Một số vấn đề cơ bản cần giải quyết để đổi mới căn bản và toàn
diện nền giáo dục Việt Nam
PGs.Ts. Trần Thanh Ái
(Khoa Sư Phạm)
Ngày 9/11/2011, Chương trình phát triển LHQ (UNDP) công bố báo cáo phát
triển con người, theo đó, nước ta được xếp hạng 128/187 quốc gia, trong khu vực
ASEAN chỉ đứng trên Lào và Campuchia. « Nếu dựa vào số liệu của báo cáo phát
triển con người của UNDP, thành tích giáo dục của Việt Nam dường như đang thụt
lùi » (Giáp văn Dương, 2011, tr.25).
Đi vào những vấn đề cụ thể, chỉ cần lướt qua báo chí Việt Nam trong những
ngày trước và sau Ngày Nhà giáo Việt Nam vừa qua cũng có thể cảm nhận được rằng
ngành giáo dục, nhất là giáo dục phổ thông, còn có quá nhiều vấn đề bất cập cần phải
giải quyết. Giáo viên đương nhiệm thì mệt mõi, không an tâm công tác, chất lượng đào
tạo thì phập phồng (học sinh lớp 7 nhưng mù chữ, báo Thanh Niên, 5/12/2011), thi cử
thì nhếch nhác (như vụ sửa đáp án tùy tiện trong kỳ thi Tú tài 2011 vừa qua ở
ĐBSCL), sách giáo khoa « chuẩn mà không chuẩn », « không thể liệt kê hết sạn » (báo
Tuổi trẻ, 5-6-7-8/12/2011), hiện tượng học sinh bỏ học ngày càng tăng Ngành sư
phạm ở các đại học thì ngày càng mất dần sức hút đối với thí sinh thi vào đại học, nên
không thể tuyển chọn được người tài Tóm lại, như tựa một bài báo nói về tình hình
dạy văn, giáo dục nước ta hiện nay như là một « bức tranh không hồn » (báo Thanh
Niên, 6/12/2011).
Trong bài tham luận này, tôi chỉ đề cập đến một số vấn đề cơ bản cần giải
quyết để đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục của nước ta. Điều đó có nghĩa là
còn nhiều vấn đề cơ bản khác cần phải giải quyết để khắc phục những nhược điểm và
khuyết tật hiện nay, để thực sự đưa giáo dục trở thành quốc sách của đất nước.
Các phân tích của tôi dựa trên các nguyên tắc sau đây:
- Khi phát hiện một hiện tượng có vấn đề, trước tiên cần phải hiểu chinh xác
các nguyên nhân đưa đến hiện tượng đó thì mới đề ra được những biện pháp xác đáng
và hiệu quả.
- Một hiện tượng giáo dục, cũng như mọi hiện tượng xã hội khác, bao giờ cũng
bắt nguồn từ rất nhiều nguyên nhân thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, từ kinh tế, chính
Cơ hội thăng tiến của giáo viên ở trường phổ thông rất hạn chế, do việc chưa áp
dụng đầy đủ quy chế dân chủ ở cơ sở, chưa tổ chức bầu cử lãnh đạo các cấp như ở các
trường Đại học (có nhiều hiệu trưởng ở trường phổ thông giữ chức vụ vài chục năm
liên tiếp). Nhiều địa phương còn đề bạc những người chưa hề có kinh nghiệm dạy học
vào vị trí lãnh đạo ngành giáo dục các quận huyện, tỉnh thành, thậm chí những người
2
tốt nghiệp hệ bổ túc chuyên tu, khiến một mặt, việc lãnh đạo ngành không sâu sát, mặt
khác, gây ức chế cho giáo viên. Kiến nghị: Phải áp dụng rộng rãi quy chế dân chủ ở cơ
sở trong công tác cán bộ, phải đề bạt kịp thời những người có TÂM với ngành giáo
dục thì mới động viên tinh thần phấn đấu của giáo viên (như thầy Nguyễn Ngọc Hải,
trường THPT xã An Lạc thôn, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng, được mệnh danh là
Thầy của những nhà khoa học nhí, x. báo Thanh Niên, ngày 21/11/2011).
1.3. Áp lực từ nhiều phía đè nặng lên giáo viên
Giáo viên đang chịu nhiều áp lực từ nhiều phía : từ học sinh, từ lãnh đạo nhà
trường, lãnh đạo ngành ở địa phương, từ xã hội, từ gia đình học sinh, từ việc mưu sinh
cho gia đình họ và cả từ lo toan về tương lai của họ và con cái họ. Cần phải cho giáo
viên nhiều quyền tự chủ và tự quyết hơn trong dạy học, không áp đặt để chạy theo
thành tích, để họ có thể phát huy sáng tạo của họ. Phải tạo điều kiện cho giáo viên
dành nhiều thì giờ hơn cho việc đầu tư vào chuyên môn (X. các bài viết về gánh nặng
sổ sách của giáo viên phổ thông trên các báo, đặc biệt là Tuổi trẻ ngày 15/11/2011).
Ngay cả giảng viên đại học, việc tăng giờ chuẩn như hiện nay là một áp lực rất lớn,
khiến giảng viên không còn thời gian đầu tư thỏa đáng cho việc áp dụng các phương
pháp dạy học tích cực.
1.4. Giáo viên chưa được đối xử công bằng
Khi áp dụng các biện pháp cấm dạy thêm, ngành giáo dục các cấp ở địa phương
hành xử rất máy móc, gây phản cảm, vì không phân biệt giáo viên « xin đểu » qua
hình thức ép học sinh học thêm với giáo viên dạy thêm do nhu cầu thực sự của xã
hội, khiến đội ngũ giáo viên nói chung cảm thấy mình bị xúc phạm. Cần phải nhìn
nhận công bằng rằng việc dạy thêm chính đáng là một hình thức lao động lương
thiện, góp phần rất lớn vào việc cải thiện đồng lương của nhà nước, mà lẽ ra nó phải
thông vào thế chênh vênh như hiện nay.
1.7. Về bạo lực học đường
Cần có một cái nhìn khác với việc đỗ lỗi cho gia đình thiếu quan tâm đến con
em họ, hay do nhà trường « nặng về dạy kiến thức mà nhẹ về dạy làm người ». Đó là
cách giải thích phiến diện và thiếu trách nhiệm nhằm mục đích đỗ lỗi cho bên này hay
bên kia. Phải thấy rằng bạo lực học đường là hậu quả tất yếu của nhiều sức ép đè nặng
các em. Sức ép của gia đình, sức ép của bạn bè, sức ép của thầy cô, sức ép của nhà
trường, sức ép của xã hội, của tương lai. Đó là chưa kể đến sự mất niềm tin của giới trẻ
đối với người lớn, đối với xã hội. Cần phải phát huy dân chủ ở cơ sở với cả học sinh
trong dạy và học lẫn trong sinh hoạt. Nếu nền giáo dục của chúng ta lấy người học là
trung tâm thì phải xem học sinh là một công dân chứ không phải chỉ là một thanh sắt
cần được trui rèn. Phải thực sự tôn trọng các em thì giáo dục mới hiệu quả. Phải quan
niệm : học sinh luôn luôn có lý (chứ không phải luôn luôn đúng như GS Hồ Ngọc Đại
quan niệm).
Giảm áp lực cho giáo viên cũng sẽ tạo phản ứng tích cực đối với học sinh, góp
phần giảm hiện tượng hư hỏng của học sinh.
Mặt khác, đội ngũ viên chức ngành giáo dục cần phải trong sạch để làm gương
cho các em. Vì thế, ngành giáo dục cần phải quyết liệt chống tham nhũng, ở mọi cấp.
4
2. Về các vấn đề ngoài phạm vi quyền hạn của lãnh đạo ngành giáo dục
Nguyên lý của mọi nguyên lý là: giáo dục không thể tách rời xã hội, do đó,
những vấn đề nảy sinh trong nền giáo dục hiện nay không phải là sản phẩm của riêng
ngành giáo dục, mà là sản phẩm của xã hội, của tất cả ban ngành đoàn thể trong guồng
máy quyền lực, trực tiếp hoặc gián tiếp. Vì thế, không thể giải quyết riêng biệt các
vấn đề nảy sinh trong ngành giáo dục, mà phải có quyết tâm của cả xã hội và sự phối
hợp đồng bộ của toàn xã hội. Ngành giáo dục dù cố gắng thực hiện đổi mới, cải cách
đến đâu chăng nữa, nhưng không được sự hợp tác của các ngành khác thì những nỗ lực
trên đây cũng sẽ chỉ là tạm bợ, vá víu, không đạt được mục tiêu « đổi mới căn bản và
toàn diện » được. Do đó, lãnh đạo ngành giáo dục cần vận động, tranh thủ, thậm chí
phải đấu tranh để các ngành khác cùng nhìn về một hướng với ngành giáo dục.
2.2. Phải biến những khẩu hiệu thành biện pháp cụ thể
Nhà nước dù có hô hào Nghề giáo là nghề cao quý nhất trong các nghề cao
quý đến đâu chăng nữa, nhưng hình ảnh nhếch nhác của giới thầy cô trong con mắt
của học sinh và phụ huynh vẫn không thay đổi, thậm chí ngày càng xấu đi do phải đối
phó trước đời sống khó khăn (X. Nguyễn thị Từ Huy, 2011). Những việc làm không
đẹp của một số thầy cô, như gạ gẫm học sinh học thêm, hoặc gạ gẫm quà cáp nhân dịp
lễ lộc, tết nhất, hoặc lương thiện hơn, như làm thêm một số nghề tay chân để mưu
sinh, không thể hiện được sự “cao quý”, làm xấu đi hình ảnh của giáo viên trong mắt
học sinh. Đó không hoàn toàn là lỗi của họ, mà là do chế độ lương bổng không thỏa
đáng. Hậu quả là trước mắt ngành sư phạm không thu hút được sinh viên giỏi, và sau
đó là sẽ không có giào viên giỏi! Ước vọng “sống được bằng lương” quá xa vời đối
với rất nhiều giáo viên, nhất là giáo viên trẻ. Vì thế, cải cách tiền lương phải là một
ưu tiên hàng đầu trong mọi kế hoạch cải cách giáo dục!
2.3. Hiệu quả lãnh đạo của ngành dọc còn thấp
Quyền lực của cấp Bộ bị suy yếu nghiêm trọng do cơ chế quyền lực hiện nay :
có một thực tế là các Sở cấp tỉnh và thành phố nể nang cấp ủy Đảng địa phương hơn là
lãnh đạo ngành dọc: vụ sửa đáp án trong kỳ thi Tú tài ở khu vực ĐBSCL vừa rồi
không phải là chủ trương của Bộ, thế nhưng các Sở Giáo dục vẫn ngang nhiên tiến
hành, như ghi nhanạ sau đây :
« Để đạt điểm thi môn ngữ văn cao, các chuyên viên bộ môn ngữ văn của 11 sở
GD-ĐT các tỉnh ĐBSCL đã có cuộc họp vào ngày 5-6 tại TP Cần Thơ, ra Biên
bản thống nhất hướng dẫn chấm thi kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2011 môn ngữ
văn. Thực chất đây là thỏa thuận để “nâng cao chất lượng” bằng cách cho điểm
“vô tư”, thoát ly hẳn hướng dẫn chấm thi môn này của Bộ GD-ĐT. » (Đoàn thị
Lê, 2011)
Trong một cuộc trả lời phỏng vấn ngày 23/6/2011, Thứ trưởng Nguyễn Vinh
Hiển cũng đã khẳng định:
« Nhưng phải khẳng định các địa phương đã nêu một đường nhưng lại làm quá,
làm quá đến mức độ ra một cái hướng dẫn mà theo đánh giá sơ bộ của những
người có chuyên môn thì thấy rằng đã có biểu hiện hạ thấp yêu cầu về chấm thi.
hai lĩnh vực trực tiếp bồi dưỡng con người. »
4. Tài liệu trích dẫn
Đỗ thị Lê (2011), 11 tỉnh ĐBSCL thoả thuận 'nâng' điểm thi tốt nghiệp, Báo Người
Lao động, thoa-
thuan-de-cho-diem.html (truy cập ngày 6/12/2011).
7
Giáp văn Dương (2011), Vì sao chỉ số giáo dục của Việt Nam vẫn ở nhóm trung bình,
tuổi trẻ cuối tuần, số 48-2011 (1466), ngày 4/12/2011, trang 24-25.
Nguyễn thị Từ Huy (2011), Những bộ óc tuyệt nhất đang dùng vào việc nhỏ,
/>nho.html truy cập ngày 7/12/2011.
Nguyễn Vinh Hiển (2011), Chấm thi tốt nghiệp ở ĐBSCL: Chấp nhận kết quả của thí
sinh (trả lời phỏng vấn báo Dân Trí, 24/6/2011, />492327/cham-thi-tot-nghiep-o-dbscl-chap-nhan-ket-qua-cua-thi-sinh.htm truy
cập ngày 2/12/2011.
Phạm Thịnh (2011): Bộ trưởng GD&ĐT: Thanh tra Bộ đã bị lừa, ngày 24/11/2011,
truy cập
ngày 5/12/2011.
Uyên Na (2011), Giảm tải chương trình học để tăng kiến thức kỹ năng sống, báo Pháp
Luật, ngày 22/8/2011, tại địa chỉ />tai-chuong-trinh-hoc-de-tang-kien-thuc-ky-nang-song-2057416/ truy cập ngày
7/12/2011.
Võ Nguyên Giáp (2007), Đổi mới có tính cách mạng nền giáo dục và đào tạo của nước
nhà, Sài Gòn Giải phóng, 10/9/2007
truy cập ngày 25/9/2009.
8