PHÁT TRIỂN KHẢ NĂNG SÁNG tạo CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI TRONG HOẠT ĐỘNG dạy TRẺ sắp xếp THEO QUY LUẬT - Pdf 41

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

NGÔ THỊ PHƯƠNG THẢO

PHÁT TRIỂN KHẢ NĂNG SÁNG TẠO CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI
TRONG HOẠT ĐỘNG DẠY TRẺ SẮP XẾP THEO QUY LUẬT

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

HÀ NỘI - 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

NGÔ THỊ PHƯƠNG THẢO

PHÁT TRIỂN KHẢ NĂNG SÁNG TẠO CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI
TRONG HOẠT ĐỘNG DẠY TRẺ SẮP XẾP THEO QUY LUẬT
Chuyên ngành: Giáo dục học mầm non
Mã số: 60.14.01.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đỗ Thị Minh Liên

HÀ NỘI - 2016


LỜI CẢM ƠN

8
9
10
11

Chữ viết tắt
HTBTTSD
LQVT
LQMTXQ
SL
TBC
TN
ĐC
TTN
STN

XL

Giải nghĩa
Hình thành biểu tượng toán sơ đẳng
Làm quen với toán
Làm quen môi trường xung quanh
Số lượng
Trung bình cộng
Thực nghiệm
Đối chứng
Trước thực nghiệm
Sau thực nghiệm
Hoạt động
Xếp loại

năng quan sát, phán đoán; góp phần thực hiện mục tiêu chung là phát triển
toàn diện nhân cách cho trẻ. Trong quá trình hoạt động, trẻ nhận ra và nắm bắt
được quy luật sắp xếp của các đối tượng cũng như các quy luật phong phú
trong cuộc sống. Trên cơ sở đó, trẻ có thể áp dụng nhằm giải quyết tình huống
thực tế, nhờ đó việc học trở nên thú vị và có ý nghĩa hơn; phát triển các kỹ
năng toán học, tư duy logic và bước đầu học được cách thiết lập trật tự cuộc
sống của mình.
Trên thực tiễn giáo dục mầm non, các giáo viên đã quan tâm đến việc
phát triển khả năng sáng tạo cho trẻ 5 – 6 tuổi trong các hoạt động giáo dục
1


nói chung và hoạt động dạy trẻ sắp xếp theo quy luật nói riêng. Tuy nhiên
hiệu quả vẫn chưa thực sự cao do các biện pháp giáo viên sử dụng nhằm phát
triển khả năng sáng tạo cho trẻ còn mang tính rập khuôn, máy móc; hạn chế
trong cách xây dựng môi trường hoạt động cho trẻ...
Chính vì những lý do trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài “Phát
triển khả năng sáng tạo cho trẻ 5 – 6 tuổi trong hoạt động dạy trẻ sắp xếp
theo quy luật” để nghiên cứu các vấn đề lý luận, tìm hiểu thực trạng và đề
xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả phát triển khả năng sáng tạo
cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động này.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và thực tiễn, đề xuất một số biện pháp
phát triển khả năng sáng tạo cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi trong hoạt động dạy
trẻ sắp xếp theo quy luật, góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục, phát triển trí
tuệ nói riêng và phát triển toàn diện nhân cách cho trẻ nói chung.
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình phát triển khả năng sáng tạo cho trẻ 5 – 6 tuổi trong hoạt
động dạy trẻ sắp xếp theo quy luật.

tài liệu liên quan nhằm xây dựng cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phương pháp điều tra
Chúng tôi xây dựng các phiếu điều tra nhằm tìm hiểu thực trạng nhận
thức và việc sử dụng các biện pháp để phát triển khả năng sáng tạo cho trẻ 5 –
6 tuổi trong hoạt động dạy trẻ sắp xếp theo quy luật tại một số trường mầm
non.
7.2.2. Phương pháp quan sát
- Chúng tôi tiến hành dự giờ, quan sát, ghi chép lại các biện pháp
sư phạm mà giáo viên sử dụng để phát triển khả năng sáng tạo cho trẻ 5 –
3


6 tuổi trong hoạt động dạy trẻ sắp xếp theo quy luật trong hoạt động làm
quen với toán.
- Chúng tôi quan sát các biểu hiện khả năng sáng tạo của trẻ 5 – 6 tuổi
trong một số hoạt động sắp xếp theo quy luật; quan sát, ghi chép quá trình trẻ
thực hiện các bài tập khảo sát trong phạm vi đề tài nhằm đánh giá, phân tích
đặc điểm, mức độ phát triển khả năng sáng tạo của trẻ trong hoạt động sắp
xếp theo quy luật.
7.2.3. Phương pháp trao đổi, đàm thoại
- Chúng tôi tiến hành trao đổi, đàm thoại trực tiếp với một số giáo
viên phụ trách lớp 5 – 6 tuổi tại một số trường mầm non nhằm tìm hiểu kinh
nghiệm, ý kiến, các khó khăn, vướng mắc cũng như nhu cầu, nguyện vọng
của giáo viên trong quá trình thực hiện nhiệm vụ phát triển khả năng sáng tạo
cho trẻ 5 – 6 tuổi trong hoạt động dạy trẻ sắp xếp theo quy luật.
- Chúng tôi trao đổi, đàm thoại cùng trẻ để tìm hiểu ý tưởng, nhu cầu,
khả năng và thái độ của trẻ khi tham gia hoạt động sắp xếp theo quy luật.
7.2.4. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Chúng tôi tiến hành thực nghiệm sư phạm tại một số nhóm lớp để


Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN KHẢ NĂNG SÁNG TẠO
CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI TRONG HOẠT ĐỘNG DẠY TRẺ
5


SẮP XẾP THEO QUY LUẬT
1.1 Sơ lược về lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Các công trình nghiên cứu về tính sáng tạo của các nhà tâm lý – giáo
dục nước ngoài
Sáng tạo là một vấn đề được các nhà khoa học ở nhiều nước và nhiều
lĩnh vực quan tâm nghiên cứu đề cập đến ở nhiều góc độ khác nhau. Trước
đây khi nghiên cứu vấn đề sáng tạo, người ta chỉ tập trung mô tả, giải thích
hoạt động sáng tạo dựa trên cơ sở tiểu sử, hồi ký, các tác phẩm văn học mang
tính tự thuật cá nhân chứ chưa đi sâu nghiên cứu quy luật, bản chất của hoạt
động sáng tạo. Trong khi đó, sáng tạo không chỉ có ở những tác phẩm vĩ đại
của những thiên tài mà ở mỗi cá nhân, mỗi lứa tuổi đều tiềm ẩn những khả
năng sáng tạo nhất định.
Ở mỗi giai đoạn lịch sử, mỗi nền văn minh nhân loại thì hoạt động sáng
tạo của con người đã tạo ra các giá trị vật chất, tinh thần, các thành tựu về mọi
mặt và tạo ra nền văn minh nhân loại. Do vậy có thể nói hoạt động sáng tạo
luôn gắn liền với sự phát triển của lịch sử xã hội loài người.
Vào thế kỷ thứ III, Pappus của Alaxandria - nhà toán học vĩ đại của Hy
Lạp cổ đại, người chính thức đặt nền móng khởi đầu cho khoa học về tư duy
sáng tạo, gọi khoa học này là Heuristics (Ơristic). Heuristics theo cách hiểu
lúc đó là khoa học về các phương pháp và quy tắc sáng chế, phát minh trong
mọi lĩnh vực như: khoa học kĩ thuật, nghệ thuật, văn học, chính trị, toán học,
quân sự… Sau Pappus, các nhà toán học và triết học nổi tiếng như Descartes,
Leibnitz... đã cố gắng xây dựng và phát triển Heuristics một cách hệ thống.

bằng cách nêu các ý tưởng tập trung trên vấn đề, từ đó, rút ra rất nhiều đáp án
căn bản cho nó.
Những năm 1950 của thế kỷ XX, các công trình nghiên cứu về sáng tạo
bắt đầu nở rộ và có hệ thống. Người có công lớn là nhà tâm lý học người Mỹ
7


J.P.Guilford. Ông đưa ra mô hình phân định cấu tạo trí tuệ gồm 2 khối cơ bản:
trí thông minh và sáng tạo. Ông là người đầu tiên đưa ra khái niệm: tư duy hội
tụ và tư duy phân kỳ. Trong đó, tư duy hội tụ (convergent thinking) là kiểu tư
duy theo một chiều định sẵn, rập khuôn; tư duy phân kỳ (divergent thinking)
là kiểu tu duy rộng ra, tìm ra nhiều lời giải, nhiều phương án vượt ra khỏi
khuôn khổ ban đầu. Đây là kiểu tư duy cả người sáng tạo. Ông xem sáng tạo
là một thuộc tính của tư duy, là một phẩm chất của quá trình tư duy và nhấn
mạnh ý nghĩa của hoạt động sáng tạo, thậm chí sáng tạo là chỉ báo quan trọng
hơn là trí thông minh về năng khiếu, tiềm năng của một người. Ông cho rằng:
Không phải người có chỉ số IQ cao có nghĩa là có khả năng sáng tạo cao,
người có chỉ số IQ thấp thì có khả năng sáng tạo thấp. Sáng tạo không giới
hạn ở các thiên tài mà có ở tất cả mọi người với những mức độ khác nhau.
Ông là người đi tiên phong trong nghiên cứu hiện đại về tâm lý của sự sáng
tạo. Năm 1967, ông xây dựng một số thí nghiệm để đo lường tính sáng tạo.
Ông đề cao ý nghĩa của hoạt động sáng tạo và khuyến khích các nhà tâm lý
học tham gia nghiên cứu hoạt động này.
Ở giai đoạn này, tiếp tục có những nghiên cứu vấn đề sáng tạo với các
tên tuổi lớn như: Holland (1959), May (1961), D.W.Mackinnon (1962),
Yahamoto Kaoru (1963), E.P.Torrance (1962, 1963, 1965, 1979, 1995)… và
một số tác giả người Mỹ như: Barron (1952, 1955, 1981, 1995), Getzels
(1962, 1975)… Nội dung của các nghiên cứu này chủ yếu đề cập đến một số
vấn đề cơ bản của hoạt động sáng tạo như: tiêu chuẩn cơ bản của hoạt động
sáng tạo, sự khác biệt giữa sáng tạo và không sáng tạo, bản chất và quy luật

Nhìn chung, các nhà tâm lý học Liên Xô đã đạt được nhiều kết quả
trong việc nghiên cứu về vấn đề sáng tạo, quá trình sáng tạo, nhân cách sáng
tạo, năng lực và phát triển năng lực sáng tạo.

9


Bên cạnh những nghiên cứu về tính sáng tạo của con người nói chung,
có nhiều nhà khoa học còn đi sâu vào nghiên cứu khả năng sáng tạo của trẻ
em. Bởi muốn cho đứa trẻ trở thành nhà sáng chế trong tương lai thì nó phải
được đào tạo từ khi ngồi trên ghế nhà trường.
Trong cuốn "Những khám phá về tư duy sáng tạo ở đầu tuổi học"
(1963), tác giả E. P. Torrance cho rằng: Tư duy sáng tạo có sự độc lập nhất
định với trí tuệ. Những trẻ rất sáng tạo cũng thường rất thông minh, song
những trẻ rất thông minh thì lại ít sáng tạo. Sáng tạo là quá trình xác định giả
thuyết, nghiên cứu chúng và tìm ra kết quả. Theo ông, sáng tạo là một quá
trình, do vậy sáng tạo bao giờ cũng có mở đầu (xác định giả thuyết, ý tưởng
sáng tạo xuất hiện), diễn biến (nghiên cứu) và kết thúc (tạo ra kết quả). Trong
quá trình sáng tạo con người phải cân nhắc, đánh giá những điều kiện khách
quan, chủ quan, khám phá tìm tòi ra những giả thuyết rồi thử đi thử lại (kiểm
tra các giả thuyết) và cuối cùng trực tiếp hay gián tiếp tìm ra kết quả. Theo
ông, để đo tính sáng tạo cần căn cứ vào bốn thuộc tính (chỉ số) của nó như:
thuần thục (fluency), linh hoạt (flexibility), tỉ mỉ (elaboration), độc đáo
(originality). Ông cho rằng bất kể con người nào cũng có tiềm năng sáng tạo,
chỉ ở mức độ khác nhau mà thôi. Khi có điều kiện thì tiềm năng ấy được bộc
lộ ra một cách thuận lợi và phát triển tốt.
Theo tác giả Omizumi Kagayaki trong cuốn "Phương pháp luyện trí
não" (1991), để có tư duy sáng tạo cần biết gạt bỏ những hiểu biết về kiến
thức thông thường và những kinh nghiệm trong quá khứ để suy nghĩ khỏi bị
lệ thuộc, từ đó làm cho tính sáng tạo trong tư duy không hạn chế. Con người

thường giữ bản sắc riêng cho mình. Hai ông cũng đã cố gắng đo mối quan hệ
giữa tư duy sáng tạo và trí thông minh, chỉ ra rằng mối tương quan giữa
chúng không cao. Cùng chung với quan điểm này M. C. Guires (1963) và

11


Flesohers (1963) cho rằng, những trẻ có chỉ số thông minh cao thường có kiểu
tư duy không thích hợp với cách tư duy sáng tạo.
1.1.2 Các công trình nghiên cứu về tính sáng tạo ở Việt Nam
Ở Việt Nam, hoạt động liên quan đến khoa học và tư duy sáng tạo được
bắt đầu quan tâm và phát triển vào những năm 1970. Các hoạt động này ban
đầu mang tính chất tự phát, dựa trên nhiệt tình, long say mê, tìm tòi và sáng
kiến của một số cá nhân, đoàn thể và cơ quan, các nghiên cứu về sáng chế
cũng không nhiều.
Tác giả Đức Uy trong cuốn "Tâm lý học sáng tạo" (1999) không chỉ đi
vào chi tiết cấu trúc, các thành phần, yếu tố của tư duy sáng tạo mà hệ thống
hóa các thành tựu về tâm lý học sáng tạo, giúp người đọc hiểu thế nào là sáng
tạo, vì sao con người vốn có bản tính đổi mới, sáng tạo và làm gì để phát hiện
và tăng cường năng lực sáng tạo của cá nhân và cộng đồng.
Trong cuốn "Tâm lý học sáng tạo" (1996), tác giả Nguyễn Huy Tú cho
rằng: sáng tạo thể hiện khi con người đứng trước hoàn cảnh có vấn đề. Quá
trình này là tổ hợp các phẩm chất và năng lực mà nhờ đó con người trên cơ sở
kinh nghiệm của mình và bằng tư duy độc lập tạo ra được ý tưởng mới, độc
đaó, hợp lý trên bình diện cá nhân hay xã hội. Ở đó người sáng tạo gạt bỏ
được các giải pháp truyền thống để đưa ra những giải pháp mới độc đáo và
thích hợp cho vấn đề đặt ra. Cuốn sách cũng tập trung vào các vấn đề chung
của sáng tạo như: thế nào là sáng tạo, quá trình sáng tạo, sản phẩm sáng tạo.
Theo Nguyễn Cảnh Toàn, để tạo ra những con người năng động sáng
tạo, cần có phương pháp dạy học cải tiến, đặt trọng tâm vào rèn luyện khả

tạo nói chung của độ tuổi này, đề tài "Phát triển khả năng sáng tạo cho trẻ 5 6 tuổi trong hoạt động dạy trẻ sắp xếp theo quy luật" sẽ còn góp phần bổ
sung, hệ thống hóa lại các công trình lý luận nghiên cứu về sự phát triển khả
14


năng sáng tạo của trẻ 5 - 6 tuổi nói riêng, trẻ mẫu giáo nói chung và hướng
đến nhiệm vụ cụ thể là đề xuất một số biện pháp nhằm phát triển khả năng
sáng tạo cho trẻ 5 - 6 tuổi trong hoạt động.
1.2 Cơ sở lý luận của việc phát triển khả năng sáng tạo cho trẻ 5 – 6 tuổi
trong hoạt động dạy trẻ sắp xếp theo quy luật
1.2.1 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1.1 Phát triển
Theo từ điển Tiếng Việt, khái niệm "phát triển" được hiểu là "Sự vận
động tiến triển theo chiều hướng tăng lên", là "Biến đổi hoặc làm cho biến đổi
từ ít đến nhiều, là sự vận động từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp".
Theo quan điểm biện chứng về sự phát triển: phát triển là một phạm
trù triết học dùng để khái quát quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ
kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn. Phát triển là quá trình tự thân của mọi sự
vật, hiện tượng. Do vậy, phát triển là một quá trình khách quan, độc lập với ý
thức của con người.
Cũng theo quan điểm duy vật biện chứng, nguồn gốc của sự phát triển
nằm ngay bên trong bản thân sự vật, do mâu thuẫn của sự vật quy định. Sự
phát triển là quá trình thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất cũng như
cấu trúc của sự vật, hiện tượng, là quá trình nảy sinh cái mới, hủy diệt cái cũ
do sự đấu tranh giữa các mặt đối lập nằm ngay trong bản thân sự vật, hiện
tượng. Phát triển còn là sự biểu hiện hàng loạt sự biến đổi kế tiếp của sự vật,
hiện tượng qua các giai đoạn khác nhau.
Theo quan điểm duy vật biện chứng này thì sự phát triển mọi mặt của
đứa trẻ chỉ xảy ra khi tạo cho nó cái mới chưa hề có trước đó. Đó là cái mới
về chất lượng khiến cho cái cũ vốn của của nó phải được cấu tạo lại chứ

xem là khả năng cao với trẻ nhỏ có thể sẽ là có sự khác biệt nếu đặt trong địa
vị của người lớn.
16


Thứ tư, khả năng chỉ phát triển nếu như nó được nuôi dưỡng thông
qua các cơ hội hành động và sự hỗ trợ.
Ở đây, chúng tôi hoàn toàn đồng ý với quan điểm xem xét khả năng
như một năng lực của cá nhân để thực hiện một nhiệm vụ nào đó về cả thể
chất, tinh thần, vật chất.
1.2.1.3 Sáng tạo
Có nhiều quan niệm khác nhau về sáng tạo như:
Quan niệm duy tâm của Platon xem xét sự sáng tạo là trạng thái tâm
linh quyến rũ. Becxong lại nhận định đó là trực giác thần bí. Trong tâm lý học
duy tâm, sáng tạo được xem là một quá trình không có ý thức, trong đó yếu tố
ngẫu nhiên đóng vai trò quan trọng.
Theo Từ điển Tiếng Việt, sáng tạo được hiểu là việc làm ra cái mới
chưa ai làm, là việc tìm tòi làm cho tốt hơn mà không bị gò bó, có đầu óc sáng
tạo. Theo cách hiểu này, sáng tạo được nhìn nhận theo cách bao trùm hơn,
sáng tạo không chỉ là tạo ra cái mới nhất chưa từng có, mới hoàn toàn mà còn
có thể là cái tìm tòi, biến đổi và phát triển trên cơ sở cái đã có nhưng tốt hơn.
Theo Từ điển triết học, sáng tạo là quá trình hoạt động của con người
tạo ra những giá trị vật chất, tinh thần, mới về chất. Các loại hình sáng tạo
được xác định bởi đặc trưng nghề nghiệp như khoa học, kỹ thuật, văn học,
nghệ thuật, quân sự… Có thể nói sáng tọa có mặt trong mọi lĩnh vực của thế
giới vật chất và tinh thần".
Theo L. X. Vugotxki (Nga) cho rằng: "Hoạt động sáng tạo là hoạt
động tạo ra được một cái gì mới, không kể cái được tạo ra là một vật thể nào
đó của thế giới bên ngoài hay một cấu tạo nào đó của trí tuệ hoặc tình cảm và
biểu lộ trong bản thân con người". Như vậy, L.X.Vugotxki đã đưa ra quan

giới vô sinh và thế giới hữu sinh. Từ khi xuất hiện loài người, hình thành nên
xã hội loài người, sáng tạo là điều kiện thiết yếu để phát triển vật chất, hình
18


thành những hình thái mới của vật chất. Cùng với sự xuất hiện của chúng thì
các hình thức sáng tạo cũng thay đổi.
Tác giả Nguyễn Đức Uy cho rằng: "Sáng tạo là sự đột khởi thành
hành động của một sản phẩm liện hệ mới mẻ, náy sinh từ sự độc đáo của cá
nhân và những tư liệu, biến cố, nhân sự, hay những hoàn cảnh của đời người
ấy". Quan niệm này cho rằng không có sự phân biệt về sáng tạo, nghĩa là sáng
tạo dù ít dù nhiều đều là sáng tạo.
Tác giả Nguyễn Cảnh Toàn cho rằng: "Sáng tạo có nghĩa là tìm ra cái
mới, cách giải quyết mới, không bị gò bó, phụ thuộc vào cái có sẵn. Giá trị
mới đó có ích hay có hại là tùy theo quan điểm của người sử dụng và đối
tượng nhận hiệu quả của việc sử dụng".
Tác giả Phan Dũng khi bàn về "Sáng tạo và đổi mới" đã đưa ra khái
niệm về sáng tạo như sau: "Sáng tạo là hoạt động tạo ra bất kỳ cái gì có đồng
thời tính mới và tính lợi ích".
Tác giả Nguyễn Huy Tú thì "Sáng tạo thể hiện khi con người đứng
trước hoàn cảnh có vấn đề. Quá trình này là tổ hợp các phẩm chất và năng lực
mà nhờ đó con người trên cơ sở kinh nghiệm của mình, và bằng tư duy độc
lập tạo ra ý tưởng mới, độc đáo, hợp lý trên bình diện cá nhân hay xã hội".
Nhìn chung các quan niệm của các nhà nghiên cứu giải thích về sáng
tạo ở nhiều góc độ khác nhau nhưng đều thống nhất cho rằng: Sáng tạo là một
thuộc tính, một phẩm chất trí tuệ đặc biệt của con người; hoạt động sáng tạo
diễn ra mọi lúc, mọi nơi, mọi lĩnh vực; bản chất của sáng tạo là con người tìm
ra cái mới, cái độc đáo và có giá trị xã hội. Có tác giả quan tâm đến cái mới
của sản phẩm hoạt động, có tác giả lại quan tâm đến cách thức, đến quá trình
tạo ra cái mới đó… nhưng hầu hết các tác giả đều nhấn mạnh ý nghĩa của hoạt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status