BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Trần Thị Thu Vân
BIỂU HIỆN XÚC CẢM – TÌNH CẢM CỦA TRẺ
MỒ CÔI 7 -11 TUỔI QUA TRANH VẼ TẠI LÀNG
TRẺ EM SOS GÒ VẤP
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Trần Thị Thu Vân
BIỂU HIỆN XÚC CẢM – TÌNH CẢM CỦA TRẺ
MỒ CÔI 7 -11 TUỔI QUA TRANH VẼ TẠI LÀNG
TRẺ EM SOS GÒ VẤP
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành : Tâm lý học
Mã số
: 60 31 04 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
Trần Thị Thu Vân
4
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN .........................................................................................................................3
LỜI CAM ĐOAN ...................................................................................................................4
MỤC LỤC ...............................................................................................................................5
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ....................................................................................8
MỞ ĐẦU .................................................................................................................................8
2.
Mục đích nghiên cứu: .............................................................................................10
3.
Đối tượng và khách thể nghiên cứu: ......................................................................10
4.
Giả thuyết nghiên cứu .............................................................................................10
5.
Nhiệm vụ nghiên cứu ..............................................................................................10
6.
Phóng chiếu (Projection) ..................................................................................................24
5
1.2.5. Sự bộc lộ xúc cảm - tình cảm của trẻ qua tranh vẽ ............................................27
1.3.
Kỹ thuật phân tích tranh vẽ của trẻ .....................................................................29
1.3.1. Quan sát khi trẻ vẽ tranh .....................................................................................29
1.3.2. Thu thập thông tin khi trẻ hoàn thành ................................................................30
1.3.3. Kỹ thuật phân tích tranh vẽ .................................................................................30
1.3.4. Một số chỉ dẫn cụ thể về kỹ thuật xem tranh ......................................................31
1.3.4.1.
Những biểu hiện về nội dung hình vẽ ..........................................................31
1.3.4.2.
Những biểu hiện về mặt hình thức của bức tranh .......................................35
1.3.4.3.
Sử dụng màu sắc .........................................................................................37
1.3.4.4.
Vị trí hình vẽ - biểu tượng không gian của hình vẽ .....................................40
2.
Kiến nghị ................................................................................................................118
TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................................122
PHỤ LỤC ............................................................................................................................125
6
PHỤ LỤC 1:Câu hỏi phỏng vấn ....................................................................................125
PHỤ LỤC 2: ....................................................................................................................125
PHỤ LỤC 3: TÓM TẮT CÁC TRƯỜNG HỢP .............................................................126
7
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TH1-H1-Vẽ nhà – Nam 11t: trường hợp 1, hình 1, vẽ nhà, đối tượng: nam 11 tuổi.
TH2-H2-Vẽ người – Nam 11t: trường hợp 2, hình 2, vẽ người, đối tượng: nam 11 tuổi.
Làng: làng trẻ em SOS – Gò Vấp – Thành phố Hồ Chí Minh.
Bà mẹ SOS: người mẹ ở làng trẻ em SOS - Gò Vấp – Thành phố Hồ Chí Minh.
8
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
8
cảm xúc, sự nhận thức, thái độ...đồng thời nó cũng trở thành phương tiện giao tiếp của trẻ
với thế giới bên ngoài.
Ngoài ra, tranh vẽ có ý nghĩa lớn trong khoa học nghiên cứu tâm lý trẻ em. Đây là một
vấn đề không hề đơn giản trong tâm lý lâm sàng trẻ em. Ở Việt Nam, tuy chưa có nhiều
công trình nghiên cứu về hình vẽ của trẻ nhưng một số tác giả cũng đã sử dụng tranh vẽ
trong việc tìm hiểu, nghiên cứu về trẻ em, gợi mở nhiều vấn đề lý thú cần đào sâu. Do đó
bản thân người viết muốn tiếp cận, tìm hiểu tình cảm của trẻ em qua tranh vẽ để có thể hiểu
thêm về cảm xúc, tình cảm của trẻ trước cuộc sống, mong muốn và tương lai.
Gia đình là tổ ấm an toàn nhất của đa phần mọi người, là nơi nuôi dưỡng, ấp ủ để mỗi
người trưởng thành, là cội nguồn phát sinh tình thương. Đã là con người ai chẳng mong
muốn được mẹ cha thương yêu, chăm sóc. Tuy nhiên, không phải ai cũng may mắn có được
điều đó. Nhiều trẻ nhỏ không biết đến hơi ấm của mẹ ngay từ khi lọt lòng, hình ảnh người
cha, người mẹ trở nên xa lạ, cao vời. Sự thèm khát một mái ấm, sự chăm sóc, bảo bọc của
mẹ cha nhưng không được. Đối với các em tất cả chỉ là mơ, những giấc mơ rất đỗi bình
thường, dung dị, được sống trong vòng tay của mẹ cha như bao nhiêu đứa trẻ khác nhưng lại
vô cùng xa vời. Các em luôn thường trực sự thèm khát có mẹ, có cha, các em mất đi chỗ
dựa an toàn nhất của cuộc đời, mất đi sự yêu thương vô điều kiện. Liệu sự chở che, yêu
thương của những người khác thay thế bố mẹ có thể bù đắp được những gì các em đã mất.
Trong quá trình làm việc với nhiều đối tượng trẻ em, người viết cảm nhận được sự thiếu
vắng, lạnh lẽo trong tâm hồn các em. Vì vậy mong muốn thực hiện đề tài này để phần nào
có thêm công cụ giúp các em bộc lộ mình, cũng như những người đang chăm sóc, làm việc
với trẻ hiểu các em hơn.
Xúc cảm, tình cảm là những hiện tượng tâm lý phản ánh sự vật hiện tượng xung quanh
dưới dạng những rung động, trải nghiệm trong bản thân mỗi chủ thể. Con người luôn có nhu
cầu được yêu thương, chăm sóc, bao bọc và bộc lộ xúc cảm, tình cảm của mình. Đối với trẻ
nhỏ nhu cầu này càng được thể hiện rõ nét. Với trẻ mồ côi, cùng với sự thiếu hụt tình cảm
của mình, những xúc cảm, tình cảm âm tính sẽ nảy sinh. Làm thế nào để chúng dễ dàng bộc
cha) qua tranh vẽ.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề lý luận có liên quan đến đề tài: xúc cảm – tình cảm của trẻ
mồ côi nói chung và trẻ mồ côi trong độ tuổi 7 -11 tuổi nói riêng.
Tìm hiểu sự bộc lộ xúc cảm – tình cảm của trẻ mồ côi 7 – 11 tuổi qua tranh vẽ.
6. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài giới hạn trong phạm vi nghiên cứu sau:
Nghiên cứu trên nhóm 12 trẻ mồ côi từ 7 – 11 tuổi tại làng trẻ em SOS Gò Vấp.
Nghiên cứu sự bộc lộ xúc cảm – tình cảm của trẻ mồ côi 7 – 11 tuổi tại làng trẻ em
SOS Gò Vấp qua tranh vẽ.
10
7. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
7.1. Cách tiếp cận
Tiếp cận cá nhân trẻ: mỗi trẻ là một cá thể riêng biệt, có cuộc sống, thế giới nội tâm,
hoàn cảnh sống độc nhất. Cần tiếp cận từng trẻ để có cơ hội thấu hiểu các em.
Tiếp cận tâm lý trị liệu dựa trên quan điểm hệ thống. Tìm hiểu các đặc điểm, hoàn
cảnh sống của trẻ, các mối quan hệ có ý nghĩa của trẻ đối với gia đình gốc cũng như những
người quan trọng đối với trẻ trong làng SOS.
Tiếp cận giáo dục: Hiểu được cảm xúc và cách bộc lộ của trẻ, từ đó có những phương
thức giáo dục thích hợp. Có sự lưu tâm đối với những em gặp khó khăn trong việc bộc lộ
xúc cảm – tình cảm.
Tiếp cận phát triển: Quan sát biểu hiện xúc cảm tích cực cũng như tiêu cực của trẻ theo
độ tuổi.
7.2. Các phương pháp nghiên cứu
7.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận:
- Mục đích: Nhằm xây dựng đề cương nghiên cứu và cơ sở lý luận của đề tài; lựa chọn
phương pháp làm cơ sở cho việc tìm hiểu, đánh giá những biểu hiển xúc cảm – tình cảm của
qua tranh vẽ.
- Cách thức thực hiện: mô tả hoàn cảnh khách quan và chủ quan của trẻ trong quá trình
tạo ra sản phẩm. Từ đó có những phân tích, kết luận.
12
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Ở nước ngoài
Các hình vẽ trẻ em qua nhiều thế kỷ bị xem thường, mãi đến những năm cuối thế kỷ 19
mới được chú ý một cách nghiêm túc.
Lần đầu tiên, các hình vẽ của trẻ nhỏ được in ra vào năm 1887. Tác giả là ông Corado
Ricci là một nhà phê bình hội họa nổi tiếng đã có một phát hiện đáng kể về các ý nghĩa bao
hàm trong hình vẽ người. Cuốn sách này in ra đã mở đầu cho nhiều tư liệu nghiên cứu khác
lần lượt ra đời trong và ngoài nước. Trong đó chủ yếu là các tác giả Sully (1895), Partridge
(1902), Kerschensteiner (1905), Levinstein (1905), Katzaroff (1909-1910) và Luquet (1913)
Năm 1926, có một bước tiến quan trọng: F.Goodenough cho ra đời một hệ thống đánh
giá trí năng qua hình vẽ người. Hệ thống này đã được Harris (1963; Harris và Roberts,
1972) mở rộng và chuẩn hóa đầy đủ. Hình vẽ người đã thành một đề mục trong nhiều test
IQ, chủ yếu trong test Stanford – Binet nhưng tiến trình Goodenough – Harris cũng được
coi là một test riêng biệt.
Các nhà lâm sàng đã tin rằng các hình vẽ, nét vẽ của một người còn thể hiện những gì
khác, ngoài tư duy đã có công nghiên cứu lâu dài một cách sinh động các hình vẽ người
nhằm tìm ra những chứng cứ khẳng định hoặc gợi ý xây dựng một cách tiếp cận chẩn đoán
về những vấn đề thuộc cảm xúc. Các nhà lâm sàng đã kiên trì đi theo con đường đó. [tr59,6]
Cách tiếp cận bằng phóng chiếu của Rorschach và nhiều phương pháp phóng chiếu khác
(test Szondi, test vẽ cây của Koch, test nhà – cây – người của Buck) cũng như cách nhìn
nhận hình vẽ người là bằng chứng thể hiện nét cảm xúc, đã làm cho các phương pháp phóng
chiếu lại được chú ý nhiều. Phương pháp khảo sát nhân cách của Machover (1949) được các
1989, đã có những công trình biên dịch khá công phu về lĩnh vực này. Nhưng khuynh
hướng hiện nay đối với các test vẽ hình người, thường chú trọng đến việc phát hiện những
vấn đề của nội tâm đứa trẻ hơn là tìm cách đánh giá khả năng trí tuệ. Viện Nhi Hà Nội cũng
tiến hành nghiên cứu việc trẻ vẽ hình người theo Goodenough tại một trường phổ thông cơ
sở ở Hà Nội (1992). Các tác giả nhận xét có sự tương ứng giữa điểm vẽ hình người với điểm
học tập & hình vẽ phản ánh trí khôn theo tuổi (rõ rệt nhất từ 7 đến 10 tuổi). Trẻ gái và trẻ
trai có những đặc điểm khác nhau.
Năm 2002 có một sinh viên Pháp qua Việt Nam nghiên cứu về hình vẽ người ở trẻ em
(sử dụng thang chấm điểm Goodenough). Báo cáo trong bài giảng của hai chuyên gia Pháp
tại bệnh viện Nhi Đồng 1 – Tp Hồ Chí Minh.
Tuy chưa có nhiều công trình nghiên cứu về tranh vẽ của trẻ nhưng một số tác giả cũng
đã sử dụng tranh vẽ trong việc tìm hiểu, nghiên cứu về trẻ em, gợi mở nhiều vấn đề lý thú
cần đào sâu. Như Trần Thu Hương với bài viết tranh vẽ gia đình của trẻ - nhìn từ góc độ của
14
khoa học tâm lý (tạp chí tâm lý học số 4 – 2010) và đánh giá rỗi nhiễu tâm lý ở trẻ bằng
tranh vẽ: nghiên cứu trường hợp trẻ trai 12 tuổi (Hội thảo khoa học quốc tế tâm lí học đường
lần thứ ba tại ĐHSP TPHCM 2012). Sách tìm hiểu tâm lý trẻ em qua tranh vẽ của Trần Thị
Minh Đức đã phân tích tranh của học sinh một số trường giáo dưỡng. Gần đây, trong hội
thảo khoa học của hội Khoa học tâm lý – Giáo dục thành phố Hồ Chí Minh (25/05/2013),
Nguyễn Minh Anh (Cao đẳng Sư phạm Trung ương TP HCM), có bài tham luận “ứng dụng
tranh vẽ trong chẩn đoán và tư vấn tâm lý”. Bài viết đã trình bày khái quát về giá trị của
tranh vẽ, một trong những phương pháp phóng chiếu quan trọng và hữu dụng nhất đối với
việc chẩn đoán và trị liệu tâm lý. Tác giả đã sử dụng test “tranh vẽ gia đình thú” như một
công cụ phát hiện xung đột gia đình, từ đó làm rõ tính ứng dụng cao của phương pháp này
trong điều kiện Việt Nam.
Các công trình nghiên cứu về tranh vẽ của trẻ em ở Việt Nam được thực hiện trên nhiều
đối tượng trẻ khác nhau như thiếu niên ở trường giáo dưỡng, các trẻ có các vấn đề rỗi
nhận con nuôi và điều đó đã được Điều 21 của Công ước đã điều chỉnh bằng cách quy định
thẩm quyền cho phép nhận con nuôi, điều kiện mà người nhận con nuôi phải tuân thủ…
Pháp luật Việt Nam
Cơ sở pháp lý: Trẻ em mồ côi không nơi nương tựa được quy định tại điều 51 Luật bảo
vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, điều 65 Hiến pháp 1992.
Nội Dung:Tại điều 51 Luật bảo vệ, chăm sóc giáo dục trẻ em nói về việc giáo dục, chăm
sóc nhóm trẻ em mồ côi, không nơi nương tựa với nội dung như sau:
Thứ nhất, trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi được Uỷ ban nhân dân địa
phương giúp đỡ để có gia đình thay thế hoặc tổ chức chăm sóc, nuôi dưỡng tại các cơ sở trợ
giúp trẻ em công lập, ngoài công lập.
Thứ hai, nhà nước khuyến khích gia đình, cá nhân nhận nuôi con nuôi; cơ quan, tổ chức,
cá nhân nhận đỡ đầu, nhận chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ
em bị bỏ rơi.
Thứ ba, nhà nước có chính sách trợ giúp gia đình, cá nhân hoặc cơ sở trợ giúp trẻ em
ngoài công lập nhận chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ
rơi.
Trẻ mồ côi hiểu theo nghĩa rộng đó là: Những trẻ không có cha mẹ hoặc có cha mẹ
nhưng không được cha mẹ chăm sóc quan tâm (trẻ không bao giờ biết, gặp cha mẹ mình),
thậm chí không có cả cha lẫn mẹ vì bất cứ lý do nào.
1.2.2. Khái niệm về các loại xúc cảm – tình cảm:
Mỗi xúc cảm sinh ra một loạt phản ứng sinh lý, do tác động lên thần kinh giao cảm và
phó giao cảm (cũng gọi là á giao cảm), với hậu quả là: tim đập nhanh hơn, huyết áp, nhịp
thở, kích thước con ngươi, kích thước các mạch máu, trương lực cơ, nhiệt độ đều biến động.
Tất cả những phản ứng sinh lý này đều có thể ghi ký một cách chính xác, thể hiện thành
những đường biểu đồ.
16
Một xúc cảm thường lặp đi lặp lại, trong những tình huống và với những con người,
17
Một vài loại cảm xúc cơ bản trên đây chắc không đáp ứng hết sự bộc lộ đa dạng trong
cuộc sống. Người ta chưa thể trả lời rõ ràng tất cả các loại cảm xúc và cuộc tranh luận vẫn
còn để ngỏ.
1.2.3. Đặc điểm xúc cảm – tình cảm của trẻ trong độ tuổi 7 – 11 tuổi (độ tuổi tiểu
học)
Xúc cảm là những rung động của con người đối với từng sự vật, hiện tượng riêng lẻ có
liên quan đến nhu cầu, động cơ của người đó trong những tình huống nhất định.
Khác với xúc cảm, tình cảm cũng là những rung động nhưng nó biểu thị thái độ của con
người đối với một loạt sự vật, hiện tượng có liên quan đến nhu cầu, động cơ của chủ thể chứ
không phải là những rung động đối với từng sự vật, hiện tượng riêng lẻ.
Trước 7 tuổi, trẻ em thường nhận xét và mô tả người khác bằng các từ cụ thể, gắn với các
đặc điểm hoặc hành động của họ ngay trước đó. Kiểu như “chú tôi cao, chú ấy ăn ớt giỏi...”.
Trẻ ít chú ý đến việc mô tả tính cách. Các em kết bạn chủ yếu vì bạn có đồ chơi, cùng thích
chơi một trò chơi hoặc có những đặc điểm bề ngoài được đánh giá cao như xinh đẹp...
Trong độ tuổi tiểu học trẻ càng ngày càng ít dựa vào các đặc điểm cụ thể để mô tả bạn bè và
người khác mà đã biết dựa vào các cấu trúc tâm lý tương đối ổn định hay những nét tính
cách của họ. [tr62, 10]
Một biểu hiện khá rõ sự phát triển nhận thức xã hội của trẻ em ở độ tuổi này là kỹ năng
nhập vai người khác để phân tích nhận thức, thái độ và cách ứng xử của người khác.
Trẻ mẫu giáo thường có xu hướng đồng nhất nhận thức, thái độ và hành vi của người
khác với của mình (trẻ cho rằng người khác cũng nghĩ như mình). Bước sang tuổi đầu tiểu
học, trẻ đã nhận ra người khác có thể có suy nghĩ, thái độ và hành động khác với mình, do
nhận được các thông tin khác nhau. Khi lên 8 – 10 tuổi, trẻ nhận ra người khác có thể có
nhận thức, thái độ và ứng xử khác với mình, mặc dù cùng từ một thông tin. Do đó đã có thể
dự đoán được hành vi ứng xử của người khác trong hoàn cảnh cụ thể. Trẻ 10 – 12 tuổi có
thể đồng thời nhận biết suy nghĩ và ứng xử của mình và của người khác. [tr37,9]
Khi trẻ có kỹ năng nhập vai thì sự hiểu biết về ý nghĩa và tính chất quan hệ giữa người
những nét biểu hiện thực tế của trẻ em mồ côi để phác họa một số nét tâm lý cơ bản của trẻ
em mồ côi.
Mặc dù những nhu cầu vật chất căn bản có lẽ được cung cấp, nhưng những đứa trẻ trong
trại mồ côi hầu như hoàn toàn đã bị tách biệt khỏi thế giới bên ngoài và có thể không tiếp
xúc với các gia đình bình thường và các tương quan xã hội. Điều này có lẽ gây hại cho nhân
cách của chúng vào giai đoạn trưởng thành và những kĩ năng xã hội. Những kết quả này chỉ
ra mối liên hệ rõ rệt giữa sựkém tự tin và trầm cảm đã là hậu quả nào đó của hoàn cảnh mồ
côi và đã đóng một vai trò quan trọng trong việc giảm chất lượng cuộc sống của trẻ. Lòng tự
tin và trầm cảm có lẽ được xem xét như những biến số trung gian trong mối liên hệ nguyên
nhân giữa trại mồ côi, chất lượng cuộc sống và sự hiện diện của một đứa trẻ mồ côi và trầm
cảm đã là những nguyên nhân tiêu cực.
19
Mặc cho những năng lực, những đứa trẻ bị bỏ rơi tiếp tục trải nghiệm những vấn đề cảm
xúc và ít đứa được hỗ trợ về lĩnh vực này. Có một vài nguyên nhân. Đầu tiên là thiếu thông
tin đầy đủ về bản chất và tầm quan trọng của vấn đề. Thứ hai, có một quan niệm rằng những
đứa trẻ không có những vấn đề cảm xúc, vì vậy có người lớn thường thiếu sự chú ý quan
tâm. Thứ ba, vì những vấn đề tâm lý không phải lúc nào cũng rõ rệt, nhiều người lớn chịu
trách nhiệm với những đứa trẻ mồ côi không có khả năng nhận diện chúng. Tuy nhiên, dù
vấn đề được nhận diện, cũng không dễ có sự hiểu biết để kiểm soát nó cho phù hợp. Trong
nhiều trường hợp trẻ bị trừng phạt vì tỏ ra những cảm xúc tiêu cực, bằng cách đó chỉ thêm
cho chúng sự đau đớn. Ở trường thiếu hẳn sự huấn luyện phù hợp cho những giáo viên trong
việc nhận diện những vấn đề thuộc tâm lý và xã hội, vì thế cá nhân hay nhóm cần chú ý đến
điều này.
Điều dễ nhận thấy trong tâm lý trẻ mồ côi là cảm giác cô đơn, trống trải. Trẻ tự ti, dễ tủi
thân, sống thầm lặng, mặc cảm với số phận….Trẻ lo lắng sợ hãi, xa lánh không
muốn quan hệ với bạn bè… Một số trẻ trở nên liều lĩnh, gan lỳ, mánh khóe cốt sao có tiền
kiếm bữa cơm để tồn tại qua ngày. Một số trẻ lại có khả năng tự lập từ rất sớm. Các em hoài
tiên nhất của con người. Quá trình xã hội hóa là một quá trình liên tục, nó bắt đầu ngay từ
khi còn là hài nhi trong bụng mẹ. Những năm đầu, cha mẹ là người xây những viên gạch
nền tảng của quá trình này. Ví dụ như trẻ học cách thể hiện tình cảm của mình đúng lúc,
học cách giao tiếp trong xã hội, học các lễ nghi phong tục, tập quán. Nếu không cócha mẹ,
nghĩa là trẻ mất đi cơ hội học hỏi những vấn đề này và nó sẽ ảnh hưởng rất nhiều tới việc
tạo lập các mối quan hệ xã hội sau này của trẻ. Chính vì vậy đòi hỏi những người thân như
họ hàng, cộng đồng và xã hội hãy quan tâm, dìu dắt các em ngay khi mà các em bị chia lìa
khỏi cha mẹ.
Trẻ em cũng như tất cả mọi người chúng ta luôn cần tới sự nâng đỡ, an ủi mỗi khi gặp
khó khăn và đối với trẻ mồ côi thì điều đó càng quan trọng. Do thiếu vắng cha mẹ nên đời
sống tình cảm của các em thường bị xáo trộn: những mất mát mà các em phải chịu, những
khó khăn đời thường mà các em phải trải nghiệm nếu không có một ai nâng đỡ, điều này dễ
dẫn đến sự nghi hoặc, sự bất cần của các em vào cuộc sống. Điều này cũng giải thích cho
hiện tượng phạm pháp ở trẻ không có cha mẹ. Nếu người chăm sóc cho trẻ thấy được sự
quan tâm, tin yêu của mình đối với trẻ, trẻ sẽ có một tình cảm rất sâu nặng, biết ơn với
người
đó,
lấy
đó
làm
niềm
tin,
nghị
hạnh phúc, ước mơ, và đôi khi cả nỗi sợ...qua tranh vẽ. Vì thế, các bức vẽ của trẻ cũng
chính là một cách thức giao tiếp với mọi người để trẻ giãi bày về thế giới xung quanh và
những mối quan hệ mà trẻ cảm nhận được, đồng thời cung cấp cho người lớn khá nhiều
thông tin về tính cách của các em.
Vẽ tranh có ý nghĩa lớn lao đối với trẻ và cả với người chăm sóc trẻ. Khi vẽ, trẻ giải tỏa
được những cảm xúc không thể nói thành lời, gửi gắm những thông điệp mạnh mẽ và tự do
bộc lộ bản thân thông qua cách trẻ mô phỏng lại toàn bộ những cảm nhận đối với thế giới
xung quanh. Do đó mà tranh vẽ còn là một cách thức “giao tiếp” hết sức đặc biệt của trẻ. Từ
việc tìm hiểu các bức vẽ, người lớn sẽ gần gũi với trẻ hơn, thấu hiểu tâm tư, tình cảm của trẻ
để kịp thời nâng đỡ, bảo vệ và giáo dục trẻ phát triển tự nhiên, lành mạnh hơn.
Tranh vẽ của trẻ em tiến triển qua các giai đoạn:
Giai đoạn vẽ nguệch ngoạc và thực tại ngẫu nhiên (1 – 3 tuổi)
Trong giai đoạn này trẻ vẽ bất cứ những thứ gì trẻ thích, dấu vết mà trẻ để lại đa phần là
chưa định hình. Khi vẽ chúng không ý định là vẽ cái gì, vẽ hình gì. Lúc đầu trẻ vẽ nguệch
ngoạc sau tới vẽ hình tròn và vẽ thẳng. Khi nào trẻ vẽ được vòng tròn khép kín (không còn
kẽ hở) tức là trẻ đã kiểm soát được cảm xúc của mình, còn khi trẻ vẽ không bị vượt ra ngoài
không gian của khổ giấy khi đó trẻ biết được giới hạn của tờ giấy và giới hạn của bản thân,
cái tôi của trẻ được hình thành (mức phát triển này ứng với trẻ 3 tuổi).
Như vậy khi trẻ lên 3, trên hình vẽ của trẻ vòng tròn đã được khép kín (hai đầu được nối
lại với nhau). Hình vẽ người của trẻ trong giai đoạn này còn rất đơn giản, chỉ có một vòng
tròn và hai con mắt, chân tay nằm giữa hai bên vòng tròn, hoặc ở dưới vòng tròn không có
thân hình. Các nhà tâm lý học gọi đó là giai đoạn hình “người nòng nọc” (vì giống con nòng
nọc)
Giai đoạn thực tại và ý định tượng hình (3 – 5 tuổi).
Ở giai đoạn này trẻ không còn vẽ nguệch ngoạc, trẻ thường vẽ vì nhu cầu của lứa tuổi
chứ chưa có ý định, vẽ xong trẻ mới xác định hình của trẻ vẽ là hình gì. Trong hình vẽ của
22
miệng. Trẻ 6 tuổi ý thức được trẻ muốn vẽ cái gì
Khi 7 tuổi trẻ phân biệt được hình mẫu phải sao chép. ở lứa tuổi trước trẻ vẽ theo những
gì chúng nghĩ nhiều hơn là vẽ theo hình mẫu, bởi vì trẻ tự bày ra trong trí óc dễ hơn là sao
23
chép. Hình vẽ trong tuổi này cân đối hơn, tỷ lệ kích thước các bộ phận đúng với thực tế hơn.
Hình đàn ông, đàn bà được trẻ thể hiện rất khác nhau qua những trang phục như quần áo...
Khi 9 tuổi, trẻ lo lắng thích ứng với thực tại, trẻ biết cái gì ở phía trước, cái gì ở phía sau.
Hình vẽ cố định trên mặt đất (mặt trời xuất hiện). Tóm lại hình vẽ của trẻ trong giai đoạn
này thực tế hơn, hình người bắt đầu có nhiều cử chỉ kèm theo.
Giai đoạn thị giác (12 tuổi trở đi).
Bắt đầu từ tuổi này hình vẽ ít có ý nghĩa với trẻ em (vì trẻ em bắt đầu kiểm soát được
hình vẽ mà trẻ vẽ)
Theo phân tâm học, có ba lý do khó phân tích được hình vẽ của trẻ sau độ tuổi này
Trẻ vẽ theo hình ảnh mà trẻ biết (bắt chước)
Trẻ không còn quan tâm tới cái mà trẻ thể hiện (trẻ coi đó như trò của con nít).
Hình vẽ không bộc lộ được những gì trẻ thấy, hình vẽ thụt lùi (vì khi này trẻ đã dùng
nhiều phương pháp khác để giao tiếp)
Phóng chiếu (Projection)
Vẽ tranh là một trong những kỹ thuật phóng chiếu đặc thù cho trẻ em. Phóng chiếu là sự
phóng lên, gán cho người khác những cảm xúc ham muốn mà không thể chấp nhận là chính
của bản thân; đây là một cơ chế tự vệ nhằm giữ thăng bằng cho bản thân. Khác với tự đồng
nhất (identification) trong đó bản thân nhằm hòa mình, làm hệt như đối tượng. Phóng chiếu
và đồng nhất là hai hiện tượng trái ngược nhau, và cũng là hai cơ chế bình thường trong quá
trình hình thành nhân cách của trẻ em, có nhiều yếu tố phóng chiếu, cũng như trong hình
tượng của trẻ em trong tâm tư của bố mẹ; ở hai bên đều diễn ra hiện tượng phóng chiếu vào
đối tượng những tình cảm chính là của bản thân. Trẻ sẽ phóng chiếu khi được đặt vào một
tình huống mà có những đáp ứng theo cảm xúc của mình, và ý nghĩa của tình huống ấy đối