
động sáng tạo. Các yếu tố này thường có mối quan hệ mật thiết với nhau. Linh cảm cung
cấp cho lý trí những dữ kiện quý giá để lý trí phân tích, sàng lọc, thử nghiệm và khẳng định.
Và ngược lại, sự nổ lực nghiêm túc, kiên trì tư duy và tưởng tượng sẽ tạo điều kiện cho linh
cảm xuất hiện. Rõ ràng nếu chúng ta làm việc thực sự căng thẳng và nghiêm túc trong một
thời gian dài thì đến một thời điểm nào đó chúng ta sẽ giải quyết được nhiệm vụ một cách
tốt nhất như một sự lóe sáng.
Tóm lại, bản chất hoạt động sáng tạo của con người có nguồn gốc từ hiện thực khách
quan và mang bản chất xã hội. Sáng tạo là một hoạt động khó khăn, vất vả của con người

từ bỏ cái truyển thống, có khi từ bỏ cả mục đích truyền thống. Họ thường đưa ra các ý
tưởng mới, cách thực hiện mới để thực hiện ý tưởng độc đáo, mới lạ của mình.
Thứ ba là tính hiện thực, nó được thể hiện trong giá trị sản phẩm mới. Quá trình
sáng tạo ra sản phẩm mới luôn có mối liên quan đến hiện thực. Sáng tạo không phải là sự
đoạn tuyệt của hiện thực mà là sự phản ánh hiện thực tối đa nhưng trong tình huống mới,
chất lượng mới và mục đích mới.
22


Người ta thường quan niệm rằng: sáng tạo bao giờ cũng xuất phát từ nhu cầu của
hiện thực khách quan nhằm vươn tới việc tạo ra cái mới, độc đáo, tốt hơn, có lợi hơn cho
sự phát triển của xã hội. Điều này có vẻ trái ngược khi người ta nghiên cứu các sản phẩm
sáng tạo của trẻ: không độc đáo hơn, không đẹp hơn, không có lợi hơn cho xã hội. Các nhà
khoa học cho rằng, nếu xem xét một cách nghiêm ngặt theo tiêu chuẩn của một sản phẩm
sáng tạo thì trẻ nhỏ chưa có sáng tạo. Vì vậy có nhà khoa học đã đề xuất bỏ thuật ngữ
“sáng tạo của trẻ” thay bằng thuật ngữ “tiền sáng tạo”. Do đó, cần phân biệt giá trị sáng
tạo theo hai cấp độ:
- Sản phẩm sáng tạo có giá trị khách quan: những sản phẩm mới, độc đáo, có ý
nghĩa xã hội thực sự. Đó là những phát minh, sáng chế, cải tiến khoa học kỹ thuật… của
các nhà khoa học.
- Sản phẩm khoa học có giá trị chủ quan: đó là những sản phẩm chưa có ý nghĩa xã
hội thực sự, chưa mang đến cho xã hội cái mới, cái độc đáo nhưng nó có ý nghĩa quan
trọng trong phát triển nhân cách, đặc biệt là trong phát triển trí tuệ. Nó là cái mới với chính
người tạo ra nó. Đây là sản phẩm chủ yếu do trẻ nhỏ tạo ra trong quá trình chơi và học tập.
Chúng ta tập cho trẻ học cách sáng tạo, được thể hiện nhu cầu tự nhiên vốn có ở trẻ,
không bị phụ thuộc vào một công thức, một giải pháp, một đường mòn có sẵn. Chúng ta
giúp cho trẻ trở thành người sáng tạo. Lợi ích này chính bản thân của trẻ cũng chưa ý thức
được, nhưng nó mang một ý nghĩa xã hội to lớn.
Tóm lại, xét trên bình diện toàn xã hội thì hoạt động chơi và học tập là hoạt động tái
tạo, nhưng trên bình diện cá nhân thì hoạt động chơi và học tập là hoạt động sáng tạo, sáng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status