cảng sài gòn và biến đổi kinh tế nam kỳ thời pháp thuộc (1860 1939) - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LÊ HUỲNH HOA

CẢNG SÀI GÒN VÀ BIẾN ĐỔI KINH TẾ NAM KỲ
THỜI PHÁP THUỘC (1860 - 1939)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2002



MỤC LỤC
MỤC LỤC .................................................................................................................... 3
38T

T
8
3

LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................ 6
38T

38T

DẪN LUẬN .................................................................................................................. 7
38T

38T


1.2.MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU .....................................................................................9
T
8
3

38T

2.LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ:.............................................................................10
T
8
3

T
8
3

3.ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU. ..............................................................17
T
8
3

T
8
3

3.1.Đối tượng nghiên cứu. .............................................................................................17
T
8
3


38T

5.NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN: ..............................................................20
T
8
3

T
8
3

6.CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN: ........................................................................................21
T
8
3

38T

Chương 1: Cảng Sài Gòn trong bối cảnh hình thành nền kinh tế thuộc địa ở
38T

Nam Kỳ. ...................................................................................................................... 24
T
8
3

1.1.NAM KỲ : NHỮNG ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ LỊCH SỬ. .................................24
T
8

T
8
3

T
8
3

3


1.2.2.Cảng Sài Gòn thời Pháp thuộc: ............................................................................37
T
8
3

T
8
3

1.2.2.1.Chủ trương thiết lập cảng Sài Gòn của thực dân Pháp: ..............................37
T
8
3

T
8
3

1.2.2.2.Quy mô phát triển và quy chế hoạt động của cảng Sài Gòn.........................41

3

1.3.3.Xuất, nhập khẩu qua cảng Sài Gòn: .....................................................................64
T
8
3

T
8
3

1.3.3.1.Xuất khẩu: .....................................................................................................64
T
8
3

38T

1.3.3.2.Nhập khẩu: ....................................................................................................71
T
8
3

38T

1.3.4.Những ảnh hưởng lớn về kinh tế: .........................................................................77
T
8
3



Chương 2: Cảng Sài Gòn và những biến đổi kinh tế Nam Kỳ trong thời kỳ khai
38T

thác Pháp thuộc (1897 - 1939) .................................................................................. 86
38T

2.1.THỜI KỲ KHAI THÁC THUỘC ĐỊA LAN THỨ I (1897 -1913): ...........................86
T
8
3

T
8
3

2.1.1.Bối cảnh lịch sử: ...................................................................................................86
T
8
3

38T

2.1.2.Hoạt động của cảng Sài Gòn: ...............................................................................92
T
8
3

T
8

T
8
3

T
8
3

2.1.4.3.Các cơ sở công nghệ hiện đại: .................................................................... 111
T
8
3

T
8
3

2.1.4.4.Ngoại thương Nam Kỳ hòa nhập vào thương trường thế giới:................... 113
T
8
3

T
8
3

2.2.THỜI KỲ KHAI THÁC THUỘC ĐỊA LẦN THỨ I (1913-1918) : ......................... 114
T
8
3

8
3

2.2.4.Những ảnh hưởng về kinh tế: ............................................................................. 116
T
8
3

T
8
3

2.3.THỜI KỲ KHAI THÁC THUỘC ĐỊA LẦN THỨ II (1919 - 1939): ...................... 118
T
8
3

T
8
3

2.3.1.Bối cảnh lịch sử: ................................................................................................. 118
T
8
3

38T

2.3.2.Hoạt động của cảng Sài Gòn: .............................................................................120
T

38T

2.3.4.2.Về kỹ thuật: .................................................................................................136
T
8
3

38T

2.3.5.Những ảnh hưởng khác: .....................................................................................143
T
8
3

38T

PHẦN KẾT LUẬN. ................................................................................................. 149
38T

38T

TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................... 157
38T

38T

Tài liệu tiếng Việt: ...........................................................................................................157
T
8
3


TÁC GIẢ LUẬN ÁN

LÊ HUỲNH HOA

6


DẪN LUẬN

1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI VÀ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
1.1.Lý do chọn đề tài.
1.1.1.Lý do thực tiên:
Nam kỳ là tên gọi để chỉ cả vùng đất Nam Bộ ngày nay. Vùng đất này, tuy mới được
khai phá và phát triển chừng 300 năm trên danh nghĩa nhưng đã nhanh chóng chuyển hóa từ
một vùng đất đai "hoang nhàn" tưởng chừng vô chủ (Đồng Nai) thành một vùng đất mới
"định cư thêm" (Gia Định - Sài Gòn), một vùng biển nhỏ neo đậu tàu thuyền (Vũng Tàu),
một bến đậu tự nhiên (Bến Nghé) và hiện nay là một "tam giác tăng trưởng" đầy năng động,
có ý nghĩa quốc gia và quốc tế.
Trên vùng lãnh thổ đó, cùng với Sài Gòn, miền Đông và miền Tây của Nam Kỳ đã
từng bước hình thành và phát triển gắn bó. Đặc biệt, từ khi thực dân Pháp tiến hành xâm
lược Việt Nam, vùng đất này đã trải qua những biến đổi sâu sắc. Việt Nam nói chung và
Nam Kỳ nói riêng từ một xã hội phong kiến cổ truyền chuyển mình thành một xã hội có sự
hiện diện của nhiều yếu tố mới mang tính chất đương đại, nếu không nói là "hiện đại", nhất
là trên lĩnh vực kinh tế.
Vì vậy, vấn đề đặt ra cho những người nghiên cứu lịch sử là không chỉ thuần túy
nghiên cứu về lịch sử chính trị hay quân sự mà còn phải chú trọng cả về lịch sử kinh tế. Bởi
vì có đánh giá được vị trí, vai trò lịch sử của kinh tế đối với sự phát triển của đất nước ở
từng thời kỳ và nhìn nhận nó một cách khoa học thì mới có thể tìm ra được sợi dây liên kết
giữa quá khứ và hiện tại, góp phần vào việc hoạch định và xây dựng chiến lược phát triển

nước. Và trong suốt thời kỳ đó, Nam Kỳ đã nổi lên như một khu vực kinh tế đầy tiềm lực và
năng động nhờ vào cảng Sài Gòn - một đầu mối giao thương vừa làm nhiệm vụ trung
chuyển, vừa có tác dụng kích thích, lại vừa giữ vai trò của một đột phá khẩu. Vai trò của
cảng Sài Gòn đối với khu vực kinh tế Nam Kỳ là không thể thiếu. Chính vì vậy việc bố trí
cảng ngay từ đầu "đã tạo ra một chu kỳ phát triển năng động theo khuynh hướng thị trường
cho Sài Gòn và cho cả Nam Bộ"[49, 5, 6].
Lịch sử đã ghi nhận sự tồn tại và ngày càng phát triển của một khu vực kinh tế Nam
Kỳ, gắn liền với một đầu mối giao thương quan trọng là cảng Sài Gòn. Mối quan hệ qua lại
giữa chúng được xem như là một tổng thể không thể tách rời.
Xuất phát từ suy nghĩ trên, tôi đã chọn đề tài "Cảng Sài Gòn và biến đổi kinh tế
Nam Kỳ thời Pháp thuộc (1860 - 1939)" làm đề tài luận án Tiến sĩ của mình. Chúng tôi
mong rằng những kết luận khoa học sau khi nghiên cứu sẽ góp phần (dù rất nhỏ) phục vụ

8


thiết thực cho đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội ở
đồng bằng sông cửu Long nói riêng và Nam Bộ nói chung.
1.1.2.Lý do khoa học:
Ngoài lý do thực tiễn nêu trên, việc chọn đề tài "Cảng Sài Gòn và biến đổi kinh tế
Nam Kỳ thời Pháp thuộc (1860 - 1939)" để nghiên cứu còn vì những yêu cầu khoa học sau
đây:
Nghiên cứu tình hình kinh tế Nam Kỳ thời Pháp thuộc sẽ giúp chúng ta có cái nhìn đầy
đủ hơn về cái gọi là "kinh tế thuộc địa". Đồng thời nghiên cứu kinh tế Nam Kỳ thời điểm
này còn nhằm xem xét lần đầu tiên trong lịch sử xã hội Việt Nam hiện diện một phương
thức sản xuất mới - phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Đây là một loại chủ nghĩa tư
bản "mang tính đặc thù cần phải được nhận thức cụ thể"[73; 2].
Bằng việc thông qua một đầu mối giao thương hàng hóa cụ thể là cảng Sài Gòn sẽ đem
lại những hiểu biết tập trung hơn, đầy đủ hơn về hoạt động thương nghiệp ở cả hai lĩnh vực
xuất và nhập khẩu, về chủng loại mặt hàng...Mặt khác qua tìm hiểu khối lượng hàng hóa lưu

cố gắng tìm hiểu tác dụng và ảnh hưởng về mặt quản lý nhà nước ở tầm vĩ mô thời kỳ này.
Tất cả những vấn đề trên một khi được giải đáp sẽ góp phần xác định bước đầu một mô hình
kinh tế thuộc địa ở Nam kỳ về mặt cơ cấu và guồng máy điều hành.
Cuối cùng, thông qua nghiên cứu, luận văn còn hy vọng góp phần tìm ra thế mạnh của
tổng thể kỉnh tế vùng Nam Bộ làm cơ sở tiến tới xây dựng và phát triển vùng "kinh tế động
lực", hình thành "tam giác tăng trưởng" phục vụ cho việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế "theo
hướng rồng hay"để vừa tạo sức hút và lực lôi kéo đối với các vùng lãnh thổ xung quanh,
vừa từng bước hội nhập vào nền kinh tế khu vực Đông Nam Á và thế giới.

2.LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ:
Để thực hiện đề tài "Cảng Sài Gòn và biến đổi kinh tế Nam Kỳ thời Pháp thuộc
(1860 - 1939), các kết quả nghiên cứu trước đây có liên quan đến nội dung của đề tài như: vị
trí địa lý tự nhiên, tài nguyên, môi trường, lịch sử hình thành và phát triển của Nam Kỳ lục
tỉnh và Sài Gòn đều được chúng tôi kế thừa một cách nghiêm túc và cẩn trọng.
Về Nam Kỳ lục tỉnh, trước tiên phải kể đến công trình biên soạn của các nhà
viết sử triều Nguyễn và các tác giả khác như:
- Đại Nam thực lục (Tiền biên và chính biên).
- Phủ biên tạp lục và Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn.
- Gia Định thành thông chí, bản đích của Tu Trai, Nha văn hóa phủ Quốc vụ khanh
đặc trách văn hóa - xuất bản năm 1972. Trong tác phẩm này, Trịnh Hoài Đức đã để lại

10


những tư liệu vô cùng quý giá, giúp chúng ta có thể hình dung được một cách khái quát
hoàn cảnh tự nhiên, bộ mặt kinh tế của vùng đất Nam Kỳ đầu thế kỷ XIX.
- Đại Nam nhất thống chí - Quốc sử quán của triều Nguyễn. Bản dịch Tu Trai Nguyễn
Tạo, Nha văn hóa Bộ quốc giáo giáo dục xuất bản năm 1959. Những ghi chép về tình hình
tự nhiên, kinh tế Nam Kỳ ở giai đoạn giữa thế kỷ XIX, giúp khái quát một bức tranh về tự
nhiên, kinh tế Nam Kỳ trước khi thực dân Pháp xâm lược.

- L’evolution économique de l’ Inclochine Francaise của Ch. Robequain xuất bản
năm 1939.
Thêm vào đó là những công trình nghiên cứu về tình hình kinh tế của từng tỉnh thuộc
Nam Kỳ như:
- Monographie de la province d'Hà Tiên 1901 xuất bản ở Sài Gòn.
- Monographie de la province de Chaudoc 1902 xuất bản ở Sài Gòn
- Monographie de 1' Ile de Phú Quốc 1903 xuất bản ở Sài Gòn.
- Monographie de la province de Soctrang ra đời năm 1904 ở Sài Gòn.
- Monographie de la province de LongXuyen 1905 xuất bản ở Sài Gòn.
- Monographie de la province de Rachgia 1905 xuất bản ở Sài Gòn.
- Monographie de Thudaumot 1910 xuất bản ở Sài Gòn.
- Monographie de la province de Bienhoa l924 xuất bản ở Sài Gòn
- Monographie de la province de Longxuyen 1929 xuất bản ở Sài Gòn. Những công
trình này rất có giá trị về tư liệu và sử liệu, chúng góp phần hiểu rõ hơn về kinh tế Nam Kỳ
nếu loại bỏ những thiên kiến chủ quan và quan điểm thực dân của người viết.
Giai đoạn trước năm 1954, mảng đề tài lịch sử kinh tế hay liên quan đến lĩnh vực
kinh tế - xã hội còn ít. Tuy nhiên vẫn có một số công trình ít nhiều có liên quan đến đề tài
như:
- Thế lực khách trú và vấn đề di dân vào Nam Kỳ của Đào Trinh Nhất xuất bản năm
1924 ở Hà nội, đề cập đến vai trò của Hoa kiều trong lĩnh vực thương mại, công kỹ nghệ
trong buổi đầu Nam Kỳ mới khai phá. Đồng thời cung cấp những thông tin về chủ trương và
biện pháp của chính quyền thực dân Pháp trong việc khai thác đất đai ở Nam Kỳ.
- Tạp chí Phổ thông có loạt bài của tác giả Đ. T trong chuyên mục "Miền Nam nước
Việt" các số 5, 6, 11, 12/ 195: giới thiệu về địa danh, địa lý nhân văn nhằm nêu lên tiềm
năng của các tỉnh Nam Kỳ song nhìn chung ít giá trị về mặt tư liệu.

12


Giai đoạn từ 1954 - 1975, các công trình nghiên cứu về kinh tế - xã hội đã dần dần

- Thực trạng của giới nông dân Việt Nam dưới thời Pháp thuộc của Phạm Cao
Dương, xuất bản ở Sài Gòn 1965.
Hai tác giả Huỳnh Minh và Cánh Bằng có nhiều công trình khảo cứu về các tỉnh
Nam Kỳ:
- Cần Thơ xưa và nay của Cánh Bằng, xuất bản ở vSài Gòn 1966.
- Vĩnh Long xưa và nay của Cánh Bằng, xuất bản ở Sài Gòn 1967.
- Gò Công xưa và nay của Cánh Bằng, xuất bản ở Sài Gòn 1969.
- Sa Đéc xưa và nay của Cánh Bằng, xuất bản ở Sài Gòn 1969.
- Định Tường xưa và nay của Huỳnh Minh, xuất bản ở Sài Gòn 1969.
- Vũng Tàu xưa và nay của Huỳnh Minh, xuất bản ở Sài Gòn 1970.
- Tây Ninh xưa và nay của Huỳnh Minh, xuất bản ở Sài Gòn 1972.
Trong khoảng thời gian này có luận án tiến sĩ của P. Brocheux nghiên cứu Nền kinh tế
và xã hội miền Tây Nam Kỳ trong thời Pháp thuộc (1890 - 1940) xuất bản ở Paris năm
1969.
Ngoài ra còn có các tác giả như Lê Khoa, Sơn Nam, Nguyễn Thế Anh, Phan
Khoang; các luận văn tốt nghiệp Hành chính quốc gia; một số bài viết trên các tạp chí Chấn
hưng kinh tế, tập san Sử Địa cũng đề cập đến nhiều khía cạnh của kinh tế - xã hội Nam Kỳ.
Từ sau năm 1975, việc nghiên cứu về đề tài này đã có những bước tiến dài so với
giai đoạn trước về cả số lượng lẫn chất lượng. Trong đó, ngoài các công trình cá nhân còn
có các công trình quốc gia như :
- Điều tra cơ bản và tổng hợp đồng bằng sông Cửu Long (1984 -1989) mã số 60- 02.
- Quy hoạch tổng thể đồng bằng sông Cửu Long (1990 - 1993) mã số 60 B.
Đặc biệt trong vòng 20 năm trở lại đây nhiều công trình có giá trị khoa học và thực
tiễn đã ra đời:
- Một số vấn đề khoa học xã hội về đồng bằng sông Cửu Long, nhà xuất bản Khoa học
xã hội, Hà nội 1982.
- Đồng bằng sông Cửu Long của Lê Minh, nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh
1984.

14


15


Về cảng Sài Gòn, chúng tôi tham khảo chủ yếu lịch sử hình thành cảng Sài Gòn,
trang bị cơ sở vật chất, quy chế hoạt động, thể thức thuế quan và hoạt động hàng ngày, hàna
tháng, hàng quý, hàng năm của cảng Sài Gòn. Những nội dung này, ngoài nguồn tài liệu lưu
trữ của các cơ quan công quyền thuộc các phông (Thống đốc Nam Kỳ và Tòa đại biểu chính
phủ Nam Việt) được lưu giữ tại Trung tâm lưu trữ Quốc gia II, chúng tôi còn sử dụng, trích
dẫn, tham khảo một số công trình nghiên cứu sau :
Các công trình tập thể hay cá nhân của người Pháp:
- La Cochinchine francaises en 1878, xuất bản năm 1878 ở Paris.
- Le commerce de la Basse Cochinchine, " AEO" Juil 1883.
- Cochinchine francaise, Royaume du Cambodge, Royaume d' Annam. I et III của
Lemyre de Vilers, xuất bản ở Paris năm 1884.
- Situation commerciale. Statistique Importations et Expơrtations, xuất bản ở Sài Gòn
năm 1897.
- Etat de la Cochinchine francaise en 1895, xuất bản ở Sài Gòn năm 1897.
- Le service maritime de VIndochine "BEI" 1915.
- Lavenir des ports de Vlndochine francaise của Labor, xuất bản năm 1918.
- La Cochinchine à la Foire de Hanoi (1923) của Cucherousset Henri, xuất bản năm
1924.
- Les travaux publics de L’ lndochine của A. A, Pouyanne, xuất bản ở Hà Nội năm
1926.
- Note historique sur Cholon của Boutchot Jean, xuất bản năm 1928.
- Indochinchine du Sud : Cochinchine, Cambodge, Bas Laos của Madrolle Cl, xuất
bản ở Paris năm 1928.
- Cochinchine 1931 của P. Gastaldy, xuất bản ở Sài Gòn năm 1931.
- L’ Indochine moderne. Encyclopédie administrative, touristique, artistique et
économique của Teston Eugène, Percheron Maurice, xuất bản ở Paris năm 1932.

3.ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU.
3.1.Đối tượng nghiên cứu.
Đây là đề tài tìm hiểu về sự biến đổi kinh tế của một kim vực kinh tế cụ thể : khu vực
kinh tế Nam Kỳ từ năm 1860 đến năm 1939 nên nhất thiết phải thông qua hoạt động của

17


một đầu mối giao thương hàng hóa cụ thể thì việc đánh giá, kết luận mới chính xác và khoa
học. Đầu mối giao thương đó chính là Cảng Sài Gòn. Chúng tôi thiết nghĩ : hoạt động xuất,
nhập hàng hóa qua cảng Sài Gòn thời kỳ 1860 -1939 nếu được thống kê, miêu tả đầy đủ sẽ
góp phần so sánh, đánh giá sự biến đổi của kinh tế Nam Kỳ thời Pháp thuộc so với nền kinh
tế trước đó (thời nhà Nguyễn). Mặt khác có thể có những đóng góp thực tiễn khi tìm hiểu
tác động giữa các ngành kinh tế của Nam Bộ với cảng Sài Gòn hiện nay.
3.2.Phạm vi nghiên cứu.
Như tên đề tài đã ghi rõ, luận văn chỉ nghiên cứu sự biến đổi kinh tế Nam Kỳ thời
Pháp thuộc thông qua hoạt động giao thương của cảng Sài Gòn từ năm 1860 đến năm 1939.
Vì vậy phạm vi nghiên cứu của đề tài được xác định như sau :
Không gian nghiên cứu của đề tài là khu vực Nam Kỳ (chủ yếu là khu vực đồng bằng
sông cửu Long và vùng Đông Nam Bộ, nơi sản xuất hai mặt hàng xuất khẩu chính là lúa gạo
và cao su) với chủ thể là hoạt động của cảng Sài Gòn từ năm 1860 đến năm 1939. Tuy nhiên
luận văn có dành một phần nhất định đề cập đến thành phố Sài Gòn, nơi được xem như là
trung tâm kinh tế, hành chánh, tài chính, thương mại lớn của Nam Kỳ và của Nam Đông
Dương lúc bấy giờ.
Thời gian nghiên cứu của đề tài được giới hạn bởi hai mốc:
- Mốc mở đầu, năm 1860 là năm cảng Sài Gòn thành lập. Bắt đầu từ đây, hoạt động
giao thương của Nam Kỳ nói chung và Sài Gòn nói riêng ngày càng nhộn nhịp.
- Mốc kết thúc là năm 1939: trên thực tế cũng là năm kết thúc công cuộc khai thác
thuộc địa lần thứ 2. Từ năm 1940 - 1945, phát xít Nhật vào Đông Dương. Từ đó cho đến
trước Cách mạng Tháng Tám, cảng Sài Gòn về cơ bản chỉ phục vụ những đòi hỏi của phát

pháp này, luận án có thể nghiên cứu cụ thể các hình thức, hình thái trong sự tiến hóa và phát
triển của những sự kiện, biến cố theo thời gian; đồng thời nắm bắt quan hệ biện chứng, quan
hệ nhân quả cụ thể của sự vật, hiện tượng lịch sử. Các chương mục, các vấn đề nghiên cứu
đều được trình bày theo trình tự thời gian. Một phần quan trọng của luận án là hoạt động
của Cảng Sài Gòn từ 1860 - 1939 được đặt trong bối cảnh chung của nền kinh tế thuộc địa ở
Nam Kỳ, một nền kinh tế hoàn toàn bị chi phối bởi chính sách vơ vét và bóc lột của chủ
nghĩa thực dân Pháp. Vì vậy các vấn đề, các sự kiện lịch sử cụ thể đều được đặt trong những

19


giai đoạn và thời điểm cụ thể gắn liền với quá trình khai thác thuộc địa của thực dân Pháp ở
Nam Kỳ.
Mặt khác, để giải quyết nội dung khoa học, đề tài còn sử dụng phương pháp hệ thống
cấu trúc. Vì toàn bộ nền kinh tế cũng như xã hội Nam Kỳ là một hệ thống liên hoàn có
những mối liên hệ hữu cơ. Sự hiện diện của các yếu tố kinh tế mới là điều kiện tạo nên toàn
bộ nền kinh tế thuộc địa Nam Kỳ. Từ cơ sở kinh tế đó lại xuất hiện các lực lượng xã hội và
giai cấp tương ứng.
Hỗ trợ cho phương pháp lịch sử và phương pháp lô - gích là phương pháp liên ngành,
chủ yếu là sử dụng những phạm trù, khái niệm và phương pháp của kinh tế chính trị học.
Phương pháp thống kê phân tích nhằm hệ thống các số liệu, dữ kiện làm cơ sở để kết hợp
đồng thời với phương pháp tổng hợp rút ra những kết quả tổng hợp, đáp ứng yếu cầu của
một đề tài lịch sử kinh tế. Trong luận văn, chúng tôi sử dụng nhiều chỉ số thống kê, xem con
số như là một dữ kiện, thông qua đó phát hiện mối liên hệ giữa chỉ số và hiện tượng để rút
ra những kết luận cần thiết.
Ngoài ra phương pháp so sánh được vận dụng nhằm làm sáng tỏ những hoạt động và
biến đổi của kinh tế Nam Kỳ so với các thời kỳ trước và sau đó.
Cuối cùng, phương pháp địa lý học (vùng địa lý kinh tế- văn hóa) được sử dụng để
khắc phục những hạn chế nhất định của phương pháp lịch sử. Trong điều kiện cụ thể của
luận án, phương pháp lịch sử không có điều kiện nêu lên sự khác biệt của những địa phương

đất nước.

6.CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN:
Ngoài phần dẫn luận và phần kết luận, luận án được cấu tạo thành 2 chương:
Chương 1: CẢNG SÀI GÒN TRONG BỐI CẢNH HÌNH THÀNH NỀN KINH TẾ
THUỘC ĐỊA Ở NAM KỲ.
Chương này đề cập đến:
- Những điều kiện tự nhiên và lịch sử của Nam Kỳ.
T
7
1

- Hoàn cảnh lịch sử thành lập cảng Sài Gòn và hoạt động của cảng thời kỳ 1860 - 1896,
T
7
1

trước khi diễn ra chương trình khai thác thuộc địa của thực dân Pháp ở Nam Kỳ.
Luận án đi sâu phân tích chủ trương của thực dân Pháp trong việc thiết lập cảng ỏ Sài Gòn

T
7
1

đồng thời tìm hiểu rõ về cơ sở vật chất, quy mô phát triển và quy chế hoạt động của cảng Sài Gòn
từ 1860 - 1939. Thông qua đó xác định cảng Sài Gòn là một đầu mối giao thương, một phương tiện
thực thi hữu hiệu chính sách khai thác và bóc lột thuộc địa của thực dân Pháp ở Nam Kỳ.

21


1

thời kỳ được phân tích, lý giải tạo cơ sở để xác định quy mô, tính chất của từng đợt khai thác góp
0
2
T
7
1

0
2
T
7
1

phần xác định mô hình kinh tế thuộc địa ở Nam Kỳ về cơ cấu tổ chức và guồng máy điều hành.
3. Khắc họa sự biến đổi của kinh tế Nam Kỳ thời Pháp thuộc (1860 -1939) về cả hai mặt
T
7
1

lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trên cơ sở phân tích sự xuất hiện những nhân tố mới tư bản chủ
nghĩa (như hạ tầng kinh tế, tài chính ngân hàng và các ngành kỹ nghệ hiện đại) vào hoạt động kinh
tế truyền thống của Nam Kỳ.
4.Làm
T
7
1



khẩu chính của Nam Kỳ như miền Đông và miền Tây Nam Kỳ cũng đã ngày càng phát triển gắn bó,
tạo nên một tổng thể kinh tế vùng vừa là đầu mối giao thương với thị trường khu vực và thế giới
vừa có tác dụng thúc đẩy kinh tế Nam Kỳ phát triển.
Cuối cùng, để kết luận, luận án một lần nữa nhấn mạnh vị trí của cảng Sài Gòn đối với kinh tế
T
1
2

Nam Kỳ trong quá khứ, cụ thể là trong thời Pháp thuộc từ đó nhận định về những hạn chế, tiềm
năng và triển vọng của cảng Sài Gòn đối với vùng kinh tế Nam Bộ trong sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa hiện tại và tương lai.

22


23


Chương 1: Cảng Sài Gòn trong bối cảnh hình thành nền kinh tế thuộc
địa ở Nam Kỳ.

1.1.NAM KỲ : NHỮNG ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ LỊCH SỬ.
Nam Kỳ là vùng đất Nam Bộ hiện nay. So với cả nước, đây là một vùng mới khai phá
và trải qua nhiều tên gọi khác nhau : Phủ Gia Định (1698), Gia Định kinh (1790) - năm Gia
Long cho xây thành Bát Quái, Gia Định trấn thành (1808) và Nam Kỳ (1834) lúc này gồm 6
tỉnh (Nam Kỳ lục tỉnh). Thời thực dân Pháp thống trị, tên gọi Nam Kỳ vẫn giữ nguyên
nhưng chia thành 21 tỉnh. Trong luận án, chúng tôi xin được thống nhất chọn danh xưng Nam Kỳ
17T

để chỉ vùng đất nêu trên.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status