Kinh đào ở Nam kỳ thời Pháp thuộc - Pdf 16

Kinh đào ở Nam kỳ thời Pháp thuộc
Nguyễn Thành Lợi
Năm 1866, ngay khi chưa chiếm được 3 tỉnh miền Tây Nam kỳ, thực dân Pháp đã nghĩ ngay đến
việc đào những con kinh nhằm phục vụ cho các cuộc hành quân bình định bằng đường thủy, một
thế mạnh của đội quân thực dân. Đô đốc Dupré cho hai tàu cuốc đi theo hải quân đến nạo vét và
mở rộng kinh Bến Lức và kinh Trạm (arroyo de la Poste, kinh Bảo Định). Kinh Bảo Định dài 22
km, nối liền sông Vàm Cỏ Tây nơi thị xã Tân An bây giờ với sông Mỹ Tho (Tiền giang nay). Một
kế hoạch đánh chiếm 3 tỉnh miền Tây bằng con đường thuỷ ngắn nhất từ Sài Gòn đến đồng bằng
sông Cửu Long được vạch ra.
Năm 1867, sau khi chiếm xong 6 tỉnh Nam kỳ, Pháp thành lập ngay một uỷ ban nằm trong Soái
phủ Sài Gòn, nghiên cứu xác định những kinh rạch cần ưu tiên nạo vét, mở rộng theo thứ tự
trước sau nhằm nhiều mục đích, nhưng quân sự vẫn nổi lên hàng đầu. Các đoạn kinh rạch nạo
vét trong giai đoạn này không có tên, thường dựa trên những đoạn kinh rạch sẵn có.
Năm 1875, Pháp thành lập một uỷ ban thường trực lo việc hoàn chỉnh hệ thống đường thuỷ từ
Sài Gòn đi các tỉnh miền Tây. Uỷ ban được Dupré (lúc này đã chuyển sang dân sự) duyệt cho
phép lấy dân phu Việt Nam đào kinh. Ngoài việc nạo vét các kinh cũ, đến năm 1879 đã đào xong
các kinh: Cột Cờ (còn có các tên Mirador - Vọng Gác, Nước Mặn, Hiến Binh, 1875), Trà Ôn
(1876), Chợ Gạo (1876), Sét Nay (1878), Phú Túc (1879), Xanh Ta (1879). Những lợi ích về
kinh tế luôn gắn liền với mục đích quân sự từ những con kinh đào vào buổi đầu của chính quyền
thuộc địa. Tuy nhiên, việc đào kinh từ 1874 đến 1884 cũng chỉ mang tính thử nghiệm của giới
quân sự chứ chưa phải của các nhà đầu tư tư bản vào Nam kỳ.
Từ năm 1880 - 1890, ở Nam kỳ thực dân Pháp đã đào được 2,1 triệu m
3
đất kinh rạch, tăng được
169.000 ha đất canh tác so với thời Nguyễn. Trung bình cứ đào 12 m
3
đất thì có thêm 1 ha canh
tác. Phần lớn là nạo vét, mở rộng các kinh có sẵn, chưa theo một quy hoạch chuyên môn nào.
Một số kinh đáng kể như: Ba Lăng, Cái Côn, Carabelli, Bocquillon, Kế Sách, Thạnh Lợi, Bà
Tích, Trà Nóc, Ông Trương, Cái Mương.
Dân nghèo phiêu tán tự động kéo nhau đến cất lều trên bờ kinh, khai khẩn ruộng đất. Diện tích

sông Mân Thít, đào kinh Lấp Vò, cải tạo kinh Ba Xuyên - Thạnh Lợi, đào kinh Cổ Chiên đi Trà
Vinh ở vùng giữa hai sông.
Từ 1906 - 1908, đào thêm một đoạn kinh ở Sài Gòn, song song với kinh Tàu Hủ (thường gọi là
kinh Đôi); đào kinh Hậu Giang - Long Mỹ, trên cánh đồng Cần Thơ - Sóc Trăng; tiếp tục mở
rộng kinh Saintenoy. Từ 1906 - 1910, đào sâu mở rộng kinh Chợ Gạo cũng trên cánh đồng Cần
Thơ - Sóc Trăng. Đào thêm các kinh mới: Phụng Hiệp, Phổ Dương, Xẻo Von, Carabelli, Mang Cá,
Ba Rinh, Lacoste. Bắt đầu đào kinh Cái Lớn đi Trèm Trẹm. Vùng giữa sông Tiền - sông Hậu đào
xẻ cù lao May, mở rộng kinh Cổ Chiên - Trà Vinh, đào sâu sông Mân Thít; đào các kinh Chàng
Ré (1917), Nàng Rền (1911), Thốt Nốt - Cái Bè. Từ 1911 - 1913, mở rộng kinh Bassac - Long
Mỹ, Ba Xuyên - Ô Môn, Sóc Trăng - Phụng Hiệp, Hậu Giang - Long Mỹ, Bạc Liêu - Cà Mau và
kinh Tiếp Nhựt. Ở Bến Tre chỉ đào kinh Mỏ Cày.
Khối lượng đào kinh tăng vọt lên, chỉ trong 9 năm (1905 - 1913), khối lượng đào kinh bằng tàu
cuốc đã lên đến 37,5 triệu m
3
.
Ngày 23 - 5 - 1913, một cuộc đấu thầu lần thứ ba, Công ty đào sông và các việc công chính Đông
Dương lại trúng thầu chương trình đào kinh 1913 - 1918. Nhưng do ảnh hưởng của chiến tranh
thế giới thứ nhất, hợp đồng phải thay đổi rất nhiều lần và gia hạn lại trong các năm 1927, 1928,
1929.
Từ 1914 - 1929, tàu cuốc đã đào 177 triệu m
3
đất kinh. Nếu cộng cả kinh đào xáng và đào tay thì
đã có con số 1.664 km. Những kinh đào lớn trong đợt này bao gồm: cải tạo mở rộng kinh Ô Môn
- Thị Đôi (1917 - 1918), đào kinh Ba Rinh (1925), kinh Sóc Trăng - Bố Thảo (1914 - 1915),
kinh Cái Lớn (1925 - 1926).
Quy mô nhất trong đợt này là đào kinh Rạch Giá - Hà Tiên, được tiến hành vào cuối thời kỳ,
đánh dấu một bước thực dân chuyển sang khai thác vùng tứ giác Long Xuyên. Khu khai thác
rộng trên 220.000 ha, nằm giữa Rạch Giá - Hà Tiên - Tri Tôn. Đây là vùng ngập úng quanh năm,
phủ đầy lau sậy và rừng tràm, phèn tích đọng lâu năm, một vùng hoang vu rộng lớn. Năm 1926,
thiết kế được duyệt, gồm một kinh chính Rạch Giá - Hà Tiên đi song song với bờ biển trên chiều

kinh vào những năm 1899 - 1903 (cùng với các kinh Cờ Nhíp, Đá Biên), nối sông Vàm Cỏ Tây ở
đầu phía đông và kinh Phước Xuyên, kinh Đông Tiến ở đầu phía tây tại ngã tư gãy Cờ Đen.
Kinh có chiều dài 45 km, rộng 40 m, sâu 4 m. Đây là đường thuỷ quan trọng từ miền Đông về
miền Tây qua ngõ Vàm Cỏ Tây theo hai hướng: kinh Đông Tiến hoặc kinh Phước Xuyên. Năm
1925 - 1927, kinh được hãng thầu Pháp là Monvéneux tổ chức nạo vét với quy mô lớn hơn. Kinh
được đặt tên là Lagrange, ngoài ra còn có những tên khác như kinh Ông Lớn, kinh Cùng. năm
1947, chính quyền cách mạng đổi tên kinh Lagrange thành kinh Dương Văn Dương, Khu bộ phó
khu 7, hy sinh trong một cuộc hành quân Bến Tre, được truy phong hàm thiếu tướng. Ngày nay,
con kinh này tiếp nhận nước ngọt từ sông Tiền để tưới cho những cánh đồng hai vụ của huyện
Tân Thạnh (Long An).
Năm 1907, trong cuộc họp của Hội đồng Thuộc địa, Tổng thanh tra công chính Đông Dương
A.Pounyanne đưa ra một quy hoạch vừa đào mới vừa nạo vét, mở rộng cải tạo các kinh:
Lagrange, Tổng Đốc Lộc, Đá Biên, Phủ Sửu, Tân Châu - Vàm Cỏ, cù lao Sung, cù lao Tây - Vàm
Cỏ. Nhưng cho đến năm 1914 cũng chỉ khảo sát mà thôi.
Tỉnh Cần Thơ, khoảng từ 1900 - 1920, có hơn 350 km kinh đào thêm nối qua Rạch Giá và Sóc
Trăng. Năm 1915, Pháp lại cho nạo vét và cải tạo kinh Giây Thép (sông Bảo Định). Năm 1917, cải
tạo rạch Ba Rài, đào những đoạn bị ngắt quãng. Năm 1918, cải tạo kinh Tổng Đốc Lộc. Từ 1923 -
1925, đào kinh nối rạch Thương Mại với sông Mỹ Tho. Từ 1921 - 1924, cải tạo mở rộng kinh
Tổng Đốc Lộc và kinh số 4. Từ 1927 - 1931, đào nối kinh số 4 một đoạn 4 bis và kinh Lagrange.
Tính đến năm 1930, khối lượng đào kinh bằng tàu cuốc ở đồng bằng sông Cửu Long là 155 triệu
m
3
, khối lượng này gia tăng đều đặn hàng năm. Sang đến năm 1936, Pháp đã cho đào 1.360 km
kinh chính, 2.500 kinh phụ và hàng ngàn km kinh nhỏ với kinh phí lên đến 58 triệu đồng.
Công bằng mà nói, với hệ thống kinh đào được thực hiện trong khoảng 80 năm ở Nam kỳ, người
Pháp đã làm thay đổi hẳn diện mạo nông nghiệp ở đồng bằng sông Cửu Long. Diện tích đất canh
tác được mở rộng không ngừng, đồng nghĩa với sản lượng lúa ngày một tăng, hình thành nên thị
trường hàng hoá trên lĩnh vực nông nghiệp. Giao thông vận tải cũng phát huy hiệu quả qua hệ
thống giao thông đường thủ. Đó là những tiền đề quan trọng giúp cho việc phát triển sản xuất, đời
sống và bảo đảm an ninh lương thực của cả nước ở một vựa lúa lớn nhất nước.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status