biện pháp phát huy khả năng sáng tạo cho trẻ 5 6 tuổi trong trò chơi đóng kịch - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

NGÔ THỊ TUYẾT MAI

BIỆN PHÁP PHÁT HUY KHẢ NĂNG SÁNG
TẠO CHO TRẺ 5-6 TUỔI TRONG TRÒ CHƠI
ĐÓNG KỊCH

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC

Thành phố Hồ Chí Minh -2013


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

NGÔ THỊ TUYẾT MAI

BIỆN PHÁP PHÁT HUY KHẢ NĂNG SÁNG
TẠO CHO TRẺ 5-6 TUỔI TRONG TRÒ CHƠI
ĐÓNG KỊCH

Chuyên ngành: Giáo dục học (Mầm non)
Mã số: 60 14 01 02

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. PHẠM THU HƯƠNG

Thành phố Hồ Chí Minh -2013


2


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ............................................................................................................. 1
LỜI CẢM ƠN ................................................................................................................... 2
MỤC LỤC ......................................................................................................................... 3
PHẦN MỞ ĐẦU ............................................................................................................... 6
1. Lí do chọn đề tài................................................................................................................... 6
2. Mục đích nghiên cứu ........................................................................................................... 7
3. Nhiệm vụ nghiên cứu ........................................................................................................... 7
4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu ................................................................................... 7
5.Giả thuyết nghiên cứu .......................................................................................................... 8
6. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu ........................................................................................ 8
7. Phương pháp nghiên cứu .................................................................................................... 8
8. Đóng góp của đề tài ............................................................................................................. 8
9. Dự kiến cấu trúc luận văn ................................................................................................... 9

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ SÁNG TẠO CỦA TRẺ MẪU GIÁO 5 – 6
TUỔI TRONG TRÒ CHƠI ĐÓNG KỊCH .................................................................. 10
1.1. Lịch sử nghiên cứu về sáng tạo...................................................................................... 10
1.2. Các khái niệm chung về sáng tạo .................................................................................. 13
1.2.1. Những quan điểm khác nhau về sáng tạo .................................................................. 13
1.2.2. Các quan điểm về cơ sở tâm lý học của sự sáng tạo nghệ thuật ................................ 16
1.2.3. Những đặc điểm của sáng tạo .................................................................................... 18
1.2.4. Sản phẩm sáng tạo ..................................................................................................... 20
1.2.5. Các cấp độ của sáng tạo ............................................................................................. 21
1.2.6. Môi trường sáng tạo ................................................................................................... 23
1.3. Trò chơi đóng kịch ở trường mầm non ........................................................................ 25

3.1. Một số biện pháp tổ chức TCĐK. ................................................................................. 54
3.1.1. Khái niệm về biện pháp ............................................................................................. 54
3.1.2. Cơ sở định hướng cho việc đề xuất các biện pháp phát huy khả năng sáng tạo của trẻ
5 – 6 trong TCĐK ................................................................................................................ 54
3.1.3. Một số biện pháp phát huy khả năng sáng tạo cho trẻ 5 – 6 tuổi trong TCĐK ......... 55
3.1.4. Cách thức sử dụng các biện pháp .............................................................................. 60
3.2. Thực nghiệm sư phạm .................................................................................................... 60
3.2.1. Mục đích thực nghiệm ............................................................................................... 60
3.2.2. Đối tượng, phạm vi và thời gian thực nghiệm ........................................................... 61
3.2.3. Điều kiện tiến hành thực nghiệm ............................................................................... 61
3.2.4. Nội dung thực nghiệm ............................................................................................... 63
3.2.5 Tiêu chí đánh giá......................................................................................................... 70
3.2.6 Tiến trình thực nghiệm................................................................................................ 70
3.3. Phân tích kết quả thực nghiệm ...................................................................................... 70
4


3.3.1. So sánh kết quả giữa nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm ở trường mầm non 1-6 Thị xã Tây Ninh – Tỉnh Tây Ninh ....................................................................................... 70
3.3.2. So sánh kết quả giữa nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm ở trường mầm non
Trưng Vương - Huyện Châu Thành - Tây Ninh .................................................................. 71
3.3.3. So sánh khả năng sáng tạo của trẻ 5 – 6 tuổi ở hai trường mầm non 1- 6 và Trưng
Vương sau thực nghiệm ....................................................................................................... 73

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ........................................................................................ 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................................. 78
PHỤ LỤC ........................................................................................................................ 81

5



qua việc thể hiện các vai trong truyện sẽ giúp trẻ hiểu sâu sắc nội dung câu chuyện và
tính cách của từng nhân vật trong truyện.
Ở một số trường mầm non tỉnh Tây Ninh việc tổ chức cho trẻ đóng kịch còn nhiều
hạn chế : Giáo viên chưa có nhiều biện pháp giúp trẻ phát huy khả năng sáng tạo trong
trò chơi đóng kịch, chưa linh hoạt trong việc cho trẻ nhận vai và thể hiện vai. Việc bày
trí sân khấu, đạo cụ, hóa trang rất đơn điệu nên chưa kích thích được sự hứng thú và
sáng tạo của trẻ. Ngoài ra, thời gian dành cho hoạt động đóng kịch rất ít nên giáo viên
không có nhiều thời gian đầu tư đúng mức mà chủ yếu là cho trẻ học thuộc lời thoại và
nói đúng lời thoại của từng nhân vật vì vậy mà trẻ không phát huy được khả năng sáng
tạo trong trò chơi này.
Chính vì lí do trên mà chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài “Biện pháp phát huy khả năng
sáng tạo cho trẻ 5 - 6 tuổi trong trò chơi đóng kịch”.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu và đề xuất một số biện pháp phát huy khả năng sáng tạo cho trẻ 5 – 6
tuổi trong trò chơi đóng kịch.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về biện pháp phát huy khả năng sáng tạo cho trẻ 5 – 6
tuổi trong trò chơi đóng kịch.
3.2. Nghiên cứu thực tiễn về việc sử dụng các biện pháp phát huy khả năng sáng tạo
cho trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi trong trò chơi đóng kịch.
3.3. Đề xuất và thực nghiệm một số biện pháp phát huy khả năng sáng tạo cho trẻ 5
– 6 tuổi trong trò chơi đóng kịch.
4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp phát huy khả năng sáng tạo cho trẻ 5 – 6 tuổi .
4.2. Khách thể nghiên cứu
7


Quá trình tổ chức trò chơi đóng kịch cho trẻ 5 – 6 tuổi ở trường mầm non.

9. Dự kiến cấu trúc luận văn
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
2. Mục đích nghiên cứu
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
5.Giả thuyết nghiên cứu
6. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
7. Phương pháp nghiên cứu
8. Đóng góp của đề tài
Chương 1. Cơ sở lí luận về sáng tạo của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi trong TCĐK.
Chương 2. Thực trạng sử dụng biện pháp phát huy khả năng sáng tạo cho trẻ 5 – 6
tuổi trong TCĐK ở một số trường mầm non tỉnh Tây Ninh.
Chương 3. Một số biện pháp phát huy khả năng sáng tạo cho trẻ 5 – 6 tuổi trong trò
chơi đóng kịch và thực nghiệm

9


CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ SÁNG TẠO CỦA TRẺ MẪU GIÁO
5 – 6 TUỔI TRONG TRÒ CHƠI ĐÓNG KỊCH
1.1. Lịch sử nghiên cứu về sáng tạo
Vào thế kỉ thứ ba, nhà toán học Hy Lạp Papp, ở thành phố Alexendria, người
chính thức đặt nền móng mở đầu cho khoa học về tư duy sáng tạo, đã gọi khoa học này
là Ơristic [ lấy gốc từ Ơrêka] sau đó nhà toán học và triết học nổi tiếng như Descartes,
Leibnitz, Bernard Bolzano đã cố gắng thành lập hệ thống Ơristic.
Theo quan niệm lúc bấy giờ, Ơristic là khoa học về các phương pháp và qui tắc
sáng chế, phát minh trong mọi lĩnh vực như khoa học, kỹ thuật, nghệ thuật, văn học,
chính trị, triết học, toán học…Cách đặt vấn đề khá rộng và trừu tượng này đã làm nản
chí những nhà nghiên cứu kế tiếp trong lĩnh vực tư duy, sáng tạo. Ơristic đã tồn tại đến

về sáng tạo như môi trường sáng tạo, sản phẩm sáng tạo.
Năm 1940, A.Osborn ở Mỹ đã cho ra đời quyển sách đầu tiên về vấn đề sáng tạo.
Theo kinh nghiệm bản thân, sự thành công của ông trong lĩnh vực kinh doanh là nhờ vào
sự phát minh ra phương pháp “ Tập kích não”, đã gây được sự chú ý đặc biệt đối với
những người quan tâm về vấn đề sáng tạo, vì phương pháp này dựa trên cơ sở của hoạt
động sáng tạo.
Mười năm sau đó, William Gardon đã đưa ra phương pháp mới Xinetic, thay thế
cho phương pháp “ Tập kích não”. Phương pháp Xinetic được xem là phương pháp
mạnh nhất trong lĩnh vực phương pháp sáng chế. Tuy nhiên, khả năng của nó bị hạn chế
do nó tách rời khỏi sự nghiên cứu các qui luật phát triển khách quan. Quá trình giải
quyết vấn đề có thể điều khiển được nhưng lại tuyệt đối hóa vai trò to lớn của người chỉ
đạo, do đó kết quả thành công hay thất bại phụ thuộc rất nhiều vào tài năng và kinh
nghiệm của người chỉ đạo. [11,7]
Vấn đề sáng tạo chỉ mới được nghiên cứu có hệ thống khi J.P Guilford, nhà tâm lý
học Mỹ, đã nhấn mạnh đến ý nghĩa của hoạt động sáng tạo và đồng thời khuyến khích
cổ vũ các nhà tâm lý học tham gia nghiên cứu vấn đề này, trong buổi lễ nhậm chức Chủ
tịch Hội tâm lý học Mỹ. Từ đó, vấn đề sáng tạo đã được nghiên cứu phát triển rất nhanh.
11


Một số công trình nghiên cứu về sáng tạo đã được xuất bản như: Holland ( 1959), May (
1961), Mackinon ( 1962), Torrance ( 1965)… đã nghiên cứu bàn về những vấn đề cơ
bản của hoạt động sáng tạo rất hữu ích.
Ngoài ra, các tác giả như Barron, Blom, Getzels, Helmoltz… cũng đã đóng góp
nhiều cho lĩnh vực sáng tạo.
Đối với các nước xã hội chủ nghĩa, vấn đề sáng tạo cũng đã được nghiên cứu dựa
trên nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng. Nhiều cuộc hội nghị, hội thảo đã được
tổ chức vào năm 1960 – 1980 tại Matxcơva, Praha, Budapeest…
Các nhà tâm lý học Liên Xô ( cũ ) đã có nhiều công trình nghiên cứu về sáng tạo
đóng góp cho xã hội, nổi bật như: G.Alsuler, A.N.Luk, V.N.Puskin, B.N.KKedrop, P.A

trong chương trình, nội dung và phương pháp giáo dục, giảng dạy trong nhà trường. Đối
với trẻ lứa tuổi mầm non, nhất là ở độ tuổi 5 – 6 tuổi, việc bồi dưỡng khả năng sáng tạo
của trẻ trong TCĐK là vấn đề mang ý nghĩa thực tiễn cao. Trẻ em hôm nay thế giới ngày
mai. Trẻ em phải được sống trong môi trường, được hướng dẫn, tổ chức các hoạt động
và được thể hiện ước mơ, suy nghĩ của mình một cách sáng tạo. Đó cũng là một đóng
góp nhỏ trong việc góp phần xây dựng thế hệ tương lai cho đất nước.
1.2. Các khái niệm chung về sáng tạo
1.2.1. Những quan điểm khác nhau về sáng tạo

Có nhiều quan điểm khác nhau về sáng tạo.
Theo Freud, “ Sáng tạo cũng giống như giấc mơ hiện hình, là sự tiếp tục và sự
thay thế trò chơi trẻ con cũ” [29, 28].
Nhà phân tâm học Freud đã xem trò chơi và tưởng tượng hiện hình là hai hình
thức biểu hiện của vô thức và những thay đổi của hiện thực đang đến với nghệ thuật. Khi
lý giải về sự sáng tạo của các nhà thơ, Freud viết: “ Thật là không chính đáng nếu nghĩ
rằng đứa bé nhìn vào cái thế giới do nó xây dựng nên một cách không nghiêm túc, nó rút
vào đấy nhiều tinh thần. Cái đối lập với trò chơi không phải là tính nghiêm túc, mà là
hiện thực đứa bé dù rất ham mê song vẫn phân biệt rất rõ cái thế giới do nó xây dựng với
thế giới hiện thực và muốn tìm chổ dựa cho những khách thể và quan hệ được tưởng
13


tượng ra trong những đối tượng sờ mó được và nhìn thấy được của một cuộc sống hiện
thực…và nhà thơ cũng vậy”.[14,9]
Cùng với quan điểm của Freud cho rằng sự sáng tạo như một trò chơi, Theirry
Gaudin trong quyển sách “ chuyện kể thế kỉ 21” có viết: “ Trò chơi là một sự thăm dò
những cái có thể và một sự học tập. Ai không chơi thì người đó đã thu hẹp trường tri
giác và sáng tạo của họ. Họ tự giam hãm vào một sự vì lợi hao mòn sơ cứng và có thể
chết được ”. [14, 9]
Theo quan điểm của nhà vật lý vĩ đại A. Einstein thì sáng tạo là đặt vấn đề, ông

Trong sổ tay tâm lý học, Trần Hiệp và Đỗ Long cho rằng “ Sáng tạo là hoạt động
tạo lập phát hiện những giá trị vật chất và tinh thần. Sáng tạo đòi hỏi cá nhân phải phát
huy năng lực, phải có động cơ, tri thức, kỹ năng và với điều kiện như vậy mới tạo nên
sản phẩm mới, độc đáo, sâu sắc”. [14, 11]
Khi đề cập đến quá trình sáng tạo, Nguyễn Đức Uy cho rằng “ Đó là sự đột khởi
thành hành động của một sản phẩm liên hệ mới mẻ nảy sinh từ sự độc đáo của một cá
nhân một đằng, và những tư liệu biến cố, nhân sự hay những hoàn cảnh của đời người
ấy, đằng khác”. [29, 4]
Theo PGS.TS Nguyễn Huy Tú, trong đề cương bài giảng tâm lý sáng tạo, đã định
nghĩa như sau: “ Sáng tạo thể hiện khi con người đứng trước hoàn cảnh có vấn đề. Quá
trình này là tổ hợp các phẩm chất và năng lực mà nhờ đó con người trên cơ sở kinh
nghiệm của mình, và bằng tư duy độc lập tạo ra được ý tưởng mới, độc đáo, hợp lý trên
bình diện cá nhân hay xã hội. Ở đó người sáng tạo gạt bỏ được các giải pháp truyền
thống để đưa ra những giải pháp mới, độc đáo và thích hợp cho vấn đề đặt ra”. [22, 5]
Tóm lại những nhà nghiên cứu đã đưa ra những quan điểm khác nhau về sự sáng
tạo nhưng đều có chung điểm giống nhau đó là “ cái mới và ý nghĩa xã hội của sản phẩm
sáng tạo”. Mỗi người đã phân tích cái mới dưới nhiều gốc độ khác nhau.
Theo chúng tôi, “ Sáng tạo là một quá trình hoạt động của con người, trong quá
trình đó, bằng những kinh nghiệm sẵn có con người đã tư duy độc lập, biến tưởng tượng,
biến đổi và tạo ra những ý tưởng mới độc đáo phù hợp trên bình diện cá nhân hay xã
hội”.
15


1.2.2. Các quan điểm về cơ sở tâm lý học của sự sáng tạo nghệ thuật

Đại diện cho học thuyết phân tâm, Freud người sáng lập ra học thuyết này đã áp
dụng lý thuyết của mình vào nghiên cứu quá trình sáng tạo nghệ thuật. Trong tác phẩm “
Nhà thơ và tưởng tượng” Freud đi sâu vào phân tích yếu tố vô thức thể hiện trong trò
chơi đóng vai của trẻ nhỏ. Ông cho rằng quá trình sáng tạo nghệ thuật cũng giống như

đồng quan điểm trên, ông cho rằng bất cứ một cảm xúc nào cũng được thể hiện bằng
một loạt những biểu tượng và hình ảnh giả tưởng, chúng dường như là một thứ biểu hiện
cảm xúc. Ông đã gọi mối quan hệ giữa tưởng tượng và cảm xúc là “ quy luật biểu hiện
song hành” Ông viết: “ Bất kỳ một cảm xúc nào cũng được trí tưởng tượng phục vụ...
Chúng ta hoàn toàn có quyền nói rằng, tưởng tượng dường như là biểu hiện thứ hai của
cảm xúc”.
L.X.Vưgốtxki khi nghiên cứu về mối quan hệ tưởng tượng và cảm xúc, phân biệt
sự khác nhau cơ bản giữa cảm xúc nói chung và cảm xúc nghệ thuật nói riêng. Ông cho
rằng cảm xúc nghệ thuật chính là sự hòa nhập mạnh mẽ giữa cảm xúc và tưởng tượng,
cảm xúc nghệ thuật thật ra vẫn là cảm xúc chung nhưng có sự hòa nhập của tưởng tượng
nên nó phù hợp với sáng tạo nghệ thuật.
Tóm lại khi bàn về cơ sở của hoạt động sáng tạo nghệ thuật có nhiều quan điểm
khác nhau: Các nhà phân tâm học quan niệm nguồn gốc của sáng tạo nghệ thuật là sự
dồn nén bản năng tình dục của con người, vì không được thỏa mãn nên họ phải tưởng
tượng và thăng hoa. Có trường phái cho rằng cơ sở của sáng tạo nghệ thuật là tư duy,
ngược lại có trường phái lại đặt nặng vấn đề cảm xúc... Tuy vậy không ai có thể phủ
định vai trò của tưởng tượng trong sáng tạo nghệ thuật.
Theo Vưgốtxki “ Hoạt động sáng tạo dựa trên năng lực phối hợp của bộ não
chúng ta được khoa tâm lý học gọi là tưởng tượng” [30, 8]. Chúng ta thường quan niệm
tưởng tượng là những gì không có thực, không thực tế nhưng ông đã khẳng định: “ Trí
tưởng tượng là cơ sở của bất cứ hoạt động sáng tạo nào, biểu hiện hoàn toàn như nhau
trong mọi phương diện của đời sống văn hóa, nó làm cho mọi sáng tạo nghệ thuật, khoa
học và kỹ thuật có khả năng thực hiện” [30, 9]. Như vậy mọi giá trị vật chất và tinh thần
17


trong thế giới khách quan đều do trí tuệ và công sức của con người tạo nên, đều là sản
phẩm của tưởng tượng. Từ đó Vưgốtxki đưa ra định nghĩa “ Tưởng tượng là sự tái hiện
những ấn tượng hoặc hành động đã có trong kinh nghiệm và tạo nên những hình tượng
hoặc hành động mới” [30,13]. P.A.Ruđich trong tâm lý học viết “ Tưởng tượng là một

Do đó sự sáng tạo cuả học sinh thường không mang lại cái mới cho toàn xã hội
nhưng hoạt động sáng tạo này có ý nghĩa xã hội rất lớn vì ở đó nhân cách trẻ được rèn
luyện để trở thành những người sáng tạo sau này cho xã hội.
+ Tính độc lập trong tư duy và hành động là đặc trưng thứ hai của sáng tạo.
Chính tư duy độc lập làm tiền đề nảy sinh những ý tưởng mới, phương pháp mới, giải
pháp mới. Điều kiện quan trọng để phát triển tính độc lập tư duy là việc đặt trẻ em và
người lớn trước vấn đề mà họ phải đi đến đích bằng con đường giải quyết vấn đề đó.
Theo Raja Roy Singh: “ Nêu vấn đề và giải quyết vấn đề sẽ trở thành công việc
chuyển giao tẻ nhạt nếu như vấn đề đó được chuyển tới người học chứ không phải người
học phát hiện và nêu ra” [14, 16]. Khi đi vào vấn đề, nếu họ thử nghiệm độc lập để tìm
ra giải pháp và càng khác lạ với thông thường thì càng được đánh giá là có tính sáng tạo.
Người sáng tạo có khuynh hướng tránh lặp lại cách giải quyết cũ, họ hoài nghi,
muốn từ bỏ cách truyền thống, có khi từ bỏ cả mục đích truyền thống. Họ thường đưa ra
các ý tưởng mới, cách thức mới để thực hiện ý tưởng độc đáo, mới lạ của mình.
+ Tính tối lợi được thể hiện trong giá trị sản phẩm mới. Quá trình sáng tạo tạo ra
sản phẩm mới luôn có mối liên quan đến hiện thực. Sáng tạo không phải là sự đoạn tuyệt
của hiện thực mà là sự phản ánh của hiện thực tối đa nhưng trong tình huống mới, chất
lượng mới và mục đích mới.
Người ta thường quan niệm rằng sáng tạo bao giờ cũng nhằm vươn tới việc tạo ra
cái mới, độc đáo, tốt hơn, có lợi hơn cho sự phát triển của xã hội. Điều này có vẻ trái
ngược khi người ta nghiên cứu các sản phẩm sáng tạo của trẻ: không độc đáo hơn,
không đẹp hơn, không lợi hơn nhưng ở đây chúng ta đã tập cho trẻ học cách sáng tạo, để
thể hiện nhu cầu tự nhiên, vốn có của trẻ không bị phụ thuộc vào một công thức, một
giải pháp, một đường mòn có sẵn. Chúng ta giúp trẻ trở thành người sáng tạo. Lợi ích
này chính bản thân của trẻ cũng chưa ý thức được nhưng nó mang một ý nghĩa xã hội to
19


lớn. Chúng ta đã tạo cho trẻ được sự thoải mái, thỏa thích thực hiện những điều mà trẻ
suy nghĩ, tưởng tượng ra.

tạo, vì vậy một số tác giả đã loại bỏ thuật ngữ “sáng tạo của trẻ” thay bằng thuật ngữ
“tiền sáng tạo” để chỉ hoạt động sáng tạo của trẻ em. Hiện nay các nhà tâm lý học quan
tâm nghiên cứu phân biệt hai loại sản phẩm sáng tạo như sau:
+ Loại 1: Sản phẩm sáng tạo có giá trị khách quan, thuộc sản phẩm mới có ý
nghĩa xã hội, bao gồm những sáng kiến, những phát minh, những khuynh hướng, trường
phái mà trước đó chưa có.
Đây là sản phẩm sáng tạo mới góp phần đưa khoa học, kỹ thuật, nghệ thuật, văn
hóa phát triển. Đạt hai chỉ số: mới và có ý nghĩa.
+ Loại 2: Sản phẩm có giá trị chủ quan, chưa mang đến cho xã hội có giá trị mới
nhưng chúng có ý nghĩa đáng kể trong sự phát triển nhân cách, sự phát triển nhận thức,
trí tuệ, tình cảm... của chính cá nhân tạo ra sản phẩm đó.
Qua 2 loại sản phẩm trên, sản phẩm loại 1 dành cho người lớn nó hỗ trợ cho con
người và có ý nghĩa xã hội. Loại 2 tuy chưa mang đến giá trị cho con người trong cuộc
sống nhưng nó có ý nghĩa đối với trẻ trong việc góp phần phát triển toàn diện nhân cách
trẻ.
1.2.5. Các cấp độ của sáng tạo

Sự phân biệt các cấp độ trong tâm lý học có ý nghĩa rất lớn trong việc giáo dục và
đào tạo con người. Theo nhà tâm lý học người Mỹ Jean Taylor có thể phân ra năm cấp
độ khác nhau như sau:
1. Sáng tạo biểu hiện là cơ bản nhất của sáng tạo, không đòi hỏi tính độc đáo hay
kỹ năng quan trọng nào. Đặc trưng của cấp độ sáng tạo này là tính bộc phát “ hứng
khởi” và sự tự do khoáng đạt.
2. Sáng tạo chế tạo là bậc cao hơn sáng tạo biểu hiện. Nó đòi hỏi kỹ năng nhất
định ( xử lý thông tin hoặc kỹ năng kỹ thuật…) để thể hiện rõ ràng, chính xác các ý kiến
của cá nhân. Ở cấp độ này tính tự do, hứng khởi bộc phát đã nhường bước cho các qui
tắc trong khi thể hiện cái tôi của người sáng tạo.
21



Theo N.Đ. 51/CP của H.Đ.C.P, trong giáo dục chúng ta phải “ lấy trẻ làm trung
tâm”, phải theo sát từng đối tượng, phát huy mọi tiềm năng và khuyến khích trẻ bộc lộ
khả năng trong mọi lĩnh vực hoạt động một cách tối đa nhất.
1.2.6. Môi trường sáng tạo

Môi trường là vườn ươm các mầm non “sáng tạo”. Để tồn tại và phát triển con người
phải thích ứng với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội.
Một môi trường tốt sẽ có tác dụng làm tăng cường củng cố và phát triển các thuộc
tính tâm lý cá nhân. Ngược lại nếu trong một môi trường xấu sẽ có ảnh hưởng không tốt
đến sự phát triển các thuộc tính tâm lý cá nhân và kìm hãm hoạt động sáng tạo.
Môi trường tự nhiên đảm bảo cho con người có thức ăn, nước uống, không khí và
cung cấp cho con người nhiều tài nguyên khác, ngoài ra nó còn có sức hấp dẫn con người
bởi những điều kì diệu, vẻ đẹp của thiên nhiên, con sông, dòng suối, mặt hồ yên lặng, dưới
ánh nắng vườn hoa tươi đẹp, màu sắc của hoa, hương thơm của quả, tiếng suối róc rách,
tiếng chim líu lo…thiên nhiên là nguồn thẩm mỹ vô tận. Càng gần gũi, tiếp xúc với thiên
nhiên, đời sống cảm xúc con người càng dạt dào, phát triển, tạo điều kiện dễ dàng cho con
người sáng tạo. Trong một môi trường tốt có đủ nước, không khí, ánh sáng trên một mảnh
đất phì nhiêu màu mỡ chắc chắn sẽ có cây trái bốn mùa, con người khỏe mạnh. Và khi khỏe
mạnh con người ta cảm thấy phấn chấn hoạt động hơn, dễ đương đầu với khó khăn hơn, từ
đó những ý tưởng sáng tạo sẽ nảy sinh.
Ngoài môi trường tự nhiên, môi trường xã hội là điều kiện không thể thiếu để hỗ trợ
cá nhân sáng tạo. Gia đình là môi trường xã hội đầu tiên có ảnh hưởng lớn tới sự phát triển
năng lực nói chung và năng lực sáng tạo nói riêng. Nếu gia đình hạnh phúc thì đó là điều
kiện thuận lợi để trẻ phát triển và bộc lộ khả năng sáng tạo. Một công trình nghiên cứu được
thực hiện tại trường đại học Chicagô (Mỹ), cho thấy trí thông minh sáng tạo được phát triển
một cách tốt đẹp trong các gia đình biết động viên con em học tập và bố mẹ là chỗ dựa tình
cảm của con cái. Theo tác giả Mihaly (Mỹ), một gia đình biết nâng đỡ và khuyến khích trẻ
sẽ giúp trẻ phát triển tài năng. Kết quả nhiều công trình nghiên cứu khẳng định: không khí
23


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status