Biện pháp phát triển khả năng sáng tạo cho trẻ mẫu giáo 5 6 tuổi tại góc tạo hình - Pdf 49

LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng cảm ơn trường Đại học Quảng Bình cùng toàn thể các giảng
viên trong khoa Sư phạm Tiểu học - Mầm non đã trực tiếp hướng dẫn cho tôi trong
thời gian học tập và nghiên cứu tại trường.
Xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến giảng viên hướng dẫn đã tận tình
hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện, nghiên cứu và hoàn thành khoá luận tốt
nghiệp.
Xin chân thành cảm ơn tập thể cô và cháu trường Mầm non Hoa Hồng - Thành
phố Đồng Hới đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong công tác nghiên cứu.
Bước đầu làm công tác nghiên cứu khoa học nên không tránh khỏi những thiếu
sót nhất định, rất mong nhận được ý kiến đóng góp của quý thầy cô, bạn bè để khoá
luận được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Đồng Hới, tháng 5 năm 2018
Sinh viên: Phạm Thị Hà


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và
kết quả nghiên cứu nêu trong khóa luận là trung thực và chưa từng được công
bố trong bất kỳ một công trình khác.
Quảng Bình, tháng 5 năm 2017
Tác giả khóa luận

Phạm Thị Hà


MỤC LỤC
A. PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................................ 1
1. Lý do chọn đề tài ......................................................................................................... 1
2. Mục đích nghiên cứu ...................................................................................................2

2.1. Vài nét về trường Mầm non Hoa Hồng - Tp Đồng Hới .........................................25
2.2. Thực trạng hoạt động sáng tạo của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi tại góc tạo hình. ..............25


2.2.1. Mục đích nghiên cứu thực trạng ........................................................................................ 25
2.2.2. Khách thể khảo sát.............................................................................................................. 26
2.2.3. Nội dung khảo sát ............................................................................................................... 26
2.2.4. Phương pháp nghiên cứu thực trạng ................................................................................. 26
2.2.5. Phân tích kết quả nghiên cứu thực trạng ........................................................................... 27
2.2.6. Thực trạng những biểu hiện sáng tạo của trẻ MG 5 - 6 tuổi tại góc tạo hình. ................ 34
Tiểu kết chương 2 ..........................................................................................................43
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN KHẢ NĂNG SÁNG TẠO CHO
TRẺ MẪU GIÁO 5 - 6 TUỔI TẠI GÓC TẠO HÌNH ..................................................44
3.1. Đề xuất một số biện pháp phát triển khả năng tạo hình cho trẻ. ............................44
3.1.1. Các nguyên tắc khi xây dựng biện pháp. .......................................................................... 44
3.1.2. Hệ thống các biện pháp giúp phát huy tính sáng tạo cho trẻ MG 5 - 6 tuổi tại góc tạo
hình................................................................................................................................................. 45
3.2. Tổ chức thử nghiệm các biện pháp .........................................................................55
3.2.1. Mục đích thử nghiệm ......................................................................................................... 55
3.2.2. Quy trình thử nghiệm ......................................................................................................... 55
3.2.3. Điều kiện tiến hành TN ...................................................................................................... 56
3.2.4. Cách đánh giá kết quả TN .................................................................................................. 56
3.2.5. Kết quả TN.......................................................................................................................... 56
Tiểu kết chương 3 ..........................................................................................................64
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ SƯ PHẠM ....................................................................65
1. Kết luận chung ...........................................................................................................65
2. Kiến nghị sư phạm .....................................................................................................66
TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................................................68



Biểu đồ 3.4: Mức độ biểu hiện tính sáng tạo của trẻ MG 5 - 6 tuổi nhóm ĐC và TN sau khi
TN Tính theo nội dung)........................................................................................................... 62


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Viết tắt

TT

Viết đầy đủ

1

GDMN

Giáo dục mầm non

2

GVMN

Giáo viên mầm non

3

HĐTH

Hoạt động tạo hình

4


ĐC

Đối chứng


A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hoạt động tạo hình HĐTH ở lứa tuổi mầm non là một nhu cầu mang tính sáng
tạo, phản ánh quá trình quan sát, tri giác, khám phá thế giới xung quanh. Nó có một vị
trí quan trọng trong việc phát triển nhân cách toàn diện ở trẻ em và được coi là một
trong những con đường cơ bản để tiến hành giáo dục thẩm mỹ, hình thành nhân cách
toàn diện cho trẻ.
Giáo dục mầm non GDMN là bước đầu tiên của quá trình đào tào nhân cách
con người mới Việt Nam. Theo điều 22 luật giáo dục năm 2005 của Việt Nam, mục
tiêu của giáo dục mầm non là “Giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ,
thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào lớp
một”.
Trong đó “Hoạt động sáng tạo có ảnh hưởng to lớn không ch đến sự tiến bộ khoa
học kỹ thuật, mà còn đến toàn xã hội nói chung, và dân tộc nào biết nhận ra được nhân
cách sáng tạo một cách tốt nhất, biết phát triển họ và biết tạo ra được một cách tốt nhất
cho họ những điều kiện thuận lợi nhất, thì dân tộc đó sẽ có những ưu thế lớn lao”. Do
đó, tính sáng tạo là một trong các phẩm chất rất quan trọng không thể thiếu được để
hình thành con người trong thời đại mới.
Chính vì vậy, phát triển tính sáng tạo là một trong những nhiệm vụ quan trọng
của giáo dục nói chung và giáo dục mầm non nói riêng. Tính sáng tạo không tự đến,
nó được hình thành từ quá trình nuôi dưỡng và phát triển dựa vào nhiều yếu tố. Vì thế,
việc hình thành và phát triển tính sáng tạo phải được bắt đầu từ khi trẻ còn nhỏ. Ở lứa
tuổi này, hoạt động chủ đạo là hoạt động vui chơi. Trong khi chơi những tình huống,
những mối quan hệ, những điều kiện vật chất của hoàn cảnh xung quanh làm nảy sinh

lẫn ngoài trời để phát triển khả năng sáng tạo cho trẻ mầm non, đặc biệt trẻ MG 5 - 6
tuổi.
Từ lý do trên, tôi đã chọn nghiên cứu đề tài “Biện pháp phát triển khả năng
sáng tạo cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi tại góc tạo hình” .
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số biện pháp phát triển khả năng sáng tạo
cho trẻ MG 5 - 6 tuổi tại góc tạo hình
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu.
3.1. Khách thể nghiên cứu:
- Trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi: 40 trẻ
+ 20 trẻ nhóm đối chứng ĐC
+ 20 trẻ nhóm thực nghiệm
- Giáo viên: 25 cô
3.2. Đối tượng nghiên cứu:
Tìm hiểu một số biện pháp phát triển tính sáng tạo cho trẻ MG 5 - 6 tuổi tại góc
tạo hình.
4. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu một số biện pháp phát triển khả năng sáng tạo cho trẻ MG 5 - 6 tuổi
tại góc tạo hình ở trường Mầm non Hoa Hồng.
5. Nhiệm vụ của đề tài
- Thu thập tài liệu, phân tích, hệ thống hóa một số vấn đề lý luận liên quan tới đề
tài nghiên cứu.
- Khảo sát thực trạng khả năng sáng tạo cho trẻ MG 5 - 6 tuổi tại góc tạo hình ở
2


Trường Mầm non Hoa Hồng - Tp. Đồng Hới.
- Đề xuất và thử nghiệm một số biện pháp phát triển khả năng sáng tạo cho trẻ
MG 5 - 6 tuổi tại góc tạo hình
6. Giả thuyết khoa học

kết quả sản phẩm của hai nhóm và đưa ra kết luận cụ thể.
7.2.4. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động của trẻ
Nghiên cứu các sản phẩm tạo hình của trẻ MG 5 - 6 tuổi tại góc tạo hình nh m
3


đánh giá tính sáng tạo của trẻ.
8. Những đóng góp mới của đề tài
- Ch ra thực trạng của việc phát triển khả năng sáng tạo cho trẻ MG 5 - 6 tuổi tại
góc tạo hình ở trường MN.
- Đề xuất một số biện pháp phát triển khả năng sáng tạo cho trẻ MG 5 - 6 tuổi tại
góc tạo hình.
- Khẳng định vai trò của góc tạo hình trong việc phát triển khả năng sáng tạo ở
trẻ 5 - 6 tuổi.
9. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, danh mục các bảng
biểu và chữ viết tắt, cấu trúc của đề tài gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển khả năng sáng tạo cho trẻ MG 5 - 6 tuổi
tại góc tạo hình
- Chương 2: Thực trạng khả năng sáng tạo của trẻ MG 5 - 6 tuổi tại góc tạo hình
ở trường MN.
- Chương 3: Một số biện pháp phát triển khả năng sáng tạo cho trẻ MG 5 - 6 tuổi
tại góc tạo hình.

4


CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KHẢ NĂNG
SÁNG TẠO CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 - 6 TUỔI
TẠI GÓC TẠO HÌNH

Barron, Blom, Helmholtz, Wallass. Getzels...
Vượt ra khỏi nước Mỹ, các nhà khoa học Liên Xô cũ đã có nhiều công nghiên
cứu về sáng tạo, đóng góp cho xã hội, nổi bật như: G.S.Altshuller, V.N. Puskin, B.N.
5


Kedrop, M.G. Iarosepxki, P.A.Rudich, X.L.Rubinstein, L.X. Vygotsky... Họ cũng đã tổ
chức cuộc hội nghị, hội thảo về sáng tạo vào những năm 1960 – 1980 tại Matxcơva,
Praha, Budapest...
Từ những năm 60 – 70 của thập kỷ 20 trở đi, không ch ở Mỹ, Liên xô mà Tây
Âu đặc biệt ở Đức, do nhận ra ý nghĩa phát triển kinh tế xã hội, khoa học kỹ thuật
cũng như ý nghĩa phát triển cá nhân của sáng tạo mà vấn đề sáng tạo dưới góc nhìn
mới của Tâm lý học, Giáo dục học và Xã hội học đã được quan tâm nghiên cứu thích
đáng.
1.1.2. Những nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến hoạt động sáng tạo và các tài
năng sáng tạo. Nhiều hoạt động thể hiện sự chăm lo, bồi dưỡng, khuyến khích những
tài năng sáng tạo được tổ chức hàng năm như: Hội thi sáng chế kỹ thuật, tổ chức hỗ trợ
sáng tạo khoa học và công nghệ Việt Nam thuộc Viện Khoa học Việt Nam và Trung
tâm sáng chế khoa học kỹ thuật thuộc ĐHQG TPHCM và nhiều hội thi tài năng được
tổ chức trong các trường học.
Năm 1990, Viện khoa học giáo dục thuộc Bộ giáo dục và đào tạo là cơ quan khoa
học đầu tiên ở Việt Nam tiến hành nghiên cứu về “khả năng sáng tạo” của học sinh.
Các công trình nghiên cứu này quan tâm tới bản chất, cấu trúc tâm lý của sáng tạo,
phương pháp chẩn đoán, đánh giá khả năng sáng tạo và con đường giáo dục, phát huy
khả năng sáng tạo của người Việt Nam.
Mãi cho đến nay, chúng ta cũng đã có một số công trình nghiên cứu của các Tiến
sĩ, Thạc sĩ đóng góp cho hoạt động sáng tạo như:
• Luận án Tiến sĩ của Lê Thanh Thủy nghiên cứu “Ảnh hưởng của tri giác tới
tưởng tượng sáng tạo trong hoạt động vẽ của trẻ 5 - 6 tuổi”.

con người. Theo ông, “Bộ não không những là một cơ quan giữ lại và tái hiện kinh
nghiệm cũ của chúng ta, nó còn là cơ quan phối hợp, chỉnh lý một cách sáng tạo và
xây dựng nên những tình thế mới và hành vi mới bằng những yếu tố của kinh nghiệm
cũ đó” [38, tr8].
Thông thường chúng ta thường cho r ng sáng tạo là hoạt động ch có ở một số ít
những thiên tài, những tài năng xuất chúng như: Mozart, Newton, Einstein, Tolstoy...
đã tạo ra những tác phẩm vĩ đại hoặc phát minh ra những cái mới về khoa học kỹ
thuật. Nhưng theo L.X. Vygotsky: “Sự sáng tạo thật ra không phải chỉ có ở nơi nó tạo
ra những tác phẩm vĩ đại, mà ở khắp nơi nào con người tưởng tượng, phối hợp, biến
đổi và tạo ra một cái gì mới, cho dù cái mới ấy nhỏ bé đến đâu đi nữa so với những
sáng tạo của các thiên tài” [36, tr10].
Ông quan niệm r ng: “Sáng tạo là bất cứ hoạt động nào của con người tạo ra
được một cái gì mới, không kể rằng cái được tạo ra ấy là một vật của thế giới bên
ngoài hay một cấu tạo nào đó của trí tuệ hoặc tình cảm chỉ sống và biểu lộ trong bản
thân con người”. Như vậy, sáng tạo ở đây được hiểu là hoạt động và hoạt động này tạo
ra cái mới.
Ở Việt Nam, cũng có nhiều định nghĩa khác nhau về sáng tạo. Trong từ điển
Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên : “Sáng tạo là tạo ra cái mới, cách giải quyết mới,
không bị phụ thuộc vào cái đã có”.
Từ điển Tiếng Việt của tác giả Như Ý: “Sáng tạo là tìm thấy và làm nên cái
mới”. PGS – TS Nguyễn Huy Tú định nghĩa: “Sáng tạo thể hiện khi con người đứng
trước hoàn cảnh có vấn đề. Quá trình này là tổ hợp các phẩm chất và năng lực mà
nhờ đó con người trên cơ sở kinh nghiệm của mình, và bằng tư duy độc lập tạo ra
7


được ý tưởng mới, độc đáo, hợp lý trên bình diện cá nhân hay xã hội. Ở đó người sáng
tạo gạt bỏ được các giải pháp truyền thống để đưa ra những giải pháp mới, độc đáo
và thích hợp cho vấn đề đặt ra” [25, tr5].
Như vậy có thể thấy tuy cách diễn đạt khác nhau nhưng hầu hết đều nhấn mạnh ý

Có nhiều quan điểm khác nhau bàn về vấn đề bản chất của quá trình sáng tạo là
do các yếu tố tâm lý tham gia. Tuy nhiên, để xác định yếu tố tâm lý nào là mắt xích
trung tâm của quá trình sáng tạo thì còn nhiều ý kiến khác nhau.
8


Một là, các nhà nghiên cứu như B.M. Kedrow, M.A. Blok, K. Chikomiop, V.N.
Puskin, L.A. Aponomation... cho r ng chính cảm hứng, linh cảm, vô cảm là những khả
năng đã giúp con người giải quyết đúng đắn trước một tình huống khó khăn hay nguy
cấp mà có khi con người lại không biết chính xác tại sao mình lại làm được như vậy.
Thực tế có nhiều nhà văn, nhà sáng tạo trong nhiều lĩnh vực khác nhau cũng đã
tạo ra các tác phẩm mà không cần đến sự nổ lực của lao động. Trong lịch sử đã chứng
kiến nhiều câu chuyện ly kỳ về những phát minh của các nhà khoa học nổi tiếng mà
trực giác đã đưa họ đến nhiều thành công vang dội như Acsimet Thế k 13 trước Công
nguyên với câu chuyện “Ơrêka” nổi tiếng. Hay A. Eintein nói r ng đã mơ thấy
“Thuyết tương đối”... đã chứng minh cho quan điểm này.
Thực tế, để có được những linh cảm, cảm hứng hay trực giác trong sáng tạo đó
chính là kết quả của sự lao động không mệt mỏi của bản thân mỗi con người. Sự bừng
sáng của tư duy ấy là kết quả của sự tích lũy kiến thức, của sự say mê, kiên trì suy nghĩ
sáng tạo. Phát minh không n m ngoài tầm hoạt động kiên trì với định hướng khoa học
nghiêm túc. Linh cảm, trực giác không đến với người lười biếng, đó ch là yếu tố bổ
sung tuyệt vời cho kinh nghiệm và hiểu biết.
Hai là, những ý kiến cho r ng tư duy, tưởng tượng mới là mắt xích trung tâm của
sáng tạo. Đại diện cho quan điểm này là các nhà nghiên cứu như: L.X.Vygotsky, A.N.
Leonchiev, X.L. Rubinstein, M. Arnauđôp... Hầu hết họ cho r ng hoạt động có ý thức
của con người có vai trò quan trọng trong hoạt động sáng tạo.
Theo L.X.Vygotsky “Hoạt động sáng tạo dựa trên năng lực, phối hợp của bộ não
chúng ta được khoa học tâm lý gọi là tưởng tượng”. Chúng ta thường quan niệm
tưởng tượng là những gì không có thực, không thực tế, nhưng ông đã khẳng định “Trí
tưởng tượng là cơ sở của bất cứ hoạt động sáng tạo nào, biểu hiện hoàn toàn như

nghĩa toàn xã hội mà ch là đối với bản thân mình. Tuy nhiên, bản thân quá trình sáng
tạo đó có ý nghĩa cực kì quan trọng đối với xã hội. Tâm lý học đã xác định được tính
tương tự giữa quá trình sáng tạo của trẻ và quá trình sáng tạo của các nhà khoa học,
sáng chế sáng tác. Sự khác nhau ở đây ch là vấn đề cần giải quyết ở trình độ tự lập
trong diễn tiến các giai đoạn của quá trình sáng tạo. Còn cơ chế dẫn đến cái mới về
nguyên tắc không có sự khác biệt nào giữa sáng tạo của học sinh và người lớn.
Do đó sự sáng tạo của trẻ thường không mang lại cái mới cho toàn xã hội, nhưng
hoạt động này thường có ý nghĩa xã hội rất lớn vì ở đó nhân cách trẻ được rèn luyện để
trở thành những người sáng tạo sau này cho xã hội.
Thứ hai, tính sáng tạo thể hiện ở tính độc lập trong tư duy và hành động. Tư duy
độc lập làm tiền đề để nảy sinh những ý tưởng mới, giải pháp và phương pháp mới. Ở
cả trẻ em và người lớn muốn phát triển tính độc lập tư duy, cần đặt cho họ trước những
vấn đề buộc họ đi đến đích b ng con đường giải quyết vấn đề đó. Khi đi vào giải quyết
vấn đề, nếu chúng ta thử nghiệm độc lập để tìm ra giải pháp và càng khác lạ với thông
thường thì càng được đánh giá là có tính sáng tạo.
Người sáng tạo có khuynh hướng tránh lập lại cách giải quyết cũ, họ hoài nghi,
muốn từ bỏ cái truyền thống, có khi từ bỏ cả mục đích truyền thống. Họ thường đưa ra
các ý tưởng mới, cách thực hiện mới để thực hiện ý tưởng độc đáo, mới lạ của mình.
Thứ ba là tính hiện thực, nó được thể hiện trong giá trị sản phẩm mới. Quá trình
sáng tạo ra sản phẩm mới luôn có mối liên quan đến hiện thực. Sáng tạo không phải là
sự đoạn tuyệt của hiện thực mà là sự phản ánh hiện thực tối đa nhưng trong tình huống
mới, chất lượng mới và mục đích mới.
Người ta thường quan niệm r ng: sáng tạo bao giờ cũng xuất phát từ nhu cầu của
10


hiện thực khách quan nh m vươn tới việc tạo ra cái mới, độc đáo, tốt hơn, có lợi hơn
cho sự phát triển của xã hội. Điều này có vẻ trái ngược khi người ta nghiên cứu các sản
phẩm sáng tạo của trẻ: không độc đáo hơn, không đẹp hơn, không có lợi hơn cho xã
hội. Các nhà khoa học cho r ng, nếu xem xét một cách nghiêm ngặt theo tiêu chuẩn

cao nhất mà ch là chế biến các thông tin cũ và sắp xếp lại chúng để đi đến các quan hệ
mới và đó chính là sự xuất hiện sáng kiến hay phát kiến.

11


Cấp độ 4: Sáng tạo cải tiến đổi mới, cải cách là cấp bậc sáng tạo cao. Nó thể
hiện sự am hiểu sâu sắc các kiến thức khoa học hoặc nghệ thuật, kỹ thuật hay sản xuất,
tức đòi hỏi một trình độ trí tuệ nhất định. Từ đó xây dựng được các ý tưởng cải tạo, cải
cách có ý nghĩa xã hội và khoa học kỹ thuật. Lackben cho r ng dự án trong đầu càng
xa với ban đầu bao nhiêu thì sự sáng tạo càng lớn bấy nhiêu
Cấp độ 5: Sáng tạo bậc cao, tột đ nh của quá trình sáng tạo. Người ta đưa ra
những ý tưởng mới hoàn toàn, thậm chí nảy sinh những ngành nghề mới, trường phái
mới, chương trình mới... vượt qua trí tuệ đương thời. Đại diện cho những người đạt
cấp bậc này là Einstein trong vật lý học, Picasso trong hội họa, Chopin trong âm nhạc,
Darwin trong sinh vật học, K. Marx, Hồ Chí Minh trong xã hội và khoa học chính trị
[24, tr16].
Sáng tạo của trẻ em thường ở cấp bậc thấp nhất là sáng tạo biểu hiện, đây là bậc
quan trọng nhất của sáng tạo, vì không có nó thì chẳng có một chút sáng tạo nào cao
hơn. Đặc trưng của cấp độ một là tính bộc phát, hứng khởi và tự do khoáng đạt, nếu
như hai đặc tính này bị hạn chế, bị gò ép vào khuôn phép ngay từ lúc nẩy mầm thì rất
có hại cho sự sáng tạo.
Như vậy, nếu chúng ta làm hạn chế những biểu hiện sáng tạo của trẻ ngay từ tuổi
MN dần dần sẽ trở thành thói quen, ngấm dần vào trong tư duy của con người, đi đến
chỗ thụ động, máy móc.
1.3. Đặc điểm sáng tạo của trẻ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động tạo hình
1.3.1. Bản chất hoạt động tạo hình của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi.
Bản chất hoạt động tạo hình của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi là hoạt động tự nhiên
theo nhu cầu hoạt động, nhu cầu tìm hiểu và bộc lộ hiểu biết của bản thân trẻ, cũng là
niềm say mê ham thích, sáng tạo của trẻ.

1.3.2. Đặc điểm ngôn ngữ tạo hình của trẻ thông qua sản phẩm.
 Đường nét
Đường nét, hình dạng là những dấu hiệu đầu tiên của hình vẽ giúp trẻ nhận ra và
hiểu được mối liên hệ giữa sự vật thật và hình ảnh biểu đạt sự vật lúc đó. Lúc đầu, do
khả năng thao tác để tạo ra các đường nét còn hạn chế nên hình vẽ của trẻ còn mang
tính sơ đồ, lắp ráp từ những hình học. Do sự phát triển nhanh về thể lực, cơ bắp và sư
khéo léo của vận động, trẻ mẫu giáo lớn đã có khả năng tạo nên đường nét với tính
chất khác nhau khá phức tạp. Với trình độ phát triển của năng lực nhận thức thẩm mỹ
và kỹ năng vận động, trẻ ở tuổi này có thể cảm nhận được tính nguyên thể của các
hình ảnh đối tượng miêu tả và biết dùng đường nét liền mạch, mềm mại, uyển chuyển
để truyền đạt hình dáng trọn vẹn của sự vật trong cấu trúc hợp lý, đồng thời thể hiện tư
thế vận động, hành động phù hợp với nội dung sáng tạo. Đặc biệt trẻ 5 - 6 tuổi đã có
vốn kinh nghiệm phong phú cho nên các biểu tượng hình thành khá đầy đủ về hình
dáng, cấu trúc và đặc điểm riêng biệt, khá linh hoạt trong việc biến đổi, phối hợp tính
chất của đường nét và hình để thể hiện vẽ độc đáo, rất riêng của mỗi hình tượng sự vật
cụ thể. Hình tượng của trẻ đến gần với hiện thực, mất dần tính chủ quan.
Đường nét trong sản phẩm tạo hình thường mang tính biểu cảm hồn nhiên, bất
ngờ, và rời rạc.
Đường nét phong phú dài, ngắn, to nhỏ, đậm nhạt được sắp xếp, kết hợp một
cách ngẫu hứng không tuân theo các nguyên tắc tạo hình hay nguyên lý thị sáng trong
sáng tạo. Xem hình 1.1
 Màu sắc
Trong tranh vẽ của trẻ, hình vẽ là dấu hiệu hàng đầu để tạo nên hình tượng của sự
13


vật, nhưng màu sắc mới là yếu tố mang lại hiệu quả thẩm mỹ cho hình tượng và gây
tác động thẩm mỹ nhất đến trẻ cũng như người xem tranh. Màu sắc chính là phương
tiện quan trọng thể hiện sự sáng tạo của trẻ trong hoạt động tạo hình.
Trẻ mẫu giáo thường sử dụng màu theo ý thích và theo cảm xúc, trẻ có khả năng

mà ch cần trẻ có nhu cầu chơi, có ý định chơi và tìm cách để chơi là phản ánh thế giới
thông qua ngôn ngữ tạo hình trẻ đã có sáng tạo.
Trong quá trình sáng tạo của trẻ, sự bắt chước tự nhiên đóng vai trò quan trọng,
14


tuy nhiên sự tái hiện lại trong quá trình đó không hoàn toàn giống trong thực tế. Do đó,
sự sáng tạo của trẻ mang nhiều tính chủ quan.
- Sáng tạo của trẻ bao giờ cũng xuất phát từ nhu cầu khám phá và thể hiện. Trẻ
không bao giờ sáng tạo cái gì mà trẻ không biết, không hiểu và không có hứng thú.
- Sáng tạo của trẻ ít khi dừng lại để ngẫm nghĩ về tác phẩm của mình, phần lớn
trẻ sáng tác liền một mạch. Trẻ giải quyết nhu cầu sáng tạo của mình nhanh chóng và
triệt để những tình cảm đang tràn ngập trong lòng trẻ.
- Sáng tạo của trẻ cũng như trò chơi, về căn bản còn chưa tách rời khỏi hứng thú
và đời sống cá nhân. Sáng tạo của trẻ biểu hiện một cách tự phát, độc lập với ý muốn
của người lớn.
- Tầm nhìn về thế giới xung quanh của trẻ còn rất hạn chế, nên trẻ hầu như chưa
biết phân tích các mối liên hệ khác nhau, các sáng tác của trẻ còn mang tính ước lệ và
rất ngây thơ.
- Trong mọi hoạt động của mình trẻ luôn có cảm giác thắc mắc, tò mò cao độ và
một sự nổ lực tự phát nh m khám phá, thử nghiệm và thao tác theo kiểu độc đáo mang
tính trò chơi. Đó là biểu hiện mang tính sáng tạo của trẻ.
- Sáng tạo của trẻ mang tính chất tổng hợp các lĩnh vực trí tuệ, tình cảm, ý chí và
đặc biệt là tưởng tượng sáng tạo được hưng phấn với một sức mạnh trực tiếp của cuộc
sống.
- Chúng ta biết r ng so với người lớn, tri thức và kinh nghiệm của trẻ còn ít ỏi, trí
tưởng tượng còn chưa phong phú, hứng thú đơn giản và sơ đẳng hơn nhưng do sự dễ
dãi, sự mộc mạc của trí tưởng tượng nên trẻ sống trong thế giới tưởng tượng nhiều
hơn, tin vào sản phẩm của trí tưởng tượng nhiều hơn, kiểm tra những sản phẩm ít hơn
đo đó mà trẻ dễ có những biểu hiện sáng tạo hơn.

giá trị xã hội lớn lao, không mang tính độc đáo hay mới đối với xã hội, nhưng khi
được hoạt động, được sáng tạo và trải nghiệm cảm xúc đã mang lại cho trẻ niềm vui
thích vô biên và cũng là món quà vô giá mà sáng tạo mang lại cho chúng.
Ba là, hoạt động sáng tạo giúp phát triển ngôn ngữ và trí tuệ cho trẻ. Với trẻ,
muốn cho trí tưởng tượng sáng tạo của trẻ phát triển phải cho nó được tham gia vào
các hoạt động, trong đó hoạt động vui chơi là hoạt động cơ bản. Thông qua hoạt động
vui chơi, trẻ được tiếp xúc với thế giới xung quanh, xác lập được quan hệ của mình với
hoàn cảnh và với người khác. Trẻ được giao lưu, trao đổi, trình bày ý kiến của mình và
thỏa sức tưởng tượng. Do vậy có thể nói, thông qua những ý tưởng và sự tưởng tượng
sáng tạo của mình, đã giúp cho các nét tâm lý xã hội, những tri thức, kinh nghiệm và
ngôn ngữ của trẻ có nhiều cơ hội phát triển.
Bốn là, hoạt động tạo hình sẽ giúp phát triển thể chất và năng lực lao động ở trẻ
khả năng phối hợp, điều ch nh hoạt động của mắt và tay, rèn luyện sự khéo léo, linh
hoạt trong vận động của tay, từ đó giúp cho việc học viết của trẻ ở tiểu học sẽ đạt kết
quả tốt.
1.5. Cơ sở lý luận về góc tạo hình
1.5.1. Khái niệm góc tạo hình
Góc tạo hình: Theo tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho GVMN chu kỳ II 2004
- 2007 cho r ng: Góc hoạt động là khu vực riêng biệt trong lớp, nơi trẻ có thể tự làm
việc một mình hoặc trong nhóm nhỏ theo hứng thú và nhu cầu riêng để xem xét, tìm
hiểu và khám phá cái mới, hoạt động với đồ vật và rèn luyện kỹ năng [31]. Góc tạo
hình là một trong những góc hoạt động của trẻ MN, nó có quan hệ mật thiết và có tính
biện chứng với các hoạt động khác của trẻ.
16


Như vậy, dựa trên khái niệm về góc hoạt động chúng ta có thể hiểu: “Góc tạo
hình là môi trường hoạt động sáng tạo nghệ thuật riêng biệt trong lớp hay ngoài trời nơi trẻ có thể thực hiện các HĐTH khác nhau một mình hoặc trong nhóm nhỏ theo
hứng thú và nhu cầu riêng của mình. Trong khu vực này, trẻ mong muốn được thử
nghiệm, thể hiện sự sáng tạo qua các sản phẩm mà trẻ làm ra”.

phẩm đẹp hơn. Vì thế, khi tham gia trẻ thường cố gắng tìm kiếm nhiều NVL khác nhau
để thể hiện. Hơn thế nữa, sau khi hoàn thành sản phẩm trẻ lại thích nhìn ngắm, chiêm
17


ngưỡng, sờ mó những sản phẩm tự tay mình làm ra nên trẻ thường tham gia góc chơi
này rất say mê và thích thú. Xem hình 1.4
1.5.2. Các dạng góc tạo hình
• Góc tạo hình cố định: Là góc trong lớp, góc dành riêng cho tạo hình bao gồm:
vẽ; nặn; xé, cắt và dán và các HĐTH khác.
Ở góc tạo hình cố định là giáo viên trưng bày những sản phẩm của trẻ về các đề
tài vẽ, nặn, xe, dán... trong chủ đề, ngoài ra ở góc tạo hình cố định còn có giá góc đựng
những đồ dùng cho trẻ như: bút sáp, giấy màu, kéo, hồ dán, đất nặn, bảng, giấy màu
hoạ báo,...
Ở góc tạo hình cố định là chuẩn bị tất cả những đồ dùng cho trẻ dưới dạng mở để
trẻ có thể thực hiện hoạt động tạo hình có hiệu quả.
Ví dụ: Tháng 3 với chủ đề: “Thế giới thực vật”. Giáo viên trang trí góc tạo hình
với những tranh ảnh về chủ đề thực vật và chuẩn bị tất cả các đồ dùng như: bút sáp,
giấy màu, đất nặn, hồ dán, tranh ảnh về thực vật để trẻ có thể hoạt động tạo hình làm
ra những sản phẩm sáng tạo với chủ đề thực vật. Xem hình 1.5
• Góc tạo hình trong hoạt động góc: Là một phần của tiết học .
Góc tạo hình trong hoạt động góc là góc mà trẻ tham gia các hoạt động tạo hình ở
tiết dạy của giáo viên. Nơi mà trẻ có thể tưởng tượng sáng tạo ra sản phẩm của riêng
mình và được trưng bày ở góc. Tuy nhiên những sản phẩm phải phù hợp với chủ điểm,
chủ đề của từng tuần và từng tháng.
Ví dụ: Chủ đề “Thế giới thực vật”. Khi tham gia hoạt động tạo hình thì trước tiên
giáo viên kéo giá ngăn góc, chuẩn bị bàn ghế cho trẻ, đồ dùng như giấy màu, hồ dán,
kéo, giấy A4, đất nặn, tranh ảnh liên quan đến chủ đề “Thế giới thực vật”. Để trẻ có
thể tạo ra những sản phẩm sáng tạo của mình, thông qua sự hướng dẫn của giáo viên
và NVL giáo viên đã chuẩn bị sẵn theo đề tài tiết học. Xem hình 1.6


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status