Tìm hiểu sự đối lập tương phản trong thơ chữ hán nguyễn du - Pdf 31

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Khoa ngữ văn
*********

nguyễn thị hằng

tìm hiểu sự đối lập tương phản
trong thơ chữ hán nguyễn du

Khoá luận tốt nghiệp đại học
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Hà Nội - 2009

5


Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Khoa ngữ văn
*********

nguyễn thị hằng

tìm hiểu sự đối lập tương phản
trong thơ chữ hán nguyễn du

Khoá luận tốt nghiệp đại học
Chuyên ngành:

Văn học Việt Nam


toàn chịu trách nhiệm.

Hà Nội, ngày 6 tháng 5 năm 2009
Người thực hiện

Nguyễn Thị Hằng

8


Mục lục
Trang
Mở đầu

5

1. Lí do chọn đề tài
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
3. Mục đích nghiên cứu
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
5. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
6. Phương pháp nghiên cứu
7. Đóng góp của khoá luận
8. Bố cục của khoá luận

5
6
8
9
9

Thơ chữ Hán Nguyễn Du

2.1. Quan niệm về sự đối lập, tương phản
2.2. Sự đối lập tương phản trong Thơ chữ Hán Nguyễn Du
2.2.1. Sự đối lập tương phản về không gian, thời gian
2.2.1.1. Đối lập tương phản giữa thế giới âm - dương
2.2.1.2. Đối lập tương phản giữa quá khứ - hiện tại tương lai
2.2.2. Sự đối lập tương phản thế giới con người
2.2.2.1. Đối lập tương phản trong chính bản thân tác giả
2.2.2.2. Đối lập tương phản trong cuộc đời của các tầng
lớp người khác nhau

9

23
24
24
24
33
38
38
43


Kết luận

53

Tài liệu tham khảo


2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Từ trước đến nay, có nhiều công trình nghiên cứu về Thơ chữ Hán
Nguyễn Du trên các bình diện khác nhau. Tuy nhiên sự đối lập, tương phản
trong các sáng tác của nhà thơ thì chưa có một đề tài nào riêng biệt.
Đọc trong một số bài viết, công trình nghiên cứu của các tác giả, người
viết khoá luận nhận ra các tác giả này đã có đề cập đến tính đối lập, tương
phản trong Thơ chữ Hán Nguyễn Du như sau:
- Trong cuốn Văn học Việt Nam từ nửa cuối thế kỷ XVIII - hết thế kỷ
XIX, Nguyễn Lộc đã trình bày những vấn đề cơ bản về Thơ chữ Hán: "Nguyễn
Du không phải là nhà thơ chỉ biết đến số phận riêng của cá nhân mình, chỉ
biết ngồi ngắm cái bóng dưới chân mình, Nguyễn Du cũng không phải là nhà
thơ chỉ quan tâm đến triều đại này, triều đại khác, mà Nguyễn Du là nhà thơ
biết đặt lòng mình nơi những con người bất hạnh, nơi những con người đau
khổ" [6, tr.333]. Trong đó, tác giả có đề cập đến sự đối lập tương phản giữa
cuộc sống đói khổ của nhân dân lao động với sự xa hoa, lãng phí của tầng lớp
quý tộc.
- Trong bài viết của Lê Thu Yến: Thời gian nghệ thuật trong thơ chữ
Hán Nguyễn Du. Tác giả nhận xét: "Thơ đời Đường nói nhiều đến quá khứ,
thậm chí có ý muốn khôi phục lại quá khứ, ít nói đến hiện tại và hầu như vắng
bóng tương lai. Thơ Nguyễn Du ít nhiều ảnh hưởng thơ Đường nhưng do sự
chi phối của thời đại nên cách biểu hiện của ông có khác". [13, tr. 84]. Trong
đó, tác giả đã bước đầu nói đến sự tương phản, đối lập về quá khứ, hiện tại,
tương lai trong các sáng tác chữ Hán của Nguyễn Du

11


- Trong một bài viết khác của Lê Thu Yến: Thế giới tâm linh trong sáng
tác Nguyễn Du - một biểu hiện của văn hoá Việt, tác giả đã khẳng định: "Nhìn
chung thế giới tâm linh luôn hiện diện trong sáng tác Nguyễn Du. Điều này

cũng tồn tại bên cạnh nhau trong xã hội [3, tr. 78]. Qua bài viết này, Nguyễn Huệ
Chi đã có nêu lên sự đối lập giữa các tầng lớp người khác nhau trong xã hội.
+ Trương Chính trong bài viết "Tâm sự của Nguyễn Du qua Thơ chữ
Hán" đã đặt ra một vấn đề: "Nhưng có một vấn đề khác lại đặt ra là: Tại sao
Nguyễn Du được nhà Nguyễn tin dùng như thế mà có thái độ hình như bất đắc
chí?" [3, tr. 103]. Qua bài viết, tác giả ít nhiều có đề cập đến sự đối lập giữa
việc đi làm quan và tâm trạng xa lạ chốn quan trường của Nguyễn Du.
Từ những công trình nghiên cứu về Thơ chữ Hán Nguyễn Du, chúng tôi
nhận thấy vấn đề sự đối lập tương phản trong Thơ chữ Hán Nguyễn Du đã ít
nhiều được đề cập đến. Tuy nhiên,những ý kiến của giới nghiên cứu chưa đặt
thành vấn đề riêng biệt, chưa khảo sát toàn diện và chưa lí giải sâu sắc sự đối
lập, tương phản trong Thơ chữ Hán. Chính vì lẽ đó, trên cơ sở gợi ý của những
người đi trước, tác giả khoá luận này mong muốn ở mức độ nhất định hệ thống
lại các mặt đối lập tương phản trong các sáng tác Thơ chữ Hán của Nguyễn
Du. Qua đó, người viết góp phần khẳng định giá trị tác phẩm, hiểu hơn tấm
lòng nhân đạo của Nguyễn Du.

3. Mục đích nghiên cứu
Đề tài của khoá luận này nhằm hướng tới những mục đích sau:
- Góp phần nghiên cứu một cách có hệ thống, sâu sắc và cụ thể hơn vấn
đề "Tìm hiểu sự đối lập, tương phản trong Thơ chữ Hán Nguyễn Du". Qua đó,
góp phần tìm hiểu thêm chân dung đại thi hào dân tộc thể hiện qua sáng tác
văn học. Từ đó có cái nhìn toàn diện hơn đối với con người và thơ văn của
ông, giúp ta nhận ra thái độ chính trị, tư tưởng, tình cảm của nhà thơ đối với
bản thân và đồng loại, nhận ra những bước thăng trầm trong cuộc đời nghệ sỹ

13


cùng với một tấm lòng nhân đạo sâu sắc, tài năng nghệ thuật Nguyễn Du qua

chúng tôi sử dụng cuốn Thơ chữ Hán Nguyễn Du, bản in của Nhà xuất bản
Văn học, Hà Nội, 1978. Tác phẩm gồm 249 bài thơ (và một bài được công bố
trên tạp chí văn học gần đây). Trong khoá luận này, vì diễn đạt ở những văn
cảnh khác nhau nên người viết dùng cả hai cách viết Thơ chữ Hán Nguyễn Du
và Thơ chữ Hán.
5.2. Phạm vi nghiên cứu
Tìm hiểu Thơ chữ Hán Nguyễn Du là một việc làm hữu ích song giới
hạn phạm vi nghiên cứu của khoá luận chỉ tập trung tìm hiểu tính đối lập,
tương phản trong Thơ chữ Hán trên các vấn đề chính: đối lập tương phản về
không gian, thời gian và đối lập tương phản trong thế giới con người. Như vậy,
phạm vi nghiên cứu của khoá luận đã cố gắng Tìm hiểu Thơ chữ Hán Nguyễn
Du trên cả hai phương diện: nội dung và nghệ thuật.

6. Phương pháp nghiên cứu
Khoá luận sử dụng một số phương pháp chính sau đây:
- Phương pháp hệ thống
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp thống kê
- Một số phương pháp và thao tác khác như: phân tích, bình giảng.

7. Đóng góp của khoá luận
Khoá luận có một số đóng góp sau:
- Khoá luận chỉ ra được sự đối lập, tương phản trong Thơ chữ Hán
Nguyễn Du trên các bình diện cụ thể về không gian, thời gian nghệ thuật, về

15


thế giới con người. Từ đó giúp cho bạn đọc có cái nhìn đa diện, sâu sắc hơn về
tác gia văn học này.

luôn tranh chấp, chém giết lẫn nhau để giành cương vị bá chủ thiên hạ. Tình
trạng chúa Nguyễn đàng trong, chúa Trịnh đàng ngoài, vua Lê chúa Trịnh,
cung vua phủ chúa tồn tại song song là một thực trạng trái ngược nguyên tắc
và đạo lý tổ chức "Thiên vô nhị nhật, quốc vô nhị quân" (Trên trời không có
hai mặt trời, trong nước không có hai vua) của chế độ phong kiến trung ương
tập quyền. Mãi đến giữa năm 1788, đất nước mới căn bản được thống nhất,
khi Tây Sơn lần lượt lật đổ các tập đoàn phong kiến Nguyễn, Trịnh, Lê thiết
lập triều đại mới. Tuy vậy, triều đại Tây Sơn không tồn tại được lâu. Một thời
gian sau khi Quang Trung mất, Nguyễn ánh đã đánh bại triều đình Tây Sơn,
lên ngôi hoàng đế (1802). Triều Nguyễn được thành lập.

17


Như vậy, trong thời gian ngắn ngủi 1786 - 1802, bốn tập đoàn phong
kiến lần lượt sụp đổ (Nguyễn, Trịnh, Lê, Tây Sơn). Sự "thay thầy đổi chủ" liên
tục tạo cảm hứng chung về một thời đại phong kiến không chỉ thể hiện ở sự
rối ren, lục đục, ở sự thay đổi liên tục của bộ máy nhà nước trung ương mà
còn thể hiện ở sự băng hoại của những giá trị đạo đức truyền thống. Bao nhiêu
tín điều, nguyên tắc đều bị vi phạm mạnh mẽ. Trong cung vua phủ chúa, nơi
ngự trị của những khuôn vàng thước ngọc của xã hội phong kiến: những quan
hệ "quân thần", "phụ tử", "phu phụ", "bằng hữu", "huynh đệ"..., tóm lại là
"tam cương ngũ thường" của nho giáo, đều bị sụp đổ một cách thảm hại.
Những bề tôi giết vua, con phản cha, em hại anh... chỉ vì một chiếc ngai vàng,
một tước công hầu hay một hòm châu báu... Khi Vũ Văn Nhậm ra Bắc vào
năm 1789, Lê Chiêu Thống bỏ chạy qua sông Như Nguyệt phải nhờ trấn thủ
Nguyễn Cảnh Thước chèo đò chở qua bến, Nguyễn Cảnh Thước mở hòm lấy
40 lạng vàng còn lại của nhà vua. Khỏi bến sông bên kia, Nguyễn Cảnh Thước
lại cho người đuổi theo "lột nốt chiếc ngự bào vua đang mặc, vua ứa nước mắt
cởi chiếc ngự bào trao cho chúng..." (Hoàng Lê Nhất thống chí).

suốt thế kỷ XVIII, phong trào liên tục, rộng khắp, quyết liệt và mạnh mẽ đã
bùng nổ trên khắp dải đất Việt Nam, tiêu biểu như khởi nghĩa Nguyễn Danh
Phương (1741 - 1750), khởi nghĩa Nguyễn Hữu Cầu (1741 - 1751), khởi nghĩa
Hoàng Công Chất (1736 - 1769) ngoài ra còn không biết bao nhiêu cuộc khởi
nghĩa trên cả hai địa bàn: miền xuôi và miền ngược, kinh đô và thôn xóm, do
cả kẻ tu hành lẫn người tôn thất lãnh đạo.
Khí thế, sức mạnh của thế kỷ nông dân khởi nghĩa kết tinh vào cuộc
khởi nghĩa Tây Sơn - cuộc khởi nghĩa bùng nổ năm 1771, đánh dấu vẻ vang
bằng những chiến công của lãnh tụ áo vải Nguyễn Huệ, mở đầu cho một triều
đại mới. Đây là cuộc khởi nghĩa có quy mô toàn quốc, đập tan một lúc ba tập
đoàn phong kiến trong nước (Trịnh, Nguyễn, Lê), đồng thời đánh tan sự xâm
lược của quân Xiêm (1785) và quân Thanh (1788) thống nhất đất nước, lập
nên triều Tây Sơn với nhiều cải cách văn hoá, xã hội và chính trị tiến bộ. Tuy
rút cục, cuộc khởi nghĩa này cũng chỉ đi tới chỗ thành lập một triều đại mới

19


song có thể khẳng định: khởi nghĩa Tây Sơn có ý nghĩa thật lớn lao, bởi đây là
lần đầu tiên trong lịch sử, sức mạnh tinh thần và lực lượng vật chất của quần
chúng bị áp bức, của dân tộc Việt Nam đã được biểu hiện đẹp đẽ, trọn vẹn trên
cả hai bình diện: đấu tranh giai cấp và đấu tranh chống ngoại xâm. Dẫu cho
các cuộc khởi nghĩa trước Tây Sơn đã bị triều đình dìm trong bể máu, dẫu cho
kết cục nhà Nguyễn đã tiêu diệt triều đại Tây Sơn, thiết lập nên chính quyền
phong kiến từ Nam ra Bắc thì bão táp của phong trào quần chúng vẫn để lại dư
âm vang dội, tạo nên ảnh hưởng sâu xa đến toàn bộ diễn biến của lịch sử
đương thời và trạng thái tư tưởng thời đại. Đó là tiền đề xã hội sâu sắc làm dấy
lên trào lưu tư tưởng dân chủ trong xã hội - cơ sở của chủ nghĩa nhân văn đẹp
đẽ trong văn học, tác động mạnh mẽ đến thế giới quan nghệ sỹ.
Sự khủng hoảng sâu sắc, toàn diện của chế độ phong kiến còn thể hiện

nhưng ngắn ngủi của phong trào Tây Sơn và triều đại Quang Trung, công cuộc
"trung hưng" của nhà Nguyễn... Tất cả những biến động ấy đã ảnh hưởng đến
cuộc đời nhà thơ.
Nguyễn Du, tự Tố Như, hiệu Thanh Hiên, sinh tại phường Bích Câu,
Thăng Long (nay thuộc Hà Nội) là con thứ 7 trong gia đình. Cha Nguyễn Du
là Nguyễn Nghiễm (1708 - 1775) tự Hy Di, hiệu Nghi Hiên, là quan chức, sử
gia, nhà thơ. Trước thế kỉ XVI quê gốc Nguyễn Nghiễm ở làng Canh Hoạch,
huyện Thanh Oai, trấn Sơn Nam (nay thuộc tỉnh Hà Tây); sau này dời vào
làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.
Nguyễn Du xuất thân từ dòng họ có danh vọng lớn đương thời. Trước
hết, đây là dòng họ đại quý tộc đã có nhiều người thành đạt lớn trên con
đường khoa bảng và công danh (cha, anh, bác ruột Nguyễn Du đều là người
đỗ tiến sĩ, Nguyễn Nghiễm đã từng làm quan tới chức tể tướng triều đình).
Mặt khác, dòng họ Nguyễn Tiên Điền còn nổi tiếng về một truyền thống văn
học lỗi lạc (cha Nguyễn Du là một vị quan "văn võ toàn tài", anh Nguyễn Du Nguyễn Khản đương thời nổi tiếng là con người hào hoa của đất kinh kỳ, đặc
biệt rất sành âm nhạc, quốc âm). Địa vị, truyền thống đó của gia đình, dòng
họ đã để lại những "dấu ấn vàng son" trong tâm hồn Nguyễn Du, đồng thời là

21


một cơ sở quan trọng góp phần hình thành vốn hiểu biết của Nguyễn Du về triết
học, sử học, văn học (bao gồm cả văn học Việt Nam và văn học Trung Quốc).
Nhờ địa vị của dòng họ, đặc biệt là của cha và anh, Nguyễn Du tuy là
con vợ thứ cũng đã có một thiếu thời ấm êm, sung sướng. Nhưng rồi bão táp
của thời đại, sự kiện kiêu binh đã khiến Tả thị lang bộ hình kiêm Hiệp trấn xứ
Tây Sơn Nguyễn Khản lao đao. Dù còn rất trẻ, có tài và thông minh không
hiểu vì sao Nguyễn Du chỉ thi tam trường rồi bỏ dở. Sau đó, ông được "tập
ấm" chức chánh thủ hiệu đội quân nhỏ ở Thái Nguyên của người bố nuôi họ
Hà trước đây làm việc dưới trướng của Nguyễn Nghiễm.

trải nghiệm đắng cay trong cuộc đời đã tạo nên một Nguyễn Du với trái tim
mang "sức cảm thông lạ lùng" (Hoài Thanh) đối với con người. Tuy vậy,
những đảo lộn dữ dội của thời đại, sự thất bại của những lực lượng tiến bộ
trong xã hội và sự hạn chế trong thế giới quan của bản thân người nghệ sĩ đã
tạo nên trong tư tưởng Nguyễn Du nhiều mâu thuẫn, vừa có yếu tố tiến bộ tích
cực vừa có yếu tố xưa cũ lạc hậu. Tất cả những yếu tố đó ghi đậm dấu ấn
trong sáng tác của Nguyễn Du tạo nên những mảng đối lập, tương phản trong
Thơ chữ Hán và cả Truyện Kiều.
Hoàn cảnh lịch sử, xã hội và cuộc đời trước hết tạo nên trong Nguyễn
Du một trái tim chan chứa yêu thương đối với con người. Thời đại và cuộc
sống bản thân còn tạo nên cho nguyễn Du một vốn hiểu biết phong phú, để rồi
trang thơ Nguyễn Du là những bức tranh nhiều cảnh vật, nhiều con người,
nhiều cuộc sống. Những bức tranh thiên nhiên, con người hiện lên rõ nét trong
tất cả sáng tác của Nguyễn Du, trong đó có Thơ chữ Hán. Điều đặc biệt là đi
vào tìm hiểu thế giới cảnh vật, con người trong các tác phẩm chữ Hán của
Nguyễn Du, chúng tôi phát hiện ra những mảng đối lập tương phản về không
gian, thời gian về cuộc sống của con người...
Tóm lại, những tác động của thời đại và cuộc đời đã để lại dấu ấn sâu
sắc trong sự nghiệp văn học của Nguyễn Du. Thời đại ấy, cuộc đời ấy có ý

23


nghĩa không nhỏ trong việc hình thành một thiên tài nghệ thuật, là cơ sở cho
những tác phẩm văn học mà giá trị của nó không phải là một thời mà còn mãi mãi.
1.2. Tác phẩm Thơ chữ Hán Nguyễn Du
1.2.1. Hoàn cảnh sáng tác
Truyện Kiều là một kiệt tác của Văn học Việt Nam, điều đó hẳn không
ai phủ nhận. Nhưng bên cạnh Truyện Kiều, Nguyễn Du còn làm nhiều thơ chữ
Hán. Về tác phẩm chữ Hán, Nguyễn Du có ba tập thơ: "Thanh Hiên thi tập",

"bơ phờ trước gió chiều"...
Đời sống vật chất của bản thân, của gia đình cũng được Nguyễn Du
nhắc đến nhiều lần trong Thơ chữ Hán. Đó là cuộc sống thật nghèo, thật khổ
sở (phần này sẽ được làm rõ ở chương sau).
Đời sống vật chất của Nguyễn Du đầy gian khổ, đời sống tinh thần của
người lại càng chồng chất bi kịch. Hiện hình trong trang thơ là con người bế
tắc, khi "hùng tâm" và "kế mưu sinh" cả hai đều mờ mịt. Người tráng sĩ tóc
bạc chỉ biết hướng lên trời than thở (Tạp thi). Đọc thơ Nguyễn Du ta thấy thi
nhân thật cô đơn, cuộc đời gặp nhiều bất hạnh mặc dù tài hoa.
Qua Thơ chữ Hán, Nguyễn Du còn bộc lộ thái độ của mình đối với các
triều đại phong kiến. Tìm hiểu vấn đề này chính là tìm hiểu con người, thái độ
chính trị của nhà thơ.
Suốt đời mình, Nguyễn Du nặng lòng với nhà Lê. Kẻ sĩ trung đại quan
niệm: nước là của vua, vua là của nước. Chính vì vậy khi triều Lê sụp đổ
Nguyễn Du cũng giống như bao kẻ sĩ Bắc hà khác rơi vào tâm trạng mất nước.
Họ hoặc có ý định phục quốc hoặc tỏ ra tiếc nuối triều đại này.
Triều Lê là triều đại có nhiều ân huệ và kỉ niệm đối với dòng họ và gia
đình Nguyễn Du. Chính vì vậy, nhà thơ không dễ gì quên được. Trong Thơ
chữ Hán, ông bày tỏ thái độ của mình đối với nhà Lê qua một số tác phẩm viết
trong thời kỳ làm quan với nhà Nguyễn ở Bắc hà, còn đa số trong Bắc hành
tạp lục tiêu biểu như: "Đạo ý", "My trung mạn hứng", "Thăng Long", "Ngộ

25


gia đệ cựu ca cơ"... Qua những bài thơ vừa kể trên, ta thấy tình cảm của ông
dành cho triều đại cũ có cái gì chua xót, ngậm ngùi, khi cái mới cứ chồng lên
cái cũ. Nguyễn Du chua xót nhận ra: tất cả những gì đã qua thuộc về lịch sử,
lịch sử ấy không thay đổi được. Tuy vậy, trong tình cảm Nguyễn Du dành cho
triều Lê ta thấy trước sau vẫn thiêng liêng, sâu thẳm. Đó là nơi tâm thức

chỉ quan tâm đến triều đại này, triều đại khác mà còn là nhà thơ biết đặt lòng
mình nơi những con người bất hạnh, nơi những con người đau khổ.
Tóm lại, Thơ chữ Hán Nguyễn Du có nội dung phong phú. Nó bao gồm
nhiều cảnh vật, nhiều con người, nhiều cuộc sống khác nhau. Tìm hiểu các tác
phẩm Thơ chữ Hán Nguyễn Du, chúng tôi nhận ra một số vấn đề đối lập tương
phản. Đó là giới hạn của khoá luận, người viết xin được đi vào tìm hiểu các
mặt đối lập tương phản đó ở chương sau.

27


Chương 2
Sự đối lập tương phản
trong Thơ chữ Hán Nguyễn Du
2.1. Quan niệm về sự đối lập tương phản
Về mặt triết học, tất cả các sự vật hiện tượng trên thế giới đều chứa
đựng những mặt đối lập, tương phản nhau. Trong bản chất con người có sự đối
lập giữa tốt - xấu, lương thiện - bất lương... Trong thế giới của màu sắc có sự
đối lập tương phản giữa trắng - đen... Trong sinh vật có sự đối lập tương phản
giữa đồng hoá - dị hoá. Trong kinh tế thị trường có cung và cầu, hàng và tiền...
Về số lượng có sự đối lập nhiều - ít, về giá cả có sự đối lập đắt - rẻ...
Có thể khẳng định, sự tồn tại của các mặt đối lập là khách quan và phổ
biến trong tất cả các sự vật. Lĩnh vực sáng tác văn chương cũng không nằm
ngoài quy luật đó. Khi viết về những cảnh những người những cuộc sống khác
nhau dù muốn dù không, người nghệ sĩ cũng tạo ra các mặt đối lập nào đó.
Theo Hoàng Phê: "Đối lập là đứng ở phía trái ngược, có quan hệ chống
đối nhau" [9, tr. 428]. Cũng theo tác giả trên thì "Tương phản là có tính chất
đối ngược, đối chọi rõ rệt" [9, tr. 1336].
Như vậy, đi vào tìm hiểu các mặt đối lập tương phản là đi vào phát hiện
các vấn đề trái ngược nhau từ đó khái quát nên bản chất của sự vật hiện tượng.

một sợi dây định mệnh theo suốt cuộc đời Thuý Kiều. Trong Thơ chữ Hán
Nguyễn Du, người đọc cũng dễ dàng nhận thấy sự xuất hiện của hai thế giới
âm - dương. Nhà thơ dựng lên không gian của chết chóc như muốn so sánh
đối lập nó với cuộc đời đang có - cõi trần gian.
Không gian của cõi âm được diễn tả bằng sự chết chóc, đó là nơi diễn
ra cuộc sống của các hồn ma còn không gian của cõi dương là của người sống,
không gian vũ trụ. Cõi âm - cõi dương là hai thế giới, hai môi trường hoàn
toàn đối lập nhau về không gian. Dưới ngòi hút của Nguyễn Du hai thế giới
đối lập này hiện ra rõ nét.

29



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status