Ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi - Pdf 27



NGUYỄN TRÃI (1380 - 1442)
ANH HÙNG DÂN TỘC – DANH NHÂN VĂN HÓA THẾ GIỚI Tượng Nguyễn Trãi Đền thờ Nguyễn Trãi Nguyễn Thị Lộ
(Vợ Nguyễn Trãi)
Một số vấn đề về văn hóa tư tưởng phương Đông
Ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi

Người thực hiện : NGUYỄN ĐỨC HIỀN/K18A-VHVN
1A. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
I. Vài nét về lịch sử hình thành, phát triển và tư tưởng cơ bản của Nho giáo
1. Vài nét về lịch sử hình thành, phát triển của Nho giáo
Cơ sở của Nho giáo được hình thành từ thời Tây Chu, đặc biệt với sự đóng góp
của Chu Công Đán, còn gọi là Chu Công

Đến thời Xuân Thu, xã hội loạn lạc, Khổng
Tử (sinh năm 551 trước công nguyên) phát triển tư tưởng của Chu Công, hệ thống
hóa và tích cực truyền bá các tư tưởng đó. Chính vì thế mà người đời sau coi ông là
người sáng lập ra Nho giáo.
Cũng giống như nhiều nhà tư tưởng khác trên thế giới như Thích Ca Mầu Ni,
Giê-xu,… người đời sau không thể nắm bắt các tư tưởng của Khổng tử một cách
trực tiếp mà chỉ được biết các tư tưởng của ông bằng các ghi chép do các học trò của

Điểm khác biệt so với Nho giáo nguyên thủy là Hán Nho đề cao quyền lực của giai
cấp thống trị, Thiên Tử là con trời, dùng “lễ trị” để che đậy “pháp trị”.
c. Tống Nho
Đến đời Tống, Đại Học, Trung Dung được tách ra khỏi Lễ Ký và cùng với Luận
ngữ và Mạnh Tử tạo nên bộ Tứ Thư. Lúc đó, Tứ Thư và Ngũ Kinh là sách gối đầu
giường của các nhà Nho. Nho giáo thời kỳ nay được gọi là Tống nho, với các tên
tuổi như Chu Hy (thường gọi là Chu Tử), Trình Hạo, Trình Di. (Ở Việt Nam, thế kỷ
thứ 16, Nguyễn Bỉnh Khiêm rất giỏi Nho học nên được gọi là “Trạng Trình”).
Phương Tây gọi Tống nho là “Tân Khổng giáo”. Điểm khác biệt của Tống nho với
Nho giáo trước đó là việc bổ sung các yếu tố “tâm linh” (lấy từ Phật giáo) và các yếu
tố “siêu hình” (lấy từ Đạo giáo) phục vụ cho việc đào tạo quan lại và cai trị. Cốt lõi
Một số vấn đề về văn hóa tư tưởng phương Đông
Ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi

Người thực hiện : NGUYỄN ĐỨC HIỀN/K18A-VHVN
3

của Nho giáo là Nho gia. Đó là một học thuyết chính trị nhằm tổ chức xã hội. Để tổ
chức xã hội có hiệu quả, điều quan trọng nhất là phải đào tạo cho được người cai trị
kiểu mẫu – người lý tưởng này gọi là quân tử (quân = kẻ làm vua, quân tử = chỉ tầng
lớp trên trong xã hội, phân biệt với “tiểu nhân”, những người thấp kém về điạ vị xã
hội; sau “quân tử” còn chỉ cả phẩm chất đạo đức: những người cao thượng, phẩm
chất tốt đẹp, phân biệt với “tiểu nhân” là những người thiếu đạo đức hoặc đạo đức
chưa hoàn thiện. Điều này có thể được lí giải bởi đối tượng mà Nho giáo hướng đến
trước tiên là những người cầm quyền). Để trở thành người quân tử, con người ta
trước hết phải “tự đào tạo”, phải “tu thân”. Sau khi tu thân xong, người quân tử phải
có bổn phận phải “hành đạo” (Đạo không đơn giản chỉ là đạo lí. Nho gia hình dung
cả vũ trụ được cấu thành từ các nhân tố đạo đức, và Đạo ở đây bao chứa cả nguyên lí
vận hành chung của vũ trụ, vấn đề là nguyên lí đó là những nguyên lí đạo đức do
Nho gia đề xướng (hoặc như họ tự nhận là phát hiện ra) và cần phải tuân theo. Trời

- Nghĩa: Cư xử với mọi người công bình theo lẽ phải.
- Lễ: Sự tôn trọng, hòa nhã trong khi cư xử với mọi người.
- Trí: Sự thông biết lý lẽ, phân biệt thiện ác, đúng sai.
- Tín: Giữ đúng lời, đáng tin cậy.
Tam tòng: tam là ba; tòng là theo. Tam tòng là ba điều người phụ nữ phải theo,
gồm: “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”
- Tại gia tòng phụ: người phụ nữ khi còn ở nhà phải theo cha,
- Xuất giá tòng phu: lúc lấy chồng phải theo chồng,
- Phu tử tòng tử: nếu chồng qua đời phải theo con”
Tứ đức: tứ là bốn; đức là tính tốt. Tứ đức là bốn tính nết tốt người phụ nữ phải có
là: công – dung – ngôn – hạnh.
- Công: khéo léo trong việc làm.
- Dung: hòa nhã trong sắc diện.
- Ngôn: mềm mại trong lời nói.
Một số vấn đề về văn hóa tư tưởng phương Đông
Ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi

Người thực hiện : NGUYỄN ĐỨC HIỀN/K18A-VHVN
5

- Hạnh: nhu mì trong tính nết.
Người quân tử phải đạt ba điều trong quá trình tu thân:
Đạt đạo: Đạo có nghĩa là “con đường”, hay “phương cách” ứng xử mà người
quân tử phải thực hiện trong cuộc sống. “Đạt đạo trong thiên hạ có năm điều: đạo
vua tôi, đạo cha con, đạo vợ chồng, đạo anh em, đạo bạn bè” (sách Trung Dung),
tương đương với “quân thần, phụ tử, phu phụ, huynh đệ, bằng hữu”. Đó chính là
Ngũ thường, hay Ngũ luân. Trong xã hội cách cư xử tốt nhất là “trung dung”. Tuy
nhiên, đến Hán nho ngũ luân được tập chung lại chỉ còn ba mối quan hệ quan trọng
nhất được gọi là Tam thường hay còn gọi là Tam tòng.
Đạt đức: Quân tử phải đạt được ba đức: “nhân – trí – dũng”. Khổng Tử nói:

con ra con” (sách Luận ngữ).
Đó chính là những điều quan trọng nhất trong các kinh sách của Nho giáo, chúng
được tóm gọi lại trong chín chữ: tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Và đến lượt
mình, chín chữ đó chỉ nhằm phục vụ mục đích cai trị mà thôi.
Quân tử ban đầu có nghĩa là người cai trị, người có đạo đức và biết thi, thư, lễ,
nhạc. Tuy nhiên, sau này từ đó còn có thể chỉ những người có đạo đức mà không cần
phải có quyền. Ngược lại, những người có quyền mà không có đạo đức thì được gọi
là tiểu nhân (như dân thường).
II. Ảnh hưởng của Nho giáo đối với Việt Nam .
1. Ảnh hưởng của Nho giáo đến văn hóa, xã hội Việt Nam.
Việt Nam là một nước từ lâu đời chịu ảnh hưởng của nền văn hóa Nho giáo. Nho
giáo từ trên một ngàn năm được giới thống trị ở Việt Nam sử dụng như tư tưởng chủ
đạo trong kiến trúc thượng tầng của xã hội. Trong suốt thời kỳ phong kiến ở Việt
Nam toàn thể giới tri thức, dù khác nhau về quan điểm chính trị và văn hóa đều tự
Một số vấn đề về văn hóa tư tưởng phương Đông
Ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi

Người thực hiện : NGUYỄN ĐỨC HIỀN/K18A-VHVN
7

coi mình là những đệ tử của Nho giáo, đều lấy tiêu chuẩn đạo đức của Nho giáo làm
phương châm suy nghĩa và hành động.
Nho giáo đã chiếm lĩnh vai trò trong nhà nước Việt Nam độc lập, từ triều Lê (thế
kỷ XV) sau khi tầng lớp nho sĩ dân tộc đã lập công lớn trong cuộc kháng chiến dài
20 năm đánh đuổi quân Minh xâm lược. Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi, Lê
Lợi, về mặt văn hóa chính trị, có thể được xem là cái vương miện để trao cho Nho
giáo Việt Nam.
Nho giáo thống lĩnh tư tưởng văn hóa Việt Nam từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX,
suốt hai triều đại Lê - Nguyễn. Xét về mặt nguồn gốc lịch sử thì Nho giáo ở Việt
Nam, cũng tựa như Nho giáo ở các nuớc Á Đông khác, là một nhánh Nho giáo mà

những tính chất khác của văn học Việt Nam trung cận đại mà chúng ta từng nói tới.
Nho giáo góp phần tạo nên giá trị đạo đức vốn là một nét nổi trội của văn học
Việt Nam trung cận đại. Như trên đã nói, trong các học thuyết của loài người, cổ kim
Đông Tây, không một học thuyết nào coi trọng vấn đề đạo đức con người, vấn đề tu
thân bằng Nho giáo. Nho giáo chủ trương lý tưởng tôn quân, nhưng cũng có tư
tưởng thân dân khá đậm đà. Nói đến văn học Việt Nam trung cận đại, không thể
không ghi nhận những giá trị đạo đức cao đẹp, sâu đậm bao gồm cả tư đức và công
đức trong đó có tư tưởng thân dân, vốn đã không tồn tại dưới dạng nguyên lý khô
cứng mà đã trở thành Tâm huyết không dễ gì thấy lại ở loại văn chương thời hiện
đại. Đặc biệt là thứ tâm huyết gắn chặt với nghĩa khí thành nghĩa khí - tâm huyết
đáng được coi là một phạm trù mỹ học. Mà từ đó, lại không thể không nghĩ đến một
phần cội nguồn của nó là Nho giáo, chân Nho. Nho giáo có bao nhiêu danh ngôn để
đời như: “Kiến nghĩa bất vi vụ dũng giả”, “Sát thân thủ nghĩa”, “Xá thân thành
nhân”, “Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”, “Dân
vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”, “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân”, “Thế thiên
hành đạo”, “Quân tử thận kỳ độc”, “Nhất nhật tam tỉnh ngô thõn”, “Tiên thiên hạ
ưu, hậu thiên hạ lạc” v.v… Thử tưởng tượng, ở thời trung cận đại, trên đất nước ta,
Một số vấn đề về văn hóa tư tưởng phương Đông
Ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi

Người thực hiện : NGUYỄN ĐỨC HIỀN/K18A-VHVN
9

thiếu đi những ý tưởng đó của Nho giáo, của chân nho, thì con người Việt Nam ta,
và cũng là văn học Việt Nam ta sẽ thế nào? Chắc chắn, không như những gì nó đã có
và đã là nguồn tư tưởng tình cảm nuôi dưỡng tinh thần nhân dân ta, làm đẹp con
người Việt Nam ta, văn học Việt Nam ta, ít ra là ở thời trung cận đại mà văn học là
một trong các phương tiện chuyển tải hữu hiệu.
Trong văn học Việt Nam trung cận đại , nhà thơ Nguyễn Trãi là người chịu ảnh
hưởng sâu sắc tư tưởng Nho giáo. Phần tiếp theo của bài làm này ta đi vào “phân

kinh viện, vong bản của bọn “bạch diện thư sinh”. Bởi lẽ, cuộc đời và tâm hồn
Nguyễn Trãi luôn gắn với thực tiễn nóng bỏng của xã hội Việt Nam hồi cuối thế kỷ
XIV, đầu thế kỷ XV. Ông luôn trăn trở về sự tồn vong của dân tộc với lòng yêu
nước cháy bỏng và thương dân tha thiết.
2. Ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo trong Quốc âm thi tập.
a. Lý tưởng “ái ưu”, “trung hiếu” và phẩm chất kẻ sĩ quân tử theo quan niệm
Nho giáo chính thống thể hiện rõ nét trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi.
Lý tưởng “ái ưu”, “trung hiếu” và phẩm chất kẻ sĩ quân tử theo quan niệm Nho
giáo chính thống thường xuyên ám ảnh nhà thơ , trở thành nỗi trăn trở dày vò , thôi
thúc Nguyễn Trãi trong Quốc âm thi tập.
Lý tưởng “ái ưu” cuộn chảy đêm ngày :“Bui một tấc lòng ưu ái cũ.Đêm ngày
cuồn cuộn nước triều đông”. Dày vò day dứt trong thơ Ức Trai:
“Quân thân chưa báo lòng canh cánh
Tình phụ cơm trời, áo cha”
(QÂTT – Ngôn chí – Bài 7)
Lý tưởng “ái ưu”, “trung hiếu” , phẩm chất kẻ sĩ quân tử với Nguyễn Trãi không
đơn thuần là khái niệm trừu tượng. Nội dung của những khái niệm này bắt nguồn từ
tư tưởng Nho giáo . “Ái ưu” được nhắc đến nhiều lần trong Quốc âm thi tập của
Một số vấn đề về văn hóa tư tưởng phương Đông
Ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi

Người thực hiện : NGUYỄN ĐỨC HIỀN/K18A-VHVN
11

Nguyễn Trãi. “Ưu ái ” theo quan niệm của Nho giáo phải gắn liền với trung quân và
thường được biểu hiện bằng cặp từ “trung ái” , hoặc được giải thích bằng thành phần
định ngữ mang tư tưởng Nho giáo , đậm dấu ấn dân tộc và thời đại :
“Còn có một lòng âu việc nước
Đêm đêm thức nhẫn nẻo sơ chung ”
(QÂTT – Thuật hứng – Bài 23)

trong Quốc âm thi tập.Mỗi khi nói đến vua chúa , ông thường dùng thêm những từ
hoặc những cụm từ làm định ngữ như “thánh minh”, “Đường Ngu”:
“Ước bề báo ơn minh chúa
Hết khỏe phù đạo thánh nhân”
(QÂTT – Trần tình – Bài 1)
“Những vì chúa thánh âu đời trị
Há kể thân nhàn tiếc tuổi tàn”
(QÂTT – Tự thán – Bài 2)
Trong Quốc âm thi tập , ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo thể hiện ở chữ “hiếu”.
Con đuờng Nho giáo đưa ta tới trách nhiệm và bổn phận. Nguyễn Trãi đã rất hiểu
nghĩa vụ của “đạo làm con” :
“Thờ cha lấy thảo làm phép”
(QÂTT – Bảo kính cảnh giới - Bài 7)
Nguyễn Trãi đã nói về tình cha con xiết bao cảm động:
“Quân thân chưa báo lòng canh cánh
Tình phụ cơm trời, áo cha”
(QÂTT – Ngôn chí – Bài 7)
“Nuôi con mới biết lòng cha mẹ”
(QÂTT – Bảo kính cảnh giới - Bài 8)
Dường như cứ nghĩ đến chữ hiếu là lòng Ức Trai lại day dứt khôn ngươi. Đó là
món nợ mà cả đời ông chưa một lần báo đáp :
“Nợ cũ trước nào báo bổ
Một số vấn đề về văn hóa tư tưởng phương Đông
Ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi

Người thực hiện : NGUYỄN ĐỨC HIỀN/K18A-VHVN
13

Ơn thầy, ơn chúa liễn ơn cha”
(QÂTT – Tự thán - Bài 24)

“Khó bền mới phải người quân tử
Mạnh gắng thì nên kẻ trượng phu”
(QÂTT – Trần tình - Bài 7)
“Quân tử hãy lăm bền chí cũ
Chẳng âu ngặt , chẳng âu già”
(QÂTT – Ngô chí - Bài 17)
Đề cao phẩm chất đạo đức và ý chí của người quân tử , tác giả Quốc âm thi tập đã
ý hội được những lời dạy của các bậc tiền bối Nho giáo. Theo tư tưởng Nho giáo khi
nói về người quân tử, trong Quốc âm thi tập Nguyễn Trãi sử dụng hình tượng ẩn dụ
quen thuộc như hình tượng hoa sen.Mượn hình tượng hoa sen để nói về người quân
tử, Nguyễn Trãi viết :
“Thế sự dầu ai hay buộc bện
Sen nào có bén trong lầm”
(QÂTT – Thuật hứng - Bài 25)
“Lầm nhơ chẳng bén, tốt hòa thanh
Quân tử kham khuôn được thửa danh”
(QÂTT – Hoa sen)
Qua những câu thơ trên chứng tỏ khi khẳng định phẩm chất kẻ sĩ quân tử tác giả
đã tiếp thu quan niệm của nhân dân, của truyền thống dân tộc về vẻ đẹp của con
người , chứa đựng tinh thần đề cao mẫu người lý tưởng của đạo Nho , đó là những
người không chỉ “khắc kỷ phục lễ” , “an bần lạc đạo” , họ còn biết sống một cuộc
đời giản dị nhưng không khắc khổ, “cần kiệm” mà vẫn ung dung , khoáng đạt vô
cùng:
“Cơm ăn chẳng quản dưa muối
Áo mặc nài chi gấm thêu
Tựa gốc cây ngồi hóng mát
Một số vấn đề về văn hóa tư tưởng phương Đông
Ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi

Người thực hiện : NGUYỄN ĐỨC HIỀN/K18A-VHVN

Người thực hiện : NGUYỄN ĐỨC HIỀN/K18A-VHVN
16

“Anh em như thể tay chân
Anh em hòa thuận hai thân vui vầy”
Thời kì trung đại, văn chương được sáng tác theo quan niệm “Văn dĩ tải đạo”.
Đạo ở đây là đạo đức, đạo làm người. Văn chương Việt Nam hiện đại cũng mang
trong lòng tiếng nói đạo đức. Đạo đức được khái quát lên thành lí luận: Văn chương
phải có tính giáo dục. Tố Hữu đã có bài thơ Tiếng ru khá đặc sắc để nói lên điều
này.Tuy nhiên, tuỳ theo tài năng của từng nhà thơ, nhà văn mà tiếng nói đạo đức cất
lên trong thơ văn của họ có giá trị văn chương và tác dụng giáo dục đến đâu, cũng
như tầm tư tưởng của nó lan xa bao nhiêu.
Đọc Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, ta thấy quan niệm đạo đức và những lời
giáo huấn, răn dạy của Ức Trai hết sức sâu sắc và sống động, thể hiện một tư tưởng
mới, vượt thời gian đến tận hôm nay và mai sau.Trần Đình Hượu đã có một nhận xét
sâu sắc về tư tưởng nhân sinh của Nguyễn Trãi: “Về hệ thống, tư tưởng nhân sinh
của Nguyễn Trãi vẫn thuộc Nho giáo nhưng là một Nho giáo khoáng đạt, rộng rãi,
không câu nệ và vì vậy không chỉ là gần gũi mà còn là phong phú hơn, cao hơn lối
sống thuộc dân tộc trước đó”.
Chúng ta tán thành với những nhận định trên và thấy rằng, tất cả tư tưởng Nho
giáo và một thoáng tư tưởng Lão - Trang, Phật giáo đã được Nguyễn Trãi thể hiện
trong thơ ca một cách nhuần nhuyễn và sâu sắc. Chính vì vậy mà trong Quốc âm thi
tập, quan niệm đạo đức của Nguyễn Trãi được thể hiện cũng theo xu hướng đó.
Nguyễn Trãi đã hình tượng hóa quan niệm đạo đức Nho giáo lên từng câu thơ, bài
thơ một cách tài tình. Ông phát biểu một cách rõ ràng quan niệm của mình: “Nhà
ngặt ta bền đạo Khổng Nhan”. Và đạo Khổng với những quan niệm vốn có của nó
với tư tưởng thiên mệnh, trung dung, tam cương, ngũ thường đã được Nguyễn Trãi
thể hiện khá rõ nét. Trước hết, quan niệm thiên mệnh được Nguyễn Trãi đề cập một
cách khéo léo và nhuần nhị, bởi vì ông đã tin ở thiên mệnh - một niềm tin mà những
Một số vấn đề về văn hóa tư tưởng phương Đông

Qua ngày qua tháng được an nhàn.
Một số vấn đề về văn hóa tư tưởng phương Đông
Ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi

Người thực hiện : NGUYỄN ĐỨC HIỀN/K18A-VHVN
18

(QÂTT-Bảo kính cảnh giới- bài số 6)
Nguyễn Trãi sống trong lòng chế độ phong kiến, chịu sự chi phối của nó, có
nhiều lúc được hưởng ân huệ từ bầu sữa đó nên không thể không theo tư tưởng
chính thống của nó. Vì thế, một lẽ nữa làm cho Nguyễn Trãi thể hiện lòng trung là
do ông đã chịu nhiều ơn của vua. Nguyễn Trãi đã nhiều lần nhắc đến ơn chúa:
“Có con mới biết ơn cha nặng
Dừng lộc thì hay nghĩa chúa nhiều”.
(QÂTT-Bảo kính cảnh giới- bài số 37)
“Khỏi triều quan mới hay ơn chúa
Sinh được con thì cảm đức cha”.
(QÂTT-Trần tình- bài số 3)
Có những lúc Nguyễn Trãi còn cụ thể hóa lòng cảm ơn của mình xuống một tầng
mức thấp hơn đấng bề trên để thấy được sự bền vững của nó trong một chế độ mà
ông phụng sự:
“Ăn lộc nhà quan chịu việc quan
Chớ tham tiểu lợi phải gian nan”.
(QÂTT-Bảo kính cảnh giới- bài số 17)
Đạo Khổng còn có những rường cột khác nữa là tam cương và ngũ thường.
Nguyễn Trãi là một nhà nho chân chính, nhưng là một nhà nho chính trị, một nhà
nho văn hóa, một nhà nho thi sĩ , nên ông đã đem văn chương của mình truyền bá
tư tưởng Nho giáo thông qua hệ thống quan niệm đạo đức của nó, và cụ thể hóa nó
bằng những lời răn dạy đạo đức qua mối quan hệ xã hội với những nguyên tắc khắt
khe; qua mối quan hệ gia đình ràng buộc thứ bậc và bổn phận; qua đức tính con

điểm chính sau: Tự khuyên mình, dặn dò mình; Khuyên người và dạy người; Khuyên
nhủ, dạy dỗ con cái; Đúc rút luân lí để lại cho đời sau.Nguyễn Trãi, trước hết là tự
khuyên mình và dặn dò lòng mình, lấy đó làm điểm xuất phát để thể hiện hệ tư
tưởng mà ông đi theo, nhằm tạo cái gốc vững chắc,từ đó mới nói được cho người
khác nghe mà noi theo. Ông khuyên và răn mình hãy lấy chữ trung làm đầu; luôn
Một số vấn đề về văn hóa tư tưởng phương Đông
Ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi

Người thực hiện : NGUYỄN ĐỨC HIỀN/K18A-VHVN
20

“dặn dò” trong lòng mình điều đó. Ngoài chữ trung, Nguyễn Trãi quan tâm nhiều
đến chữ đức với nhiều góc độ: tích đức(Tích đức cho con hơn tích của- Hãy năng
tích đức để cho con), nuôi dưỡng đức (Trồng cây đức để con ăn), so sánh và coi
trọng đức hơn tài (Có đức thì hơn nữa có tài - Tài đức thì cho lại có nhân/ Tài thì
kém đức một hai phần- Miễn đức hơn tài được mấy phân), giá trị của đức (Đạo đức
lành ấy của chầy) Cách đánh giá giá trị đạo đức của Nguyễn Trãi hết sức cụ thể
mà cũng hết sức súc tích. Ông khuyên và răn mình mà cũng chính từ đó nó tỏa ra
cho mọi người để vừa tạo sự đồng cảm và cao hơn là để mọi người học tập mình
cùng trau dồi chữ đức cho bản thân. Sau chữ đức là phú quí giàu nghèo. Nguyễn
Trãi là người không coi trọng vật chất. Ông coi trọng danh dự và sự giàu có về tâm
hồn hơn là sự giàu có về tiền bạc. Bởi vì, thứ nhất người quân tử là người trọng danh
dự; thứ hai, Nguyễn Trãi ý thức được của cải không phải là thứ làm cho con người
trở nên sang trọng và có danh được; thứ ba, của cải không thể đi theo người khi con
người nhắm mắt xuôi tay. Nguyễn Trãi đã coi trọng sự giàu có về tâm hồn: “Phú qúi
lòng hơn phú qúi danh”, coi vợ con là giá trị lớn trong cuộc đời, hơn hẳn mọi sự
giàu có về vật chất:”Già mặc số trời đát/ Giàu ai qua vợ con”. Vì vậy mà ông coi
những người giàu có không có con ngoan hiền cũng trở nên vô danh: “Của nhiều
sinh chẳng được con hiền/ Ngày tháng công hư chực lỗ tiền”. Bởi vì Nguyễn Trãi
thấy rõ hào phú là “Bất nhân vô số nhà hào phú/ Của ấy nào ai từng được chầy”.

(QÂTT-Bảo kính cảnh giới- bài 17)
Nguyễn Trãi sống trong lòng chế độ phong kiến, ông viết những dòng thơ trên là
khi triều đình đang có những bất minh trong việc đối xử với những người tài, những
trung thần đã từng góp nhiều công sức và trí tuệ cho cuộc kháng chiến thắng lợi. Vì
vậy, ông tự răn mình, tự an ủi mình, nhưng đó cũng là thông điệp gửi cho mọi người,
gửi cho những kẻ vô ơn, khi đã có được thành quả trong tay thì quên quá khứ. Đọc
những dòng thơ viết về số trời, định mệnh con người nhằm an ủi, răn dạy đạo đức
trên, ta như nghe tiếng thở dài của Ức Trai vọng lại từ xa xưa- một “tiếng của cha
ông thuở trước ” thật đáng đồng cảm.Bên cạnh khuyên mình, răn mình là khuyên
Một số vấn đề về văn hóa tư tưởng phương Đông
Ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi

Người thực hiện : NGUYỄN ĐỨC HIỀN/K18A-VHVN
22

người, răn người nên sống có đạo đức, sống phải đạo, sống đúng với đạo trời. Trước
hết, ông khuyên con người không nên có lòng tham, không nên chạy theo vật chất
một cách tầm thường. Bởi vì lòng tham biến con người trở nên bất nhân, sống trên
mồ hôi và nước mắt người khác; vật chất làm cho con người trở nên “bất an”, nó có
thể trở thành “cái bẫy”, mình sa vào đó không biết chừng.Nguyễn Trãi khuyên:
“Lòng chẳng mắc tham là của báu
Người mà hết lụy ấy là tiên”.
(QÂTT-Tự thán- bài số 4)
Vì thế ông chủ trương:
“Trừ độc trừ tham trừ bạo ngược
Có nhân có chí có anh hùng”.
(QÂTT-Bảo kính cảnh giới- bài số 5)
Ông cũng nhìn rất rõ: vật chất nếu rơi vào tay người tham thì nó sẽ dẫn con người
đi đến đâu:
“Có của bo bo hằng chức của

thiệt về mình, thì mới “có an”. Chúng ta gặp những điều khuyên ở trên trong thơ của
Ức Trai thật nhiều; mỗi dòng là một lời nhắn nhủ ân tình, mộc mạc và cũng sâu sắc
vô cùng. Người được khuyên nhủ, vì thế không cho đó là giáo lý suông, là khô cứng
thiếu thực tế.Đặc biệt Nguyễn Trãi dành những dòng tâm huyết nhất để khuyên răn
dạy dỗ con cái trong nhà. Ngoài những điều khuyên răn về đạo đức chung cho mọi
người mà con cái cũng lấy đó để sửa mình, Ức Trai có những bài viết riêng cho con
cái. Ông dạy con sống tiết kiệm, sống giản dị, chăm làm lụng:
“Xa hoa lơ lãng nhiều hay hết
Hà tiện đâu đang ít hãy còn
Áo mặc miễn là cho cật ấm
Cơm ăn chẳng lọ kém mùi ngon
Xưa đà có câu truyền bảo:
Làm biếng hay ăn lở núi non”.
Một số vấn đề về văn hóa tư tưởng phương Đông
Ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi

Người thực hiện : NGUYỄN ĐỨC HIỀN/K18A-VHVN
24

(Dạy con trai)
Ông còn dạy con phải biết chăm học, học chữ thánh hiền, học việc, học bè bạn,
học làm người, nên rộng lượng và rộng lòng:
“Chơi cùng đứa dại nên bầy dại
Kết mấy người khôn học nết khôn
Ở đấng thấp thì nên đấng thấp
Đen gần mực đỏ gần son”.
(QÂTT-Bảo kính cảnh giới- bài số 21)
“Bầu bạn cùng nhau nghĩa chớ vong
Người kia phú quí chớ quên lòng”.
(QÂTT-Bảo kính cảnh giới- bài số 51)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status