Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: TS. Vi Thái Lang
Trường đại học sư phạm hà nội 2
khoa GIáO DụC CHíNH TRị
**************
TRịNH DUY LONG
ảNH HƯởNG CủA TƯ TƯởNG NHO GIáO
ĐếN NềN GIáO DụC VIệT NAM TRONG
GIAI ĐOạN HIệN NAY
khóa luận tốt nghiệp đại học
Chuyên ngành: Triết học
Người hướng dẫn khoa học
TS. Vi thái lang
hà nội - 2011
1
SV: Trịnh Duy Long
K33A - GDCD
Khãa luËn tèt nghiÖp
GVHD: TS. Vi Th¸i Lang
Khóa luận tốt nghiệp này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của TS.
Vi Thái Lang. Tôi xin cam đoan rằng:
Đây là kết quả nghiên cứu của riêng tôi.
Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội, tháng 05 năm 2011
Tác giả khóa luận
Trịnh Duy Long
3
SV: TrÞnh Duy Long
K33A - GDCD
Khãa luËn tèt nghiÖp
GVHD: TS. Vi Th¸i Lang
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1
Chương 1 : MỘT SỐ NÉT KHÁI QUÁT VỀ XÃ HỘI TRUNG QUỐC
THỜI CỔ ĐẠI VÀ VỀ NHO GIÁO
38
3.2. Những ảnh hưởng của tư tưởng giáo dục Nho giáo đến nền giáo dục
Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
45
KẾT LUẬN
61
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
64
4
SV: TrÞnh Duy Long
K33A - GDCD
Khãa luËn tèt nghiÖp
GVHD: TS. Vi Th¸i Lang
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Khãa luËn tèt nghiÖp
GVHD: TS. Vi Th¸i Lang
của Nho giáo, đồng thời khắc phục những hạn chế còn tồn tại trong nền giáo
dục Việt Nam thì việc nghiên cứu kĩ lưỡng tư tưởng giáo dục của Nho giáo và
những ảnh hưởng của nó đến nền giáo dục Việt Nam là điều cần thiết. Đây
cũng chính là lý do tôi chọn đề tài “ Ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo đến
nền giáo dục Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” làm đề tài khóa luận tốt
nghiệp của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nho giáo là một trường phái triết học rất lớn, lại ra đời vào thời cổ đại
tại một quốc gia có nền văn minh rực rỡ nên ngay từ khi mới ra đời Nho giáo
đã thu hút được sự quan tâm của những chuyên gia chính trị, văn hóa, xã hội
Trung Quốc và thế giới. Chính vì vậy có nhiều công trình, cuốn sách viết về
Nho giáo trong đó đề cập đến tư tưởng giáo dục như :
Lê Ngọc Anh: Về ảnh hưởng của Nho giáo tại Việt Nam (triết học số
3, Hà Nội 1999).
Nguyễn Thanh Bình: Đôi điều suy nghĩ vế đối tượng và nội dung giáo
dục hóa của Nho giáo (giáo dục lý luận số 10, Hà Nội 2000).
Doãn Chính: Quan điểm của Khổng Tử về giáo dục và đào tạo con
người (triết học số 3).
Quang Đạm: Nho giáo xưa và nay (NXB văn hóa, Hà Nội 1994)…
Tuy nhiên, các công trình đó chủ yếu nghiên cứu về Nho giáo mà ít đề
cập đến ảnh hưởng của nó trong giao đoạn hiện nay và chưa cập nhật đến sự
thay đổi lớn lao của giáo dục - đào tạo Việt Nam trong giai đoạn hiện nay .
3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
Mục đích:
Qua đề tài chúng ta thấy được những quan điểm về giáo dục của Nho
giáo, từ đó nhìn vào nền giáo dục Việt Nam hiện nay để thấy được những ảnh
sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu như: Phương pháp logic và lịch
sử, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp
quy nạp và diễn dịch, phương pháp chứng minh…
6. Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
khóa luận gồm 3 chương.
Chương 1: Một số nét khái quát về xã hội Trung Quốc thời cổ đại và về
Nho giáo.
7
SV: TrÞnh Duy Long
K33A - GDCD
Khãa luËn tèt nghiÖp
GVHD: TS. Vi Th¸i Lang
Chương 2: Quan điểm giáo dục của Nho giáo.
Chương 3: Những ảnh hưởng của tư tưởng giáo dục Nho giáo đến nền giáo
dục Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
8
SV: TrÞnh Duy Long
K33A - GDCD
9
SV: TrÞnh Duy Long
K33A - GDCD
Khãa luËn tèt nghiÖp
GVHD: TS. Vi Th¸i Lang
phạt ở đâu thì phải theo mệnh lệnh thiên tử đem quân đi tòng chinh. Khi nhà
Chu còn thịnh thì trật tự đó còn phân minh. Đến thời U Vương lên ngôi, vua
ăn chơi trụy lạc, nhà Chu suy yếu phải rời đô sang Lạc Ấp ( tỉnh Hà Nam bây
giờ ) thì mệnh lệnh thiên tử không ai theo, các chư hầu phân ra 160 nước,
chiến tranh liên miên, chư hầu nổi lên một số nước mạnh như Tề, Sở, Tấn,
Ngô…tranh nhau xưng bá, thiên tử không không đủ uy quyền ngăn cản. Từ
khoảng thế kỉ VII tr.CN, xã hội Tây Chu suy tàn, bước vào thời kỳ biến động
lớn lao, kéo dài đến giữa thế kỉ III tr.CN. Lịch sử gọi đó là thời kì Đông Chu
hay thời kì Xuân Thu – Chiến Quốc (770 – 221 tr.CN)
Ở thời kỳ này đồ sắt xuất hiện phổ biến thay thế công cụ đồ đồng, đồ đá
đã đem lại sự phát triển mạnh mẽ của nền sản xuất nông nghiệp. Đây cũng là
thời kỳ khởi sắc của nền kinh tế thương nghiệp. Vào khoảng thế kỉ VI-V
tr.CN đã xuất hiện những thành thị buôn bán nhộn nhịp. Ở các nước Hàn, Tề,
Tấn, Sở thành thị đã có một cơ sở kinh tế tương đối độc lập, từng bước tách ra
khỏi chế độ thành thị tự hệ của quý tộc thị tộc thành những đơn vị, khu vực
của tầng lớp địa chủ mới lên. Hiện tượng này trong lịch sử gọi là “ hai đô thị
sánh nhau trong nước”. Sự phát triển của sức sản xuất đã tác động mạnh mẽ
đến hình thức sở hữu ruộng đất và kết cấu giai tầng của xã hội. Nếu như vào
tộc nhà Chu có một bộ phận tách ra và chuyển hóa lên giai cấp mới, một mặt
họ muốn bảo lưu nhà Chu, một mặt không hài lòng với trật tự hiện có và
muốn cải biến nó bằng con đường cải cách.
Tầng lớp tiểu quí tộc, thị tộc một mặt họ đang bị một tầng lớp mới lên
tấn công về chính trị, kinh tế mặt khác họ cũng có mâu thuẫn với tầng lớp đại
quí tộc đang nắm quyền.
Ba là, mâu thuẫn giữa nông dân công xã thuộc các thị tộc bị nhà Chu
nô dịch với nhà Chu và tầng lớp mới lên đang ra sức bóc lột tận cùng sức lao
động của họ.
Đó là những mâu thuẫn chủ yếu của thời kỳ lịch sử đang đòi hỏi giải
thể chế độ nô lệ thị tộc của nhà Chu, hình thành xã hội phong kiến nhằm phát
triển lực lượng sản suất, mở đường cho xã hội phát triển.
Sự chuyển biến sôi động đó của thời đại đã đặt ra và làm xuất hiện
những tụ điểm, những trung tâm các “kẻ sĩ’ luôn tranh luận về trật tự xã hội
cũ và đề ra những hình mẫu của xã hội tương lai. Lịch sử gọi thời kỳ này là
thời kỳ “ bách gia chư tử” (trăm nhà trăm thầy), “Bách gia tranh minh” (trăm
11
SV: TrÞnh Duy Long
K33A - GDCD
Khãa luËn tèt nghiÖp
GVHD: TS. Vi Th¸i Lang
nhà đua tiếng). Chính trong quá trình đó đã nảy sinh các nhà tư tưởng lớn và
hình thành lên các trường phái triết học khá hoàn chỉnh. Đặc điểm của các
Khãa luËn tèt nghiÖp
GVHD: TS. Vi Th¸i Lang
hồi nhỏ ông cũng được học ở trường công mở dạy con cái quí tộc về lục
nghệ: lễ, nhạc, xạ, ngự, thư, số.
Năm 15 tuổi Khổng Tử đã học hết chương trình đó để trở thành một nho
sinh và bắt đầu để chí vào việc tự học về đạo, nghiên cứu về lễ - môn mà ông
thích.
Năm 19 tuổi thành gia thất, vợ của ông là con của họ Thượng Quan nước
Tống.
Năm 20 tuổi, vợ Ngài sinh đặng một con trai, đặt tên là Lý Tự Bá Ngư. Về
sau, Bá Ngư chết lúc 50 tuổi, chết trước Khổng Tử. Con của Bá Ngư tên là
Khổng Cấp, tự là Tử Tư, sau theo học Tăng Sâm, rồi làm ra sách Trung Dung.
Năm 21 tuổi, Đức Khổng Tử được cử làm chức Ủy Lại, một chức quan
nhỏ coi việc sổ sách của kho lúa, cũng là cân đo và gạt lúa. Sau đó làm quan
Tư Chức Lại, coi viêc nuôi bò, dê, súc vật dùng trong việc tế tự.
Năm 25 tuổi, ông chịu tang mẹ.
Năm 29 tuổi, ông học đàn với Sư Tương, ở nước Lỗ.
Tuy là chức quan nhỏ nhưng Đức Khổng Tử đã nổi tiếng là người học
rộng biết nhiều nên quan đại phu nước Lỗ là Trọng Tôn Cồ cho 2 người con
trai là Hà Kỵ và Nam Cung Quát theo ông học Lễ.
Đến năm thứ 9 đời vua Lỗ Định Công, Khổng Tử được 51 tuổi, vua nước
Lỗ mời ra làm quan, phong cho chức Trung Đô Tể lo việc cai trị ở ấp Trung
Đô, tức là đất kinh thành. Một năm sau, bốn phương lấy chính sự của Ngài
làm khuôn mẫu.
Năm Lỗ Định Công thứ 10, Ngài phò vua Lỗ đi phó hội với Tề Cảnh Công
ở Giáp Cốc. Nhờ tài ngôn luận và ứng đáp kịp thời, vua Tề rất khâm phục và
Đức Khổng Tử cùng học trò đi qua các nước : Vệ, Tống, Trần, Khuông,
Thái, Sở, để mong thuyết phục các vua chư hầu chịu đem cái đạo của ông ra
ứng dụng để đem lại thái bình thịnh trị cho dân chúng. Nhưng cái đạo của
Khổng Tử là Vương đạo nên đi ngược chiều ý đồ Bá đạo của các vua chư hầu
và quyền lợi của các quan đại phu nên các vua chư hầu đều không dám dùng
Khổng Tử.
Rốt cuộc, sau 14 năm chu du các nước không thành công, Ngài trở về
nước Lỗ, có quan đại phu Quý Khang Tử sai Công Hoa ra đón Ngài.
Khi về nước Lỗ, Khổng Tử đã 68 tuổi, Ngài trở lại quê nhà để mở
mang việc dạy học và soạn sách.
14
SV: TrÞnh Duy Long
K33A - GDCD
Khãa luËn tèt nghiÖp
GVHD: TS. Vi Th¸i Lang
Tổng số môn đệ của Đức Khổng Tử có lúc lên tới 3000 người (Tam
thiên đồ đệ). Trong đó có 72 người được liệt vào hàng tài giỏi nên được gọi là
Thất thập nhị hiền. Sau này, họ soạn lại bộ Luận Ngữ, Trung Dung, Đại Học
để truyền đạo cho ông.
Đức Khổng Tử san định lại các kinh sách của Thánh hiền đời trước
như: Kinh Thi, Kinh Dịch, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Nhạc. Sau đó, Đức
Khổng Tử viết ra sách Xuân Thu, chép lại những việc của nước Lỗ mà của
nhà Châu (Chu) liên hệ với các nước chư hầu từ đời Lỗ Ai Công thứ 14 (481
Mạnh Tử (372-289 tr.CN) tên là Mạnh Kha, tự là Tử Dư, sinh vào đời
vua Liệt Vương nhà Chu, quê gốc ở đất Trâu thuộc nước Lỗ, nay là thành phố
Trâu Thành, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc. Ông mồ côi cha, chịu sự nuôi
dưỡng giáo dục của mẹ là Chương Thị. Sau này bà được biết đến với cái tên
Mạnh Mẫu (mẹ của Mạnh Tử).
Thời niên thiếu, Mạnh Tử làm môn sinh của Khổng Cấp, cháu nội của
Khổng Tử. Vì vậy, ông chịu ảnh hưởng sâu sắc từ tư tưởng Khổng giáo và trở
thành đại biểu xuất sắc của Nho giáo thời Chiến Quốc.
Mạnh Tử đi sâu tìm hiểu bản tính con người, đề ra thuyết “tính thiện”. Ông
cho rằng “thiên mệnh” quyết định nhân sự, nhưng con người có thể thông
qua việc tồn tâm dưỡng tính mà nhận thức được thế giới khách quan, tức là
cái gọi là “tận tâm, tri tính, trị thiên”, “vạn vật đều có đủ trong ta”. Ông hệ
thống hóa triết học của Nho gia trên phương diện thế giới quan và nhận thức
luận, tạo lên đầu mối của khuynh hướng duy tâm trong Nho giáo sau này.
Về trước tác, có tập “Mạnh Tử” đã cùng cuốn Luận Ngữ, Trung Dung,
Đại Học hợp thành bộ Tứ thư – sách kinh điển của Nho giáo.
Tuân Tử (313-238 tr.CN) cũng là một đại diện xuất sắc của Nho giáo
sau này. Ông tên là Huống, còn có tên khác là Khanh, tự Tôn Khang, sinh ở
nước Triệu, làm việc cho Tề Tuyên Vương của nước Tề.
Trước 40 tuổi, Tuân Tử chuyên tâm vào việc trau rồi học vấn. Khoảng trước
sau 50 tuổi đi du hành qua các nước. Từ 60 tuổi trở đi, những năm đầu làm
huyện lệnh Lan Lăng nước Sở, những năm sau thì mở lớp dạy học, y như
Khổng Tử, Mạnh Tử thủa trước.
Tuân Tử đã phát triển truyền thống trọng lễ của Nho giáo, nhưng khác
với Mạnh Tử, ông coi con người có tính ác, chủ chương thế giới khách quan
có quy luật riêng. Theo ông sức người có thể thắng trời. Tư tưởng triết học
16
SV: TrÞnh Duy Long
thiên hạ ( khiến cho thiên hạ được bình yên).
Minh minh đức ứng với các vật, trí tri, thành ý, chính tâm và tu thân trong Bát
điều mục. Tân dân ứng với tề gia và trị quốc. Chỉ ư chí thiện ứng với bình
thiên hạ.
17
SV: TrÞnh Duy Long
K33A - GDCD
Khãa luËn tèt nghiÖp
GVHD: TS. Vi Th¸i Lang
Sách Đại học dạy cho người ta cách tu thân và cai trị thiên hạ theo chủ
chương “vi đức dĩ chính” của Nho giáo.
+ Trung Dung :
Sách Trung Dung do Tử Tư làm ra trên cơ sở một thiên trong Kinh Lễ. Tử
Tư là học trò của Tăng Tử, cháu nội của Khổng Tử.
Trong sách Trung Dung, Tử Tư dẫn những lời của Khổng Tử nói về đạo
“trung dung”, tức là nói về cách làm cho ý nghĩa và việc làm luôn ở mức
trung hòa, không thái quá bất cập và phải cố gắng ở đời theo nhân, nghĩa, lễ,
trí, tín cho thành người quân tử, để cuối cùng thành thánh nhân.
Sách Trung Dung chia làm 2 phần:
Phần 1: Từ chương 01 đến chương 20.
Là phần chính, gồm những lời của Khổng Tử dạy các học trò về đạo lý Trung
dung, phải làm sao cho tâm được: tồn, dưỡng, tĩnh, sát; mức ở được gồm đủ :
Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín cho hợp với muôn vật, hợp với lòng trời để thành
+ Mạnh Tử:
Là bộ sách làm ra bởi Mạnh Tử và các môn đệ của ông như: Nhạc Chính
Khắc, Công Tôn Sửu, Vạn Chương… ghi chép lại những lời đối đáp của
Mạnh Tử với các vua chư hầu, Giữa Mạnh Tử và các học trò cùng với những
lời phê bình của Mạnh Tử về các học thuyết như học thuyết của Mặc Tử,
Dương Chu.
Sách Mạnh Tử gồm 7 thiên chia làm 2 phần: Tâm học và Chính trị học.
Tâm học: Mạnh Tử cho rằng mỗi người đều có tính thiện do trời phú cho.
Sự giáo dục đó phải lấy tính thiện đó làm cơ bản, giữ cho nó không mờ tối,
trau dồi nó để trở thành người lương thiện.Tâm là cái thần minh của trời ban
cho con người. Như vậy tâm của ta với tâm của trời đều cùng một thể. Học là
để giữ cái Tâm, nuôi cái Tính biết rõ Trời mà theo chính mệnh.
Chính trị học: Mạnh Tử chủ chương “dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi
khinh”. Đây là một tư tưởng rất mới và rất độc đáo trong thời quân chủ
chuyên chế đang thịnh hành.
Mạnh Tử nhìn nhận chế độ quân chủ, vua không có quyền lấy dân làm của
riêng mình phải duy dân và vì dân. Muốn vậy phải có luật pháp công bằng,
dẫu vua cũng không được vượt ngoài pháp luật đó. Người trị dân trị nước
phải chăm lo việc dân việc nước, làm cho đời sống của dân thật sung túc, phải
19
SV: TrÞnh Duy Long
K33A - GDCD
Khãa luËn tèt nghiÖp
GVHD: TS. Vi Th¸i Lang
SV: TrÞnh Duy Long
K33A - GDCD
Khãa luËn tèt nghiÖp
GVHD: TS. Vi Th¸i Lang
+ Kinh Xuân Thu: Ghi lại các biến cố xảy ra ở nước Lỗ quê của Khổng Tử.
Khổng Tử không chỉ ghi chép lại như một sử gia mà theo đuổi mục đích trị
nước nên ông chọn lọc các sự kiện, ghi kèm các lời bình, sáng tác thêm lời
thoại để giáo dục các bậc vua chúa. Ngài nói: “ Thiên hạ biết đến ta bởi kinh
Xuân Thu, thiên hạ trách ta cũng sẽ ở kinh Xuân Thu này”. Đây chính là cuốn
kinh mà Khổng Tử tâm đắc nhất.
Ngoài ra còn có Kinh Nhạc do Khổng Tử hiệu đính nhưng về sau bị thất
lạc, chỉ còn lại một ít làm thành một thiên trong Kinh Lễ gọi là Nhạc Ký. Như
vậy, Lục Kinh chỉ còn lại Ngũ Kinh.
Hệ thống các sách kinh điển của Nho giáo chủ yếu viết về xã hội, lịch sử,
phong tục tập quán và đặc biệt là về giáo dục, phương pháp giáo dục của Nho
giáo. Đó là bộ phận giàu sức sống nhất của Nho giáo.
21
SV: TrÞnh Duy Long
K33A - GDCD
Khãa luËn tèt nghiÖp
22
SV: TrÞnh Duy Long
K33A - GDCD
Khãa luËn tèt nghiÖp
GVHD: TS. Vi Th¸i Lang
mạnh giáo dục để xã hội có luân thường đạo lý. Để con phải ra con, cha phải
ra cha, tôi phải ra tôi, vua phải ra vua, thì con người phải được giáo huấn, phải
đọc sách thánh hiền. Người đứng đầu xã hội (vua, quan), cũng phải là người
hiền tài lấy “đức” để trị dân, lấy “nhân” để trị nước, lấy “tam cương, ngũ
thường” để xem xét dùng người. Thời kỳ Khổng Tử làm quan đã lấy lễ giáo
đặt cao hơn pháp trị chẳng bao lâu nước Lỗ hưng thịnh, hùng cường nhân dân
sống trong cảnh thái bình. Đây chính là minh chứng hùng hồn khẳng định sứ
mệnh làm thay đổi bộ mặt xã hội của giáo dục.
Mục đích của giáo dục:
Trên cơ sở nhận thức được vai trò to lớn của giáo dục đối với con người và
xã hội. Nho giáo đã xây dựng sự nghiệp giáo dục vững chắc. Sau Khổng Tử
và các học trò trực tiếp của Khổng Tử như 72 vị hiền những Khổng Cấp, Chu
Đôn Di, Trình Hạo, Trình Di, Chu Hy đời Tống, Vương Thủ Nhân đời
Minh… cũng đều là nhà học thuật và giáo dục xuất sắc trong các danh nhân
đạo Nho.
Thứ nhất: Xây dựng đạo lý.
Đạo ở đây là tu thân, đạo làm người, đạo trị nước yên dân. Khổng Tử nói
“kẻ sĩ để chí vào đạo lý”[12,273]. Tức kẻ sĩ phải lấy việc tu thân và thực hiện
lý tưởng chính trị làm mục tiêu phấn đấu. Không những thế Khổng Tử còn rất
nội dung thuộc phương diện hành vi, đại biểu cho nhân cách của một cá nhân
hành động ở đời. Tóm lại nhân cách lý tưởng là hệ thống chuẩn mực về
những phẩm chất và tính cách của một con người lý tưởng, hoàn thiện mà nền
giáo dục Nho học luôn hướng tới và coi đó là mục tiêu để đào tạo ra tầng lớp
Nho sỹ, những hiền nhân, những bề tôi của chế độ phong kiến.
Thứ 3: Bồi dưỡng nhân tài chính trị cho đất nước.
Học để ứng dụng cho có ích với đời với xã hội, chứ không vì quan sang
bổng lộc. Khổng Tử nói rằng: “nói ít lỗi”, “làm ăn ít ăn năn, lộc ở bên trong
vậy”[Luận ngữ- Vi chính]. Ông lại nói: “ Đọc 300 bài kinh không đạt, sai đi
bốn phương tám hướng mà không biết đối phó thì học nhiều để làm gì”[Luận
ngữ - Tử lộ]. Trong Nho giáo không bao giờ nhắc đến vấn đề đảo chính trong
chính trị mà chỉ trung với vua, phò vua, nếu lật đổ vua lên ngôi vương thì trở
thành bất trung, bất nghĩa. Đây chính là nguyên nhân giải thích tại sao Nho
giáo tồn tại một cách bền vững cùng với các triều đại phong kiến.
24
SV: TrÞnh Duy Long
K33A - GDCD
Khãa luËn tèt nghiÖp
GVHD: TS. Vi Th¸i Lang
Bồi dưỡng nhân tài cho đất nước là mục đích thiết thực thúc đẩy sự phát triển
của xã hội trong mọi thời đại, vì thế sau Khổng Tử mấy trăm năm sách Đại
Học còn chỉ ra rằng kẻ sĩ quân tử rèn luyện và học tập là nhằm mục đích “Tu
thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”.