Thi cử và nền giáo dục Việt Nam dưới thời Pháp thuộc - Pdf 30

THI CỬ VÀ NỀN GIÁO DỤC
VIỆT NAM DƯỚI THỜI PHÁP THUỘC
Năm Nhâm Tuất 1862 Pháp chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ gồm 3 tỉnh
Gia Định, Định Tường và Biên Hòa. Năm Đinh Mão 1867 Pháp chiếm ba
tỉnh miền Tây Nam Kỳ là Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên. Hòa ước năm
Giáp Tuất 1874 công nhận chủ quyền của Pháp trên toàn thể lãnh thổ Nam
Kỳ. Nam Kỳ trở thành thuộc địa (colonie) của Pháp.
Hai hòa ước năm Quí Mùi 1883 và Patenôtre năm Giáp Thân 1884 công
nhận quyền bảo hộ của Pháp ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ. Bắc Kỳ và Trung Kỳ
trở thành đất bảo hộ (protectorat) của Pháp. Ở miền Bắc, trên danh nghĩa,
triều đình Huế còn quyền hành nhưng trên thực tế mọi việc do người Pháp
điều khiển. Trung Kỳ do triều đình Huế cai trị nhưng được đặt dưới sự kiểm
soát chặt chẽ của Pháp (1).
Khi đô hộ Việt Nam, nhu cầu cấp bách của người Pháp là phải hủy diệt
nền Nho học và thay thế bằng một hệ thống giáo dục phục vụ cho guồng
máy cai trị. Do đó, chiếm được Nam Kỳ xong là người Pháp lập tức khai tử
nền giáo dục Nho học. Năm 1864 là kỳ thi Hương cuối cùng ở Nam Kỳ (tổ
chức ở ba tỉnh miền Tây trước khi bị Pháp chiếm). Từ 1878 chữ Hán trong
giấy tờ công văn các cơ quan hành chánh được thay thế bằng chữ Pháp và
chữ quốc ngữ.
Ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ, dưới quy chế bảo hộ, sự thay đổi về giáo dục chậm
hơn. Kỳ thi Hương cuối cùng ở Bắc là năm Ất Mão 1915, và ở Huế năm
Mậu Ngọ 1918. Chế độ giáo dục và khoa cử Nho học thực sự cáo chung với
khoa thi Hội chót năm Kỷ Mùi 1919 ở Huế. Tuy vậy mãi đến năm 1932 bộ
máy quan lại của triều đình mới bỏ việc dùng chữ Hán và thay thế bằng chữ
Pháp hay chữ quốc ngữ.
MỤC ĐÍCH NỀN GIÁO DỤC CỦA NGƯỜI PHÁP Ở VIỆT NAM
Nhìn thấy quá khứ Việt Nam nặng về Hán học, chủ tâm của người Pháp là
muốn cắt đứt liên lạc văn hóa giữa người Việt với người Tàu. Để đạt mục
đích hướng tinh thần người Việt về với Pháp, chữ Hán cũng như chữ Nôm
cần phải triệt bỏ (2) và thay thế bằng chữ Pháp, còn văn tự cho tiếng nói

thường là tiếng Anh ở bậc Tú Tài. Chữ Hán được học theo tự nguyện. một
tuần một giờ ở các lớp trên của bậc tiểu học nếu có thày dạy.
Để điều hành, Pháp thiết lập tại mỗi kỳ một Sở Giáo Dục Cho Người Bản
Xứ (Service de L'Enseignement Local) do một Chánh Sở (Chef de Service)
người Pháp đứng đầu. Các cơ sở giáo dục này đặt trực thuộc tòa Khâm Sứ.
Mọi sự bổ nhiệm, thuyên chuyển, thăng thưởng, kỷ luật các giáo chức từ bậc
tiểu học trở lên đều phải do khâm Sứ quyết định. Khi Pháp thành lập liên
bang Đông Dương (gồm Bắc, Trung, Nam Kỳ, Cao Miên và Lào), một số
việc phải được Toàn Quyền Đông Dương (Gouverneur de l'Indochine)
chuẩn y. Nha Học Chính Đông Pháp (Direction de l'Instruction Publique de
l'Indochine) ra đời do một Giám Đốc người Pháp chỉ đạo trực tiếp 5 sở giáo
dục của liên bang Đông Dương. Năm 1933, Phạm Quỳnh được Bảo Đại bổ
nhiệm làm Thượng Thư Bộ Học. Nhờ sự đòi hỏi quyết liệt của họ Phạm,
Pháp phải nhượng bộ cho Việt Nam quyền quản lý các trường tiểu học ở
Trung Kỳ nhưng dưới sự kiểm soát của tòa Khâm Sứ Pháp.
Hệ thống giáo dục Pháp-Việt gồm 2 phần: giáo dục phổ thông và giáo dục
cao đẳng chuyên nghiệp, đại học.
TỔ CHỨC CỦA HỆ THỐNG GIÁO DỤC PHỔ THÔNG PHÁP-VIỆT
Trong thời kỳ phôi thai, Pháp thiết lập vài trường để làm nòng cốt cho hệ
thống giáo dục phổ thông là các trường trung học Le Myre de Vilers ở Mỹ
Tho (1879) (6), trường Quốc Học Huế (1896), trường trung học Bảo Hộ
(Collège du Protectorat) tức trường Bưởi Hà Nội (1908) (7). Ba trường này
khi mới mở chỉ có bậc tiểu học, mấy chục năm sau mới giảng dạy đến các
bậc cao hơn. Riêng chỉ có 2 trường Quốc Học Huế và trường Bưởi sau này
có đến bậc Tú Tài. Từ 1910 đến 1930 là thời kỳ hình thành hệ thống giáo
dục có tính cách hệ thống. Từ 1930 đến 1945 là thời kỳ tổ chức hệ thống
giáo dục cho người bản xứ của Pháp ở Việt Nam đã được hoàn chỉnh.

Song song với hệ thống giáo dục phổ thông Pháp-Việt, Pháp thiết lập 3
trường hoàn toàn như ở Pháp dành riêng cho con cái người Pháp ở Việt Nam

học hoàn toàn giống nhau như Sử. Địa, Ngoại Ngữ. Có những môn giống
nhau nhưng số giờ học khác nhau như Đại Số, Thiên Văn. Có những môn
chỉ học ở ban này mà ban kia không có như ban Triết có Tâm Lý Học, Siêu
Hình Học, ban Toán có Hình Học, Cơ Học, Số Học. Từ niên học 1937-1938
trên toàn cõi Việt Nam đều áp dụng chương trình Pháp-Việt đủ 3 ban: Toán,
Khoa Học, Triết. Ngoài ban mình học, học sinh được phép thi tốt nghiệp
các ban khác nhưng phải tự học thêm những môn mà ở ban mình theo học
không có. Học sinh cũng được phép thi bằng Tú Tài Pháp. Học xong năm
này thi lấy bằng Tú Tài Toàn Phần (Certificat de Fin d'Études Secondaire
Franco-Indigènes). Học sinh tốt nghiệp 2 hoặc 3 ban hoặc thêm bằng Tú Tài
Pháp (10) được ưu tiên khi thi vào các trường Đại Học có thi tuyển như các
trường Grandes Écoles ở Pháp hoặc các trường Cao Đẳng Chuyên Nghiệp ở
Hà Nội lúc đó.
Từ niên học 1926-1927 Pháp thiết lập thêm chế độ Tú Tài Bản Xứ
(Baccalauréat Local) học thêm các môn về văn chương Việt Nam, lịch sử,
triết học Đông Phương và Cận Đông (Ấn Độ, Trung Hoa, Do Thái). Chương
trình rất nặng, bị chỉ trích và ta thán rất nhiều nên đã bị hủy bỏ từ niên học
1937-1938.
CÁC ĐẶC ĐIỂM CỦA NỀN GIÁO DỤC PHỔ THÔNG PHÁP-VIỆT
Một đặc điểm của nền giáo dục phổ thông Pháp-Việt là hễ có bằng Tú Tài
Toàn Phần thì đương nhiên được vào học các trường Đại Học (Université),
nhưng muốn vào các trường Cao Đẳng thì phải qua một kỳ thi tuyển rất
khó. Trước 1945, Việt Nam chỉ có một trường Đại Học và vài trường Cao
Đẳng Chuyên Nghiệp ở Hà Nội như Sư Phạm, Canh Nông, Thú Y, Công
Chánh và Mỹ Thuật.
Một đặc điểm khác nữa là chương trình học do nhà nước quy định có tính
cách bắt buộc trong việc giảng dạy nhưng sách giáo khoa lại hoàn toàn do
các nhà xuất bản mời người biên soạn và các sách này chỉ được dùng để
tham khảo mà thôi. Tất nhiên những sách giáo khoa do các nhà giáo có kinh
nghiệm và uy tín được sử dụng nhiều hơn. Riêng ở bậc Tiểu Học sách giáo

Kỳ), Sài Gòn, Cần Thơ, Mỹ Tho (Nam Kỳ). Các trường Cao Đẳng Tiểu
Học dành riêng cho nữ sinh chỉ có ở Hà Nội (trường Đồng Khánh), Huế
(trường Đồng Khánh), Sài Gòn (trường Gia Long còn gọi là trường Áo
Tím). Bậc Trung Học (bậc Tú Tài) chỉ có ở Hà Nội (trường Bưởi), Huế
(trường Khải Định), Sài Gòn (trường Pétrus Ký). Mỗi trường có khoảng từ
100 đến 200 học sinh. Bậc Tú Tài cũng có ở các trường hoàn toàn Pháp tại
Hà Nội (trường Albert Sarraut), Sài Gòn (Chasseloup Laubat).
Ngoài hệ thống trường công còn có các trường tư phần lớn do giáo hội Thiên
Chúa Giáo xây dựng ngay từ những ngày đầu Pháp chiếm Việt Nam. Hai
trường của Thiên Chúa Giáo có tiếng là trường Pellerin ở Huế và trường
Taberd ở Sài Gòn. Sau năm 1930 có một số tư thục do tư nhân mở ra ở Hà
Nội, Huế, Sài Gòn và ở một vài tỉnh lỵ lớn đa số là các trường bậc Tiểu
Học. Tư thục bậc Cao Đẳng Tiểu Học chỉ có ở Hà nội, Huế và Sài gòn.
Riêng tư thục bậc Tú Tài chỉ có ở Hà Nội và Sài Gòn. nhưng chỉ có lớp cho
2 năm đầu vì học sinh đậu Tú Tài phần thứ nhất đương nhiên được thu nhận
vào trường công.
Hệ thống giáo dục phổ thông Pháp-Việt do Pháp thiết lập rất nhỏ. Trước
nhất vì đó là một chương trình giáo dục chỉ nhằm đào tạo một số người thừa
hành cho mục tiêu cai trị và khai thác của người Pháp. Thứ nũa vì dân số
nước ta lúc đó không nhiều, chỉ có khoảng 20 triệu người (12). Sau khi
Nhật đảo chánh Pháp ở Đông Dương chương trình giáo dục phổ thông Pháp-
Việt bị bãi bỏ ở Bắc và Trung Kỳ năm 1945 và được thay thế bằng chương
trình Hoàng Xuân Hãn. Riêng miền Nam đến khi quốc trưởng Bảo Đại
thành lập chính quyền quôc gia mới chấm dứt áp dụng chương trình giáo dục
Pháp-Việt vào năm 1949.
Kỳ sau: Hệ Thống Giáo Dục Cao Đẳng và Đại Học Pháp-Việt
TRẦN BÍCH SAN
CHÚ THÍCH
(1) Ở Huế có tòa Khâm Sứ, mỗi tỉnh có tòa Công Sứ. Mọi việc lớn nhỏ ở
tỉnh phải báo cáo cho tòa Công Sứ, triều đình nhà Nguyễn phải báo cáo cho

(7) Bưởi là tên làng Thụy Khê gần Hà Nội, trường Bưởi là tiền thân của
trường Chu Văn An ngày nay.
(8) Dưới thời Đệ Nhất VNCH đổi thành J. J. Rousseau, nay là trường Lê
Quý Đôn.
(9) Lớp Nhì năm thứ 2 (Cours Moyen 2ème année) này đến niên học 1927-
1928 mới áp dụng. Như vậy từ năm 1900 đến 1927 học sinh Tiểu Học chỉ
học 5 năm (nghị định ngày 18/09/1924 của Toàn Quyền Merlin ký sửa đổi
một phần Học Chánh Tổng Quy của Toàn Quyền Albert Sarraut ký ngày
21/12/1917).
(10) Bằèng Tú Tài Pháp-Việt hoặc Tú Tài Bản Xứ có giá trị như bằng Tú
Tài Pháp (sắc lệnh của Toàn Quyền Đông Dương ký ngày 12/10/1930)
nhung nhờ chương trình học của Tú Tài Pháp-Việt và Tú Tài Bản Xứ nặng
hơn chương trình học của Tú Tài Pháp nên có nhiều học sinh trường Bưởi và
Pétrus Ký một năm đỗ 2 hoặc 3 bằng Tú Tài như các ông Nguyễn Quang
Xước (Luật Sư), Nguyễn Hữu (Thạc Sĩ Y Khoa), Hoàng Cơ Thuỵ (Bác Sĩ),
Phạm Biểu Tâm (Thạc Sĩ Y Khoa), Vũ Văn Mẫu (Thạc Sĩ Luật), Chương
Văn Vĩnh (Dược Sĩ) v.v.
(11) Trước năm 1945 học vị Thạc Sĩ (Agrégé) không giống học vị Thạc Sĩ
(Master) được sử dụng hiện nay ở Việt Nam (năm 2004).
(12) Theo V. Thompson trong French Indochina, London, 1967 thì tính đến
năm1939 ở Việt Nam có:
- Bậc Trung Học: 4 trường, 553 học sinh
- Cao Đẳng Tiểu Học: 19 trường, 5,637 học sinh
- Sơ Đẳng Tiểu Học: 447 trường, 149,805 học sinh
- Sơ Học: 3,521 trường, 236,720 học sinh
- Các loại giáo huấn khác: 3,143 trường, 132,212 học sinh (theo Nguyễn Thế
Anh dẫn trong Việt Nam Dưới thời Pháp Đô Hộ, nxb Lửa Thiêng, Sài Gòn,
1970)
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Bộ Quốc Gia Giáo dục, Chương Trình Trung Học, Nhóm Cựu Học Sinh

Trường Cao Đẳng (École Supérieure): là loại trường chuyên nghiệp, nhập
học phải hội đủ điều kiện văn bằng đòi hỏi và qua một kỳ thi tuyển
(concours). Trúng tuyển được cấp học bổng ăn học suốt học trình. Tốt
nghiệp phải làm việc cho chính quyền (trong lãnh vực chuyên nghiệp do
trường đào tạo) một thời gian ấn định (1), nếu không, theo nguyên tắc, phải
bồi thường tiền học bổng. Các trường cao đẳng, đào tạo các chuyên viên có
nghề nghiệp nhất định như bác sĩ, kỹ sư, công chức, giáo sư , chương trình
học có qui củ và kỷ luật chặt chẽ.
Trường Đại Học (Université): muốn nhập học các trường đại học chỉ cần đủ
điều kiện về văn bằng đòi hỏi mà không phải qua một kỳ thi tuyển. Việc thu
nhận sinh viên không hạn định tuổi tác và số lượng. Chương trình học chú
trọng đào tạo một căn bản vững chãi cho tri thức chuyên ngành nào đó
nhưng không nhất thiết đóng khung trong một lãnh vực nhất định và cũng
không mang tính chất nghề nghiệp bắt buộc như các trường cao đẳng chuyên
nghiệp. Sinh viên phải tự túc về học phí (ngoại trừ những sinh viên xuất sắc
được học bổng). Khi tốt nghiệp chính quyền không có nhiệm vụ cung cấp
việc làm, cá nhân phải tự tìm kiếm.

CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG VÀ ĐẠI HỌC ĐÔNG DƯƠNG
Ngoại trừ trường Y Dược và Công Chánh được thành lập từ đầu thế kỷ thứ
20, các trường cao đẳng và đại học đã được thành lập vào khoảng cuối đệ
nhất thế chiến (trong khoảng từ năm 1917 đến 1924). Ngày 21/12/1917 toàn
quyền Đông Dương Albert Sarraut ra nghị định ban hành Học Chánh Tổng
Qui ở Đông Dương (Règlement Général de l'Instruction Publique en
Indochine) nhằm mục đích thực hiện một cách qui mô chính sách của Pháp
đối với các nước ở Đông Dương. Sau đó, Qui Chế Tổng Quát về Giáo Dục
Cao Đẳng ở Đông Dương (Règlement Général de l'Enseignement Supérieur
en Indochine) được toàn quyền Đông Dương ban hành bằng nghị định ngày
25/12/1918. Lúc đầu, điều kiện để được theo học các trường thuộc hệ thống
cao đẳng và đại học là phải có bằng cao đẳng tiểu học (tức bằng thành

do nghị định ngày 05/09/1917, trực thuộc Sở Thú Y Bắc kỳ, nhằm đào tạo
phụ tá thú y sĩ với học trình 4 năm. Từ 1918 đến 1925, điều kiện phải có
bằng cao đẳng tiểu học. Trường nhận học viên không qua kỳ thi tuyển, tốt
nghiệp thành y sĩ thú y. Từ 1925 đến 1935 phải có bằng cao đẳng tiểu học
hoặc bằng tú tài và phải qua kỳ thi tuyển. Từ 1935 đến 1940 trường đóng
cửa vì thiếu ngân sách. Từ 1941 trường mở cửa lại, phải có bằng tú tài và
khám sức khỏe mới được dự kỳ thi tuyển. Tốt nghiệp với văn bằng bác sĩ
thú y. Từ năm này trường được đặt dưới sự giám sát của Tổng Thanh Tra
Canh Nông và Chăn Nuôi (6).

Trường Pháp Chính (École de Droit et d'Administration): thành lập ngày
15/10/1917 (7), lúc đầu nhằm đào tạo quan lại "ngạch Tây" phục vụ cho
guồng máy cai trị của Pháp về hành chánh, tài chánh, tư pháp, học trình 3
năm, riêng ban tài chánh học 2 năm. Tốt nghiệp được bổ dụng làm tham
biện ở các công sở (còn gọi là tham tá), hoặc đi làm tri phủ, tri huyện ở các
tỉnh. Trường được đổi thành Cao Đẳng Học Viện Đông Dương (École des
Hautes Étude Indochinoises) do nghị định ngày 18/09/1924 với mục đích
đào tạo ở bậc cao học về luật pháp, chính trị, lịch sử và triết học. Muốn
nhập học phải có bằng tú tài bản xứ hay tú tài Pháp, chương trình học 3
năm. Ngày 11/09/1931 theo sắc lệnh của tổng thống Pháp đổi thành Trường
Cao Đẳng Luật Khoa Đông Dương (École Supérieure de Droit de
l'Indochine) (ù8). Năm 1941 đổi thành Trường Đại Học Luật Khoa (Faculté
de Droit).
Trường Cao Đẳng Sư Phạm (École Supérieure de Pédagogie) : toàn quyền
Albert Sarraut ký nghị định thành lập ngày 15/10/1917, nhằm đào tạo giáo
chức cho các trường sư phạm sơ cấp và các trường cao đẳng tiểu học, học
trình 3 năm. Từ sau năm 1920 thí sinh dự tuyển phải có bằng tú tài II.
Trường có 2 ban :
- Ban Văn Chương (Section des Lettres) : gồm các môn học về văn chương,
lịch sử, địa lý và triết học.

viên kỹ thuật cao cấp cho Sở Vô tuyến Điện (Service Radiotélégraphie)
(10)

Trường Cao Đẳng Văn Khoa (École Supérieure de Lettres): thành lập năm
1923 nhưng đến năm 1924 bị bãi bỏ và sát nhập với Trường Pháp Chính để
thành Trường Cao Học Đông Dương.
Trường Khoa Học Thực Hành (École des Sciences Appliquées): thành lập
năm 1923 nhưng vì thiếu giáo sư và học cụ nên chỉ được một thời gian ngắn
rồi bị bãi bỏ.
Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương (École des Beaux-Arts de
l'Indochine): Nghị định thành lập do toàn quyền Merlin ký ngày 27/10/1924,
chương trình học 3 năm do Sở Học Chánh quản trị. Giám đốc đầu tiên là
giáo sư Tardieur. Từ 1926 chương trình đổi thành 5 năm. Năm 1927 thêm
ngành kiến trúc. Năm 1928 thêm nghệ thuật sơn mài. Năm 1932 thêm
ngành khắc chạm kim loại (ciselure). Năm 1937 Jonchère thay Tardieur làm
giám đốc thêm ngành đồ gốm và đồ sứ. Năm 1938 đổi thành Trường Mỹ
Thuật và Mỹ Thuật Thực Hành Đông Dương (École des Beaux-Arts et des
Arts Appliqués) bằng nghị định ngày 21/05/1938 của toàn quyền Brévié.
Nghị định ngày 22/10/1942 đặt trường trực thuộc Viện Đại Học Đông
Dương (Université Indochinoise).
CHỦ TRƯƠNG CỦA PHÁP TRONG VIỆC THIẾT LẬP CÁC
TRƯỜNG CAO ĐẲNG VÀ ĐẠI HỌC
Năm 1907, trước cao trào thanh niên tìm cách xuất dương du học, người
Pháp muốn kìm hãm và ngăn chận phong trào Đông Du do Phan Bội Châu
khởi xướng, nên tuy việc xây dựng hệ thống giáo dục bậc trung học chưa
hoàn tất, toàn quyền Paul Beau (nhiệm kỳ 1902-1907) đã ra nghị định ngày
10/11/1907 thành lập Trường Đại Học Hà Nội gồm 5 trường cao đẳng là
Luật và Pháp Chính, Khoa Học, Y Khoa, Xây Dựng, Văn Chương (11).
Năm sau, 1908, toàn quyền Klobukowski (nhiệm kỳ 1908-1911) bãi bỏ việc
thành lập này, nhưng đến năm 1918 toàn quyền Albert Sarraut tổ chức lại và

de Plein Exercise de Médecine et de Pharmacie) thành Trường Đại Học Hỗn
Hợp Y Duợc (Faculté Mixte de Médecine et de Pharmacie), đổi tên Trường
Cao Đẳng Luật Khoa (École Supérieure de Droit) thành Trường Đại Học
Luật Khoa (Faculté de Droit) (14), mở lại Trường Cao Đẳng Thú Y và nâng
cao qui chế để đào tạo bác sĩ thú y, thiết lập Trường Cao Đẳng Khoa Học
(École Supérieure des Sciences) ở Hà Nội theo mô hình Trường Đại Học
Khoa Học (Faculté des Sciences) ở Pháp nhằm đào tạo sinh viên về các
chứng chỉ cử nhân khoa học.
- Năm 1944 Trường Công Chánh (École des Traveaux Publics) đổi thành
Trường Cao Đẳng Công Chánh (École Supérieure des Traveaux Publics) để
đào tạo kỹ sư và phó kỹ sư công chánh (Ingénieur et Ingénieur Adjoint
Indochinois des Traveaux Publics).
Đến giai đoạn này nếu xét về mặt qui chế thì các trường cao đẳng và đại học
mới thực sự có tính chất một nền giáo dục cao đẳng và đại học hiện đại nếu
so sánh với những trường tương đương lúc đó ở Pháp. Xét về thành phần
giáo chức thì hầu hết do người Pháp đảm nhận, người Việt chỉ đóng vai trò
trợ giảng mà thôi. Về phương diện vật chất thiết bị thì các trường Đông
Dương ở vị trí thấp nhất. Tuy nhiên, từ năm 1935 việc tuyển lựa, thi cử rất
gắt gao, kỷ luật học tập chặt chẽ. Sinh viên Việt Nam vốn thông minh và
chăm học nên phần lớn phẩm chất sinh viên tốt nghiệp đạt mục tiêu đào tạo
về mặt khoa học và chuyên môn.

KẾT LUẬN
Sau khi chiếm được toàn bộ Đông Dương người Pháp chuẩn bị và bắt tay
ngay vào việc khai thác thuộc địa. Tài lực và vật lực của Đông Dương đã
đóng góp một phần đáng kể cho nhu cầu của mẫu quốc, nhất là qua hai cuộc
thế chiến (15). Việc thiết lập các trường cao đẳng và đại học nằm trong
chính sách quan trọng của Pháp chủ yếu là cung cấp các cán sự phụ tá người
Pháp (được đào tạo ở Pháp sang), để việc khai thác tài nguyên và nhân công
của thuộc địa Đông Dương trở thành qui mô và hữu hiệu hơn. Việc nâng

viên năm thứ nhất có 14 người (Bắc Kỳ: 5, Trung Kỳ: 3, Nam Kỳ: 2, Cao
Miên: 4), năm thứ 2 có 8 người (Bắc Kỳ: 5, Trung Kỳ: 2, Nam Kỳ: 1), năm
thứ 3 có 5 người (Bắc Kỳ: 4, Nam Kỳ: 1).
(7) Trường Pháp Chính (École de Droit et d'Administration) là hậu thân của
Trường Hậu Bổ (École d'Apprentis Mandarins). Trường Hậu Bổ được thành
lập ở Hà Nội do nghị định của toàn quyền Đông Dương ngày 20/06/1903.
Nghị định ngày 18/04/1912 đổi tên trường Hậu Bổ thành Trường Sĩ hoạn
(ÉÙcole des Mandarins).
(8) Đến ngày 01/01/1953 một bộ phận của trường Đại Học Luật Khoa Hà
Nội được tách ra và thành lập tại Đà Lạt với tên là Trường Quốc Gia Hành
Chánh Đà Lạt, trực thuộc Bộ Quốc Gia Giáo Dục ở Sài Gòn, nhằm đào tạo
cán bộ hành chánh cao cấp. Đến năm 1954 trường được cải tổ sâu rộng, trực
thuộc Phủ Thủ Tướng. Năm 1955 trường chuyển về Sài gòn và dổi thành
Học Viện Quốc Gia Hành Chánh.
(9) Tính tới năm 1913 Trường Công Chánh đào tạo được 22 nhân viên kỹ
thuật. Niên khóa 1913-1914 tổng số học sinh là 58 người (Bắc Kỳ: 25,
Trung Kỳ: 6, Nam Kỳ: 23, Cao Miên: 4)
(10) Đến năm 1926 trường Cao Đẳng Thương Mại Đông Dương có tất cả 3
khoa. Niên khóa 1929-1930 trường có 53 sinh viên trong đó 30 người theo
học khoa thương mại.
11) Nam Phong Tạp Chí số tháng 05, 1922: "Trung học dự bị chưa có mà đã
đặt đại học như thế thì cũng trái ngược thật !".
(12) Năm 1924, Reynaud, Bộ Trưởng Thuộc Địa Pháp sang thăm Đông
Dương, khi đi qua cửa Trường Đại Học Hà Nội đã khen: "Ồ, cái bề mặt đẹp
quá !" (O, la belle facade !). Báo chí thời đó nhắc đến câu khen có hàm ý
này để phê bình thực chất của danh hiệu đại học và việc làm hình thức của
người Pháp ở Việt Nam.
(13) Toàn quyền Decoux thực hiện một số cải cách để mua lòng người Việt.
Danh từ Đông Dương thuộc Pháp (Indochine Francaise) được đổi thành
Liên Bang Đông Dương (Fédération Indochinoise). Nước Pháp giữ vai trò


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status