BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
BÙI NGUYỄN SƠN
SỰ VẬN ÐỘNG CẢM HỨNG NHÂN ÐẠO
TRONG THƠ CHỮ HÁN NGUYỄN DU
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
NGHỆ AN - 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
BÙI NGUYỄN SƠN
SỰ VẬN ÐỘNG CẢM HỨNG NHÂN ÐẠO
TRONG THƠ CHỮ HÁN NGUYỄN DU
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60.22.01.21
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
PGS. TS. TRƯƠNG XUÂN TIẾU
NGHỆ AN - 2014
MỤC LỤC
Trang
M UỞĐẦ 8
1. Lí do ch n t iọ đề à 8
2. L ch s v n ị ử ấ đề 9
3. M c ích, yêu c uụ đ ầ 15
4. i t ng v ph m vi nghiên c uĐố ượ à ạ ứ 15
5. Ph ng pháp nghiên c uươ ứ 16
6. óng góp c a lu n v nĐ ủ ậ ă 16
7. C u trúc lu n v nấ ậ ă 17
Ch ng 1ươ
2.2. N i ni m th sỗ ề ế ự 46
2.2.1. C m th ng nh ng ki p ng i nh bé, b t h nhả ươ ữ ế ườ ỏ ấ ạ 47
2.2.2. Ng i ca, ng c m v i thân ph n ng i ph n ợ đồ ả ớ ậ ườ ụ ữ 52
2.2.3. Quý tr ng, cao nh ng nh th , nh ng nhân v t t iọ đề ữ à ơ ữ ậ à
danh trong l ch s Trung Qu cị ử ố 59
2.3. Thái phê phán, t cáo hi n th cđộ ố ệ ự 68
2.3.1. Phê phán, t cáo t ng l p quan l iố ầ ớ ạ 68
2.3.2. kích m t s nhân v t l ch s ph n di nĐả ộ ố ậ ị ử ả ệ 70
2.3.3. L n ti ng b o v , òi h i quy n l i cho con ng i ớ ế ả ệ đ ỏ ề ợ ườ 75
2.4. Ý ngh a c a s v n ng c m h ng nhân o trong th ch Hán ĩ ủ ự ậ độ ả ứ đạ ơ ữ
Nguy n Duễ 76
Ti u k tể ế 78
Ch ng 3ươ
NGH THU T TH HI N S V N NGỆ Ậ Ể Ệ Ự Ậ ĐỘ
C A C M H NG NHÂN O TRONG TH CH HÁNỦ Ả Ứ ĐẠ Ơ Ữ
NGUY N DUỄ 79
3.1. T o ra cu n nh t ký ghi chép b ng th sinh ngạ ố ậ ằ ơ độ 79
3.2. Kh c h a nhân v t b ng nh ng hình nh t ng ph n - i l pắ ọ ậ ằ ữ ả ươ ả đố ậ 86
3.3. Gi ng i u th ch Hán Nguy n Duọ đ ệ ơ ữ ễ 93
3.3.1. Gi ng i u c m thông, chia sọ đ ệ ả ẻ 94
3.3.2. Gi ng i u ng ng m , ng i caọ đ ệ ưỡ ộ ợ 98
3.3.3. Gi ng i u m a mai, châm bi mọ đ ệ ỉ ế 101
Ti u k tể ế 107
K T LU NẾ Ậ 108
TÀI LI U THAM KH OỆ Ả 111
6
7
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Khuynh hướng nhân đạo chủ nghĩa là một trong những khuynh
2. Lịch sử vấn đề
Cảm hứng nhân đạo trong thơ chữ Hán Nguyễn Du là vấn đề khoa học
đã được giới nghiên cứu nhìn nhận từ lâu và cho đến nay, nó vẫn đang là một
vấn đề đặc biệt được quan tâm. Chúng tôi xin điểm qua một số nhận định,
đánh giá tiêu biểu theo hai hướng sau:
2.1. Hướng nghiên cứu về cảm hứng nhân đạo trong thơ chữ Hán
Nguyễn Du
Nói đến lịch sử nghiên cứu, phê bình thơ chữ Hán Nguyễn Du, trước
hết phải kể đến công trình Nguyễn Du - về tác gia và tác phẩm (tái bản lần thứ
4 - Nxb Giáo dục, năm 2003) của Trịnh Bá Đĩnh với sự cộng tác của Nguyễn
Hữu Sơn và Vũ Thanh (tuyển chọn và giới thiệu). Công trình gồm 1035 trang,
được chia làm 4 phần. Trong đó, ở Phần thứ nhất,Chân dung Nguyễn Du qua
thơ chữ Hán (từ trang 33 đến trang 131) có 7 bài viết bàn về thơ chữ Hán
Nguyễn Du.Ở các bài viết này, các tác giả đã có cái nhìn tổng quan về thơ chữ
Hán Nguyễn Du trên nhiều phương diện, trong đó cảm hứng nhân đạo là một
vấn đề cũng được đặt ra. Với bài viết Tâm tình Nguyễn Du qua một số bài thơ
chữ Hán, Hoài Thanh một mặt đã chỉ ra thái độ của Nguyễn Du đối với các
triều đại lần lượt thay thế nhau từ cuối thế kỷ XV đến đầu thế kỷ XIX, mặt
khác qua việc phân tích một số bài thơ, trong đó có bài Thái Bình mại ca giả,
Hoài Thanh đã cho chúng ta thấy: “Từ hình ảnh ông già mù đi hát rong, hát
đến sùi bọt mép và lúc đã xuống khỏi thuyền còn quay đầu lại ngỏ lời chúc
9
tụng, từ tất cả những cảnh cơ cực, Nguyễn Du rất thông cảm vì chính Nguyễn
Du cũng đã trải qua. Ngay trong bài này, cái nhìn rất ghê tởm của Nguyễn Du
đối với bọn “nhai xé thịt người ngọt xớt như đường” cũng gắn liền với một
cái nhìn rất đau xót đối với quần chúng lao khổ” [21, 40]. Cùng quan điểm
với Hoài Thanh, Xuân Diệu cũng đã có những nhận định, đánh giá rất sâu sắc
về tập thơ chữ Hán của Nguyễn Du, đặc biệt là hai bài Thái Bình mại ca giả
và Sở kiến hành: “Với hai bài thơ này, Nguyễn Du đã đặt ngón tay vào tận
trong vết thương lở loét của xã hội” [21, 52]. Theo Xuân Diệu, nếu Nguyễn
Nguyễn Lộc trong công trình Văn học Việt Nam cuối thế kỷ XVIII -
hết thế kỷ XIX cũng đã có bài viết giới thiệu về tác gia Nguyễn Du ở
Chương 7 của cuốn sách (từ trang 303 đến trang 333) với tiêu đề Thơ chữ
Hán Nguyễn Du và tâm sự của nhà thơ. Với một cái nhìn sắc sảo thể hiện
qua 30 trang viết, nhà nghiên cứu đi đến kết luận: “Nguyễn Du không phải
là nhà thơ chỉ biết đến số phận riêng của cá nhân mình, chỉ biết ngồi ngắm
cái bóng dưới chân mình, Nguyễn Du cũng không phải là nhà thơ chỉ quan
tâm đến triều đại này, triều đại khác, mà Nguyễn Du là nhà thơ biết đặt lòng
mình nơi những con người bất hạnh, nơi những con người đau khổ. Thơ chữ
Hán Nguyễn Du với Truyện Kiều là một. Có khác chăng là Truyện Kiều
giống như một dòng sông lớn, còn thơ chữ Hán của Nguyễn Du lại là những
con suối nhỏ, nhưng tất cả đều đổ vào đại dương mênh mông của chủ nghĩa
nhân đạo của nhà thơ” [45, 333].
Tuy không trực tiếp nói đến cảm hứng nhân đạo, nhưng ở bài viết Cảm
thức về Thăng Long trong thơ chữ Hán Nguyễn Du, Đinh Thị Khang cũng đã
đề cao tấm lòng vì con người của đại thi hào: “Cũng như nhiều tác giả văn
học thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX, Nguyễn Du đặc biệt quan tâm đến số
11
phận đau khổ của người phụ nữ. Cùng với Đoạn trường tân thanh, thơ chữ
Hán Nguyễn Du mang nỗi niềm cảm thương cho những kiếp hồng nhan bạc
mệnh…. Mỗi cảnh ngộ riêng của phận hồng nhan, đều nhận được từ tấm lòng
thi nhân sự cảm thông chia sẻ” [30, 50]. Điều này một lần nữa cho chúng ta
thấy chủ nghĩa nhân đạo của Nguyễn Du luôn phảng phất trên mỗi câu thơ
chữ Hán của ông.
Với bài viết Con người thương thân - một biểu hiện độc đáo của ý
thức cá nhân trong thơ chữ Hán Nguyễn Du, Nguyễn Thị Nương khẳng định:
“Nỗi thương thân của Nguyễn Du đâu chỉ nảy sinh từ cảnh ngộ riêng mà còn
bắt nguồn từ mối đồng cảm sâu xa của nhà thơ với mọi nỗi đau bao trùm thân
phận con người” [61, 150]. Chính “con người thương thân và những nghiệm
sinh đau đớn đã là một yếu tố quan trọng góp phần tạo nên chiều sâu cho cái
hiện trên nhiều mặt, nhiều vẻ khác nhau. Nguyễn Du đặc biệt quan tâm đến
cảnh sống của những lớp người nghèo, của nhân dân lao động, nhắc đến họ,
giọng thơ của tác giả bao giờ cũng đượm tình thương yêu, trìu mến” [21,
117]. Có thể nói, nhận định của hai tác giả Mai Quốc Liên và Đào Xuân Qúy
là một sự gợi mở quý báu cho chúng tôi khi đi vào hướng nghiên cứu này.
Khi giới thiệu về sự nghiệp văn học của Nguyễn Du, ở mục Sáng tác
bằng chữ Hán, các soạn giả sách Ngữ văn 10, tập 2, Nxb Giáo dục, 2006 đã
trình bày một cách ngắn gọn: “Thơ chữ Hán của Nguyễn Du thể hiện tư
tưởng, tình cảm, nhân cách của ông. Các bài thơ trong Thanh Hiên thi tập và
Nam trung tạp ngâm tuy biểu hiện một tâm trạng buồn đau, day dứt, nhưng đã
cho thấy rõ khuynh hướng quan sát, suy ngẫm về cuộc đời, về xã hội của tác
giả. Trong Bắc hành tạp lục, những điểm đặc sắc của tư tưởng tình cảm
Nguyễn Du được thể hiện rõ ràng hơn” [47, 94]. Cụ thể: “Ca ngợi, đồng cảm
13
với các nhân cách cao thượng và phê phán những nhân vật phản diện; Phê
phán xã hội phong kiến chà đạp quyền sống con người; Cảm thông với những
thân phận nhỏ bé dưới đáy xã hội, bị đọa đày hắt hủi” [tr.94].
Trong bài Sự vận động trong tư tưởng nghệ thuật Nguyễn Du qua
những bài thơ tự thuật in trên Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 5 (423), tháng
5, năm 2007, Nguyễn Thị Nương đã có cái nhìn khá tinh tế khi chỉ ra được sự
vận động của Nguyễn Du về mặt tư tưởng, nghệ thuật trong ba tập thơ Thanh
Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm và Bắc hành tạp lục. Theo Nguyễn Thị
Nương: “Nguyễn Du sáng tác thơ chữ Hán trước hết là để gửi gắm nỗi niềm
riêng. Cho nên, số lượng bài thơ, câu thơ có tính chất tự thuật trong các thi tập
của Nguyễn Du rất lớn… Những vần thơ tự thuật không chỉ phản ánh cách
Nguyễn Du hình dung về bản thân mình mà còn cho thấy quá trình vận động
trong tư tưởng nghệ thuật của một nghệ sĩ lớn. Qúa trình này tương ứng với
những biến động trên đường đời của tác giả. Đây cũng là một quy luật của thơ
ca thời trung đại. Chỉ có điều với Nguyễn Du, sự biến đổi ấy không phụ thuộc
vào những thăng trầm trên đường hoạn lộ mà chủ yếu bắt nguồn từ những trải
trình nghiên cứu, chúng tôi cố gắng trình bày một cách hệ thống về sự vận
động của cảm hứng nhân đạo trong thơ chữ Hán Nguyễn Du.
- Cảm hứng nhân đạo là một phương diện quan trọng của sáng tạo nghệ
thuật, chính vì thế cần hiểu chính xác khái niệm của nó; để từ đó đi sâu vào
tìm hiểu sự vận động của cảm hứng nhân đạo trong thơ chữ Hán Nguyễn Du
một cách đúng đắn, kĩ càng.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là sự vận động của cảm hứng nhân
đạo trong thơ chữ Hán Nguyễn Du.
15
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu sự vận động cảm hứng nhân đạo trong 250 bài thơ
chữ Hán của Nguyễn Du đã được phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ bằng Tiếng
Việt, in trong cuốn Nguyễn Du niên phổ và tác phẩm do Nguyễn Thạch Giang
và Trương Chính biên khảo; chú giải, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, năm
2001 để nghiên cứu.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích và yêu cầu của đề tài, chúng tôi sử dụng các
phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp khảo sát, thống kê: Giúp thu thập và xử lí các tài liệu,
các văn bản có liên quan tới đề tài.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Nhằm phân tíchnhững biểu hiện và
sự vận động của cảm hứng nhân đạo qua các bài thơ, tập thơ. Từ đó, rút ra
những ý khái quát về giá trị nhân đạo mà tác phẩm mang lại.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Đối sánh từng nội dung của cảm
hứng nhân đạo giữa ba tập thơ để thấy được sự vận động của cảm hứng nhân
đạo trong toàn thi tập.
Ngoài ra, chúng tôi còn dựa trên nguyên tắc duy vật lịch sử, duy vật
biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin. Tức là đặt tác phẩm vào trong hoàn
1.1.1. Sự vận động
Sách Từ điển Tiếng Việt, Hoàng Phê (chủ biên), Nxb Đà Nẵng, 2008,
cắt nghĩa:
* Sự (Danh từ):
[1]. Việc, chuyện (nói khái quát): gây sự, muốnquên đi mọi sự. [2]. Từ
có tác dụng danh từ hóa (sự vật hóa) một hoạt động, một tính chất: sự sống,
sự đau đớn, sự thông cảm, sự cố gắng [62, 1085- 1086]. Theo cách cắt nghĩa
này, từ “sự” trong “sự vận động” được chúng tôi hiểu theo cách 2.
* Vận động (Động từ):
[1] (Hiện tượng). Thay đổi vị trí không ngừng của vật thể trong quan hệ
với những vật thể khác.[2]. Thay đổi tư thế, vị trí của thân thể hay bộ phận cơ
thể, về mặt có tác dụng giữ gìn và tăng cường sức khỏe: Chịu khó vận động
cho cơ thể khỏe mạnh.[3]. Di chuyển, thay đổi vị trí trong chiến đấu: lối đánh
vận động.[4]. Tuyên truyền, giải thích, thuyết phục người khác tự nguyện làm
việc gì: vận động nhân dân ủng hộ đồng bào lũ lụt, vận động tranh cử [62,
1365]. Theo cách cắt nghĩa này, từ “vận động” trong “sự vận động” được
chúng tôi hiểu theo cách 1.
1.1.2. Cảm hứng nhân đạo
Sách Từ điển Tiếng Việt, Hoàng Phê (chủ biên), Nxb Đà Nẵng, 2008,
định nghĩa “cảm hứng” và “nhân đạo” như sau:
* Cảm hứng (Danh từ): Trạng thái tâm lí có cảm xúc và hết sức hứng
thú, tạo điều kiện để óc tưởng tượng, sáng tạo hoạt động có hiệu quả: khơi
nguồn cảm hứng [62, 139].
18
* Nhân đạo (Danh từ): đạo đức thể hiện ở sự thương yêu, quý trọng và
bảo vệ con người: một hành vi trái với nhân đạo. (Tính từ): có tính chất
thương yêu, quý trọng và vì con người: hiến máu nhân đạo, có lòng nhân
đạo, chính sách nhân đạo với tù binh [62, 879].
Dựa vào cách cắt nghĩa của các soạn giả trong Từ điển Tiếng Việt và
tham khảo một số ý kiến của các nhà nghiên cứu khác như Nguyễn Văn
thanh (Truyện Kiều). Bên cạnh những tác phẩm viết bằng chữ Nôm, thơ chữ
Hán cũng giữ một vị trí quan trọng trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Du
và trong hành trình nhiều thế kỷ của thơ chữ Hán dân tộc.
Thơ chữ Hán Nguyễn Du gồm 3 tập: Thanh Hiên thi tập, Nam trung
tạp ngâm và Bắc hành tạp lục. Số bài trong ba tập thơ hiện vẫn chưa được
thống nhất. Tác giả Bùi Hạnh Cẩn cho rằng có 192 bài, tác giả Duy Phi lại
cho rằng có 249 bài. Còn hai tác giả Nguyễn Thạch Giang và Trương Chính
thì nhận định cả ba tập thơ chữ Hán của Nguyễn Du cho đến hiện nay mới
góp được 250 bài nhờ công sức sưu tầm của nhiều người. (Theo Nguyễn Du,
niên phổ và tác phẩm, Nguyễn Thạch Giang, Trương Chính, Nxb Văn hóa
Thông tin, 2001). Chúng tôi đồng tình với ý kiến của hai tác giả này.
1.2.1. Tập thơ “Thanh Hiên thi tập” (Tập thơ của Thanh Hiên)
Là tập thơ chữ Hán đầu tiên của Nguyễn Du, gồm 78 bài, viết chủ yếu
trong những năm tháng trước khi ra làm quan cho nhà Nguyễn. Dựa vào đời
sống và tâm sự của nhà thơ, nhóm biên soạn đã sắp xếp, phân chia tập thơ
thành ba giai đoạn:
- Mười năm gió bụi (1786 - khoảng cuối năm 1795 đầu năm 1796): tức
năm Tây Sơn bắt đầu đưa quân ra Bắc Hà, cho đến năm Nguyễn Du trở về
quê nhà ở Hồng Lĩnh.
20
- Dưới chân núi Hồng (1796-1802): quãng thời gian ông về ở ẩn tại quê
nhà (Hà Tĩnh).
- Làm quan ở Bắc Hà (1802-1804): quãng thời gian ông bắt đầu ra làm
quan cho nhà Nguyễn.
Thanh Hiên thi tập là tập thơ nổi bật tâm sự đau buồn của Nguyễn Du -
một phần tử quý tộc thất thế. Vì vậy, trong rất nhiều bài thơ, ông chủ yếu nói
đến những bất hạnh của riêng mình, mà chưa có tiếng nói quan tâm đến
những người xung quanh. Nỗi đau trong tập thơ này là nỗi đau vì mình, đau
cho mình nhiều hơn nỗi đau về nhân tình thế thái. Đồng thời, qua các bài thơ
chữ Hán Nguyễn Du thể hiện phẩm chất trong sạch của mình và nêu bật ý
1.2.3 .Tập thơ “Bắc hành tạp lục” (ghi chép trong chuyến đi sang
phương Bắc)
Gồm 132 bài thơ chữ Hán, sáng tác trong thời gian Nguyễn Du đi sứ
Trung Quốc (năm 1813 - 1814). Đây là một tập thơ du ký, đồng thời là cuốn
sách hồi cố, ghi lại sự tự biểu hiện của thế giới tinh thần, tâm trạng của nhà
thơ trong hơn một năm đi sứ. Những bài thơ Nguyễn Du viết trên đường đi sứ
chủ yếu được chia thành hai loại:
- Đề tài “lộ trình”, ghi chép lại những cảm hứng nẩy sinh, những điều
tai nghe mắt thấy trên từng chặng đường đi, qua đó nhà thơ giãi bày tâm trạng
(Minh Giang chu phát, Thái Bình thành hạ văn xuy địch,…v.v)
- Đề tài “vịnh sử”, trình bày cảm xúc, suy nghĩ về một loạt nhân vật
lịch sửTrung Quốc, nhân đi qua các di tích của họ (Tương Đàm điếu Tam Lư
đại phu, Dự Nhượng chùy thủ hành, Sở Bá vương mộ v.v )
Với tập thơ chữ Hán này, Nguyễn Du không chỉ soi ngắm cái tôi của
mình như trước mà đã quan tâm đến cuộc sống hiện thực. Tập thơ xuất hiện
22
nhiều hình tượng mới: trung thần nghĩa sĩ, thi hào lỗi lạc, những người yêu
nước và cả những hôn quân bạo chúa, những gian thần trong lịch sử Trung
Quốc. Nguyễn Du đặc biệt quan tâm đến những con người nhỏ bé, bất hạnh
và những người phụ nữ tài sắc. Ngoài ra, tập thơ chữ Hán còn thể hiện nỗi
nhớ nhà và tâm trạng buồn bã nơi đất khách quê người của tác giả.
Thơ chữ Hán của Nguyễn Du là một tài sản nghệ thuật đạt đến trình độ
cổ điển. Ba tập thơ có nhiều bài thơ bát cú (ngũ ngôn, thất ngôn) và tứ tuyệt
rất tinh tế; tạo được ấn tượng sâu sắc trong lòng bạn đọc. Những bài thơ cổ
phong và trường thiên của ông có tư tưởng nhân đạo cao cả, có một phong
cách phóng khoáng, lời thơ điêu luyện, lay động cõi người, giọng thơ u trầm
thấm thía, đầy cảm xúc. Tác giả đã thể hiện sự ghi chép “người thực việc
thực” của mình với một giọng điệu, ngôn ngữ đầy sáng tạo, có sự kết hợp
giữa giọng điệu cảm thương sâu sắc và giọng điệu phê phán tố cáo, đồng thời
tạo nên những bức tranh đối lập tương phản làm cho tác phẩm mang tính hiện
kiến Việt Nam
Thời kỳ này, xã hội phong kiến Việt Nam rơi vào bế tắc, không có điều
kiện để chuyển sang chế độ mới. Sự bế tắc, suy thoái này thể hiện sâu sắc trên
các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa tư tưởng.
a. Chính trị
Các tập đoàn phong kiến thống trị ở Đàng Ngoài (Lê - Trịnh), Đàng
Trong (Nguyễn) thối nát cực độ. Giai cấp phong kiến thống trị bất lực trong
quản lý sản xuất, bó tay trong việc giải quyết mâu thuẫn xã hội, đua nhau lao
vào cuộc sống hưởng lạc cá nhân, xa hoa lãng phí trên mồ hôi, nước mắt và
máu của nhân dân. Giai cấp phong kiến thống trị không còn tư cách đại diện
cho dân tộc, trở thành những kẻ phản bội lại dân tộc, cản bước tiến của lịch
24
sử.Bộ máy quan liêu của các tập đoàn phong kiến Lê - Trịnh - Nguyễn hết sức
rệu rạo, bê bối, trở thành "sâu mọt" của dân. Chính trong bối cảnh xã hội này,
phong trào nông dân khởi nghĩa diễn ra liên tục, mạnh mẽ, lan rộng khắp nơi
như: Ở Đàng Ngoài có cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Danh Phương (1740 -
1751), cuộc khởi nghĩa của Hoàng Công Chất (1739 - 1769), cuộc khởi nghĩa
của Cao Bá Quát (1854 - 1855),… Ở Đàng Trong có cuộc khởi nghĩa của
chàng Lía (1769), cuộc bạo động của Lê Văn Khôi,… trong đó nổi bật hơn cả
là cuộc khởi nghĩa Tây Sơn (1771) của ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ,
Nguyễn Lữ. Đến năm 1788, Nguyễn Huệ lên ngôi, lấy niên hiệu là Quang
Trung. Năm 1792, vua Quang Trung mất, con trai là Quang Toản nối ngôi trị vì
đất nước. Nhưng chẳng bao lâu, triều Tây Sơn bị tiêu diệt (1802). Mặc dù, triều
Tây Sơn xuất hiện có nhiều tiến bộ, dành được những thắng lợi huy hoàng
nhưng do không phát huy được vai trò tích cực của mình nên dần dần đi vào
con đường phong kiến hóa, tạo cơ hội cho tập đoàn phong kiến Nguyễn Ánh
manh nha phát triển. Dựa vào thế lực tư bản Pháp, Nguyễn Ánh đánh bại Tây
Sơn, thiết lập chế độ phong kiến nhà Nguyễn. Ngay sau khi lên ngôi (1802),
Nguyễn Ánh (niên hiệu Gia Long) và các đời vua tiếp theo ngày càng đi sâu
vào con đường phản động. Bọn chúng đã tìm mọi cách thiết lập chế độ quân