BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
PHẠM NGỌC HÙNG
CẢM HỨNG NHÂN ĐẠO TRONG THƠ TRỮ TÌNH
CỦA XUÂN DIỆU
LUẬN ÁN THẠC SĨ VĂN HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh 2000
MỤC LỤC
MỤC LỤC .................................................................................................................3
DẪN NHẬP ...............................................................................................................4
1/ MỤC ĐÍCH Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI: ...................................................................... 4
2/ LỊCH SỬ ĐỀ TÀI. ..................................................................................................... 4
3/PHẠM VI ĐỀ TÀI: ................................................................................................... 10
4/ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. .......................................................................... 10
5/ ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN................................................................................... 11
6/ CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN DẪN NHẬP. ............................................................. 11
CHƯƠNG 1: Những đặc điểm chính của cảm hứng nhân đạo trong thơ trữ
tình của Xuân Diệu. ...............................................................................................13
1.1.Cảm hứng nhân đạo của Xuân Diệu trước yêu cầu giải phóng cá nhân. .......... 13
1.2.Cảm hứng nhân đạo của Xuân Diệu trước nhu cầu hưởng thụ và phát triển
những khát vọng chính đáng của con người. ............................................................. 27
CHƯƠNG 2: Sự vận động của cảm hứng nhân đạo trong thơ trữ tình của
phong phú và đa dạng với nhiều thể loại khác nhau : Thơ, văn xuôi, phê bình, dịch thuật
v.v...Nhưng thơ ca chiếm một vị trí quan ương, đặc biệt là thơ trữ tình. Các tác phẩm thơ
trữ tình của Xuân Diệu được nhiều thế hệ bạn đọc yêu thích và trân trọng, nhiều bài thơ
được đưa vào trong nhà trường cấp 2 và cấp 3.
Từ trước đến nay việc nghiên cứu và tìm hiểu về thơ Xuân Diệu đã thu hút được sự
quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu.
• Trước năm 1945.
Ngay từ khi mới xuất hiện ưên thi đàn, Xuân Diệu đã lọt vào "mắt xanh" của những
người có tên tuổi và uy tín trong giới văn sĩ. Dù cách nhìn nhận và đánh giá của tác giả về
Xuân Diệu có những điểm này, điểm khác không giống nhau, nhưng nhìn chung các bài
viết đều thống nhất đánh giá cao đóng góp và vị trí hàng đầu của Xuân Diệu trong phong
trào thơ mới.
Trên báo Ngày nay số 46, Thế Lữ - người đi đầu tiên của phong trào thơ mới đã có
nhận xét chuẩn xác : "Thơ của ông không phải là "văn chương" nữa, đó là lời nói, là tiếng
reo vui hay năn nỉ, là sự chân thành cảm xúc, hoặc là những tình ý rạo rực biến lẫn trong
những thanh âm... Xuân Diệu, nhà thi sĩ của tuổi xuân, của lòng yêu và của ánh sáng"
(52). Hoài Thanh trong Thi Nhân Việt Nam đã xếp Xuân Diệu vào vị trí chủ chốt và
khẳng định : "Cái náo nức xôn xao của Xuân Diệu cũng là cái náo nức xôn xao của thanh
niên Việt Nam". (39,116)
"Bởi Xuân Diệu đã gởi trong thơ của người lẫn với một chút hương xưa của đất
nước, bao nhiêu nỗi niềm của thanh niên lúc bấy giờ". (39,116)
Vũ Ngọc Phan, với lời đánh giá rất trân trọng trong cuốn Nhà văn hiện đại: " Xuân
Diệu là người đem đến cho thơ ca Việt Nam nhiều cái mới nhất", "Bây giờ người ta hiểu
Xuân Diệu. Người ta thấy Xuân Diệu đằm thắm, nồng nàn nhất trong các nhà thơ mới. cả
ý lẫn lời đều thiết tha, làm nhiều người thanh niên ngây ngất" (34,715)
Dương Quảng Hàm, cũng đánh giá rất cao Xuân Diệu, theo ông, thơ Xuân Diệu là
thơ của "một tâm hồn đầy thơ mộng", "khao khát yêu thương", chứa chan tình cảm lãng
mạn". (8,441)
xưa mà là giọt lệ bắt nguồn từ bao la vĩ đại, từ nghĩa lớn của nhân quần sông núi", "chan
chứa tình người". (43,218)
Nguyễn Đăng Mạnh trong phần cuối của bài: Xuân Diệu khát khao giao cảm với
đời đã viết : "không có sự giao cảm giữa những con người thì cuộc đời chỉ là sa mạc, chỉ
là hư vô. Nào ở đâu, ở đâu, có ai còn chưa biết sự có mặt của Xuân Diệu trên đời này với
trái tim tha thiết yêu đương? Câu hỏi đó không ngừng thôi thúc nhà thơ". (43,130)
Lý Hoài Thu ương bài : "Nỗi buồn và sự cô đơn trong thơ Xuân Diệu nhận xét :
Xuân Diệu bước vào thế giới tình yêu là đã mang theo trái tim nhân hậu : rất mực chân
thành vị tha. Đây là một phẩm chất đặc biệt cao qui của vị "Hoàng đế tình yêu" này. Dầu
tình yêu đã cướp đi của ông rất nhiều niềm vui sôi nổi và trả lại cho ông sự đau khổ triền
miên nhưng không vì thế mà ông coi khinh căm ghét". (43,302)
Lưu Khánh Thơ trong bài : "Nghệ thuật cấu tứ trong thơ tình Xuân Diệu, cũng
nhận xét: “Trong tất cả các nhà thơ hiện đại, có lẽ Xuân Diệu là người đưa lại cho ta
nhiều hơn cả một nhận thức về tình yêu không phải trong cô đơn và khoảng cách mà còn
là trong bù đắp và mất mát, trong hạnh phúc và khổ đau, bởi lẽ trước hết, ông là thi sĩ số
một của tình yêu người tràn đầy niềm khao khát giao cảm với đời, cả tinh thần và vật
chất”.(43,309)
Nguyễn Xuân Sanh khi nghĩ về Xuân Diệu cũng nhận xét : "Tập thơ đầu của Xuân
Diệu ca ngợi tình yêu và cái bơ vơ cô quạnh thoáng buồn xao xuyến của tình người, ca
ngợi các không gian và thời gian man mác của mùa thu" và khẳng định Xuân Diệu là nhà
thơ bảo vệ cho đến cuối đời những giá trị " nhân bản nhân văn, và trau dồi phẩm chất cao
đẹp của cái đẹp con người, nhân cách cũng như trách nhiệm của nhà thơ, tác giả".
(43,403)
Phan Cự Đệ và Hà Minh Đức trong phần viết về Xuân Diệu của cuốn Nhà văn Việt
Nam 1945-1975 đã nhận xét " Cái tôi có phần riêng tư, cá nhân chủ nghĩa mất đi và dần
thay thế bằng một cái tôi trữ tình chân thành, sôi nổi, đa dạng. Luôn bám sát những sự
kiện chính trị, chan hoa với cuộc sống lao động và chiến đấu của quần chúng... Anh (
Sáng tác của Xuân Diệu phong phú về nội dung và đa dạng về thể loại . Cái nhìn
bao trùm khắp các thể loại sẽ giúp ta nhận rõ được chân dung Xuân Diệu. Với ngót năm
mươi năm hoạt động văn chương, Xuân Diệu đã để lại gần năm mươi tác phẩm thơ,
truyện, trường ca, phê bình, dịch thuật... Song phần thơ của Xuân Diệu luôn được xem là
bộ phận quan trọng nhất để tìm hiểu đánh giá những gì thuộc về bản sắc , phong cách cốt
lõi của Xuân Diệu. Hơn thế nưa, nhắc đến Xuân Diệu là người ta nghĩ ngay đến ông chúa
thơ tình của Việt Nam . Phần thơ trong giới hạn của đề tài này, chúng tôi sẽ khảo sát qua
thơ trữ tình. Tuy nhiên phần truyện ngắn của Xuân Diệu như:"Tỏa Nhị Kiều", “Phấn
thông vàng”, với những tương quan về nội dung, về cảm hứng với đề tài này cũng được
nhắc đến với ý nghía tham khảo và so sánh.
4/ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
Khi đặt vấn đề nghiên cứu cảm hứng nhân đạo trong thơ trữ tình của Xuân Diệu,
chúng tôi nhận thức rằng: Xuân Diệu là một nhà thơ lớn với số lượng tác phẩm nhiều và
phong phú, đa dạng về nhiều phương diện. Hơn nưã, quá trình sáng tác của Xuân Diệu
kéo dài gần nửa thế kỷ với những biến chuyển thay đổi của hoàn cảnh xã hội. Việc tìm
hiểu cảm hứng nhân đạo xuyên suốt cả đời thơ của ông, là khó khăn phức tạp.
Luận án sử dụng các phương pháp :
-Phương pháp hệ thống: Hệ thống trong việc sử dụng tư liệu dẫn chứng thơ trữ tình
của Xuân Diệu . Phương pháp này khai triển ở cả chương I và chương II của luận án.
-Phương pháp biến sinh lịch sử: Triển khai chủ yếu ở chương I.
- Phương pháp so sánh: Luận án so sánh giữa tác giả Xuân Diệu với các tác giả khác
có thể cùng thời, khác thời (đồng đại, lịch đại), cả trong nước và ngoài nước.
Phương pháp này triển khai ở cả chương I và chương II. Đặc biệt, ở chương II luận
án trong khi phân tích tổng hợp đã kép hợp với so sánh, đối chiếu ngay trong nội dung
thơ trữ tình của Xuân Diệu để thấy sự chuyển đổi, mở rộng, tập trung của cảm hứng nhân
đạo.
Ngoài ra luận án còn sử dụng các thủ pháp khác như vừa lựa chọn vừa kết hợp phân
1/ Sự mở rộng và tập trung của cảm hứng nhân đạo.
2/ Sự vận động chuyển hóa của cảm hứng nhân đạo.
KẾT LUẬN.
THƯ MỤC THAM KHẢO.
CHƯƠNG 1: Những đặc điểm chính của cảm hứng nhân đạo trong
thơ trữ tình của Xuân Diệu.
1.1.Cảm hứng nhân đạo của Xuân Diệu trước yêu cầu giải phóng cá nhân.
Văn học Việt Nam thời trung đại do ảnh hưởng của tinh thần phi ngã của Nho giáo
và Phật giáo nên nhìn chung cái "tôi" chưa có mặt. Riêng ở thời Nguyễn Du, Hồ Xuân
Hương, Nguyễn Công Trứ, ít nhiều cái "tôi" đã xuất hiện nhưng sau đó lại chìm đi vì
những lý do chủ quan và khách quan. Đến nửa đầu thế kỷ XX thì có sự thay đổi. Mặc dù
cả dân tộc còn bị trói buộc trong vòng nô lệ nhưng xã hội đã xuất hiện quan hệ sản xuất
tư bản chủ nghĩa, lại thêm có ảnh hưởng tư tưởng văn hóa tư sản từ bên ngoài vào thì cái
"tôi" tất yếu có điều kiện trỗi dậy. Nó vừa là đối tượng phản ánh tự giác của văn học vừa
là động lực quan trọng của tiến bộ lịch sử. Cái "tôi" cá nhân với ý nghĩa chân chính phải
là động lực sáng tạo lớn lao không chỉ trong nghệ thuật mà còn trong cuộc sống con
người nói chung.
Ra đời trong hoàn cảnh xã hội như vậy, phong trào thơ lãng mạn 1932 - 1945 đã
làm được những việc mà trước đó văn học nước nhà chưa quan tâm :"Các nhà thơ mới đã
có những đóng góp to lớn cho văn học dân tộc trong việc phát hiện ra cái tôi và làm cho
nó bộc lộ ra hết sự phong phú, phức tạp, hấp dẫn của một cái tôi bản thể, cái tôi con
người, cái tôi với tư cách là một đối tượng nhận thức và phản ánh của thơ ca như một giai
đoạn phát triển của ý thức văn học, một khâu trong suốt cả tiến trình mà chỉ trong những
điều kiện xã hội, lịch sử, văn hóa cụ thể mới xuất hiện như một tai yếu lịch sử". (24,162)
Là một nhà thơ của thời đại, là một thành viên xuất sắc của phong trào Thơ mới,
Xuân Diệu chịu ảnh hưởng sâu sắc của cách nhìn ấy. Đó là cái nhìn đề cao con người cá
nhân, giải phóng cá nhân. Đây cũng là một đặc điểm chính trong cảm hứng nhân đạo của
thương vẫn còn mãi với hồn ông:
Tháng năm qua chôn lấp mộ hoang tàn
Hoà với đất mình lôi thôi đã chết
Nhưng hương hồn còn luyến ở không gian
Tình mai sau
Chính vì Xuân Diệu tâm huyết với đời, vì có tấm lòng yêu thương bao la mà các thế
hệ sau này càng hiểu vì sao nhà thơ sớm đi theo cách mạng, hòa mình vào cuộc sống
chung của dân tộc, gắn bó máu thịt với nhân dân.
Đối với Xuân Diệu, con người đang sống đang hiện hữu là một tiểu vũ trụ tồn tại
trong đại vũ trụ của thiên nhiên, chứ không lẫn vào thiên nhiên, lẫn vào cỏ cây sông núi
như quan niệm trước đây. Con người trong thơ Xuân Diệu ý thức đầy đủ về sự tồn tại của
mình:
Ta đứng đây vĩnh viễn giữa mùa đông
Tuyết trên đầu vĩnh viễn choá từng không
Trán vĩnh viễn nặng mai sầu trái đất.
Ta là một, là riêng, là thứ nhất,
Không có chi bè bạn nổi cùng ta
Bởi ghen trời, ta ngạo nghễ xông pha.
Hy Mã Lạp Sơn
Hoặc:
Chân nổi gió cứ mặt trời thẳng đến,
Quên lắng nghe bờ bụi tỉ tê nhau.
Và
Ta mang hồn trèo lên những đỉnh cao
Để hóng gió của ngàn phương gửi tới
Mênh mông
Từ quan niệm thẩm mỹ, từ cá tính sáng tạo đó, con người có mặt trong thơ Xuân
Diệu là những con người có ý thức rõ rệt về mình, ý thức đến độ nghênh ngàng ngạo
nghễ:
Lòng rộng quá chẳng chẳng chịu khung nào hết
Chân tự do đạp phăng cả hàng rào
Mênh mông
Đó là con người khao khát sống, không lùi bước trước gian nguy thử thách của cuộc
đời để tận hưởng những lý thú của cuộc sống.
Đối với Xuân Diệu cảm hứng nhân đạo trong việc giải phóng cá nhân là phải thỏa
mãn tối đa những nhu cầu của cuộc sống vật chất, của những tình cảm, cảm giác phức
tạp, mãnh liệt của cái tôi. Thơ Xuân Diệu toát lên một nhu cầu mãnh liệt được cảm thông.
Con người rất có ý thức về bản ngã ấy không viết về cái tôi khép kín chỉ biết có mình mà
quan tâm đến cái tôi rộng mở với cuộc đời. Cái tôi ấy cần "Phơi trải" cần "Trình bày".
Nhà thơ như cây thông đem cho đời những Phấn thông vàng và Gửi hương của lòng
mình cho gió khắp bốn phương, mong mỏi đến với những tâm hồn đồng cảm của đời,
chứ không phải một thế giới mông lung của vũ trụ với mây,gió, ữăng, hoa, tuyết, núi,
sông. Đó là sự sống của thế giới "mới bắt đầu mơn mởn" của "má kề bên gối sánh" của:
Ta muốn riết mây đưa và gió lượn
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều
Và non nước, và cây, và cỏ rạng
Cho chếnh chóng mùi thơm cho đã đầy ánh sáng
Cho no nê thanh sắc của thời tươi
Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi
Vội vàng
Bao nhiêu cảnh đẹp của thiên nhiên vũ trụ mà các nhà thơ xưa chỉ "chiêm ngưỡng"
thì bây giờ Xuân Diệu đến thật gần để mà tận hưởng các thế giới trần gian của mình. Với
vầng trăng" các thi nhân xưa chỉ biết ngắm để mà than thở:
Từ góc độ này sẽ dẫn tới sự thay đôi về hình thức thơ ca và cảm hứng trong sáng
tác. Một sự thay đổi có thể ví với một cuộc cách mạng và đây là một đóng góp chưa từng
có cho sự phát triển mang tính đột biến của văn học. Suy cho cùng sự phát triển này có
nguồn gốc từ quan niệm hướng tới con người, là khát vọng trả lại cho văn học ý nghĩa
nhân bản của nó. Trong việc trở về với cái tôi của thơ mới nói chung và thơ Xuân Diệu
nói riêng nó còn chứng tỏ sự gặp gỡ giao hòa của văn học dân tộc với văn học nhân loại
mà trước hết là văn học Trung Quốc.
Thiên nhiên trong thơ Đường là một thiên nhiên chung chung mang tính chất vĩnh
cửu với thời gian. Thiên nhiên trong thơ mới lãng mạn nói chung và thơ Xuân Diệu nói
riêng là một thiên nhiên được cảm thụ qua cái tôi cá thể hóa. Thế giới của thơ Đường là
thế giới của cái ta, của cộng đồng, của chung. Trong thơ Đường người đọc có thể gặp các
kiểu trăng:
Sáng ngắm gương buồn thay mái tuyết
Đêm ngâm thơ thấy lạnh trăng ngà
Vô đề - Lý Thượng Ẩn
đến vầng trăng chung chung vĩnh cửu:
Ngoài kia trăng chiếu bên sông thuở nào
Cuộc nhân thế trải bao kim cổ
Trăng vẫn sáng tỏ xưa nay
Nào người trăng chiếu là ai?
Ngoài kia trăng chiếu sông dài chảy xuôi
Xuân giang hoa nguyệt dạ - Trương Nhược Hư
Hoặc trong thơ thời Lý Trần ở Việt Nam cũng có những vầng trăng có "ánh sáng
diệu kỳ bừng chiếu giữa tâm linh vừa tĩnh lặng vô bờ mà cũng vừa chấn động cả vũ trụ
cái động lớn lao không âm hưởng chỉ người trong cuộc mới nghe thấy. Động và tĩnh đã
hòa nhập làm một, cái này cũng là cái kia không còn phân biệt". (48,140)
Còn trong thơ mới, nhất là trong thơ Xuân Diệu thì chỉ có vầng trăng cá thể hóa
kiểu:
tôi cá nhân, cái tôi riêng của mình một cách phong phú, phức tạp qua nhiều sự biến hóa
nhất. Và mỗi sự hóa thân là một lần giải phóng cho một góc độ, một khía cạnh của con
người thơ:
Tôi là con chim đên từ núi lạ
Ngứa cổ hót chơi
Lời thơ vào tập gửi hương
Ở đây Xuân Diệu thể hiện cái tôi nghệ sĩ, thể hiện quan niệm nghệ thuật hồn nhiên
của mình như một cách mà Thế Lữ đã từng thể hiện:
Tôi là kẻ bộ hành phiêu lãng
Đường trần gian xuôi ngược để vui chơi
Thế Lữ
Ở một góc độ khác, cảm hứng nhân đạo của Xuân Diệu trong việc giải phóng cá
nhân có khi lại bắt đầu từ mối sầu buồn. Và nỗi buồn này trỏ thành cái tôi hóa thân của
nhà thơ:
Tôi như chiếc thuyền hư, không bến đỗ
Tôi là một con chim không tổ
Lòng cô đơn hơn một đứa mồ côi,
Dối trá
Buồn gắn với cô đơn và trở thành một mối sầu lớn còn được thể hiện trong hình
ảnh:
Tôi là con nai bị chiều đánh lưới
Không biết đi đâu, đứng sầu bóng tối
Khi chiều giăng lưới
Cũng là con nai nạn nhân mà người đọc đã gặp trong thơ Thế Lữ. Nhưng con nai
của Xuân Diệu là nạn nhân của hoàng hôn, của bóng chiều, của đêm về. Cả thời gian và
không gian của thiên nhiên giăng lưới. Đây là tấm lưới của vũ trụ nên nai dù có khoẻ đến
chừng nào cũng không thoát ra được. Nó phải chấp nhận đứng yên ương màn đêm vây
kín. Trong ý nghĩ của nhà thơ cái màn đêm dày đặc mênh mông này là một khối sầu.
"nhận", giữa "khát thèm" và "thờ ơ". Về một góc độ nào đó có thể coi thơ Xuân Diệu là
tiếng nói đòi giải phóng. Tình yêu trong thơ Xuân Diệu không bị trói buộc bởi một thứ
quan niệm, luật lệ, định kiến nào. Nó chỉ tuân theo một qui luật: Qui luật giải phóng cá
nhân.
Vì vậy cái tôi trong thơ ông không phải là cái tôi tình tại, mà biến đổi lưu chuyển và
chịu tác động của nhiều dòng thời gian:
Tôi đi trên chiếc thuyền này
Dòng mơ tơ tưởng cũng thay khác rồi
Cái bay không đợi cái trôi
Từ tôi phút trước sang tôi phút này
Đi thuyền
Đây đúng là những phát hiện lý thú về cái tôi ở nhiều góc độ, nhiều phương diện ý
nghĩa mà Xuân Diệu đã đề cao.
Chủ nghĩa nhân đạo trong văn chương thường được xác lập chủ yếu là ở tình cảm
yêu thương trân trọng những con người nghèo khó, bất hạnh. Đọc thơ mới, ta có thể thấy
tình cảm yêu thương trân trọng không chỉ trong thơ Xuân Diệu mà có trong Tế Hanh qua
hình ảnh những chiếc tàu:
Tôi thấy tôi thương những chiếc tàu
Ngàn đời không đủ sức đi mau
Có chi vương vấn trong hơi máy
Mấy chiếc toa đầy nặng khổ đau
Tế Hanh
Trong thơ Vũ Đình Liên qua những kiếp người tàn tạ đáng thương, ông Đồ là hình
ảnh tiều tụy của một thời tàn. Mỗi năm đến mùa hoa đào nở, ông Đồ lại ngồi viết thuê
trên đường phố. Nhưng thời đại đổi thay nên cả một lớp người tàn tạ ấy mất dần đi, để lại
trong lòng thi sĩ một nỗi ngậm ngùi thương xót:
Năm nay đào lại nở
Không thấy ông đồ xưa