Tư tưởng Nho giáo trong Quốc triều hình luật - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HOC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
TRẦN THỊ THUÝ NGỌC
Tư TƯỞNG NHO GIÁO TRONG QUỐC TRIỀU HÌNH LUẬT
Chuyên ngành: Lịch sử triết học 5.01.01
LUẬN VĂN THẠC sĩ TRIẾT HỌC
Người hưóng dẫn khoa học: TS. NGUYỀN KIM SƠN
HÀ NỘI - 2005
Mở đầu
MỤC LỤC
1
Nội dung 6
Chương 1: Hoàn cảnh kinh tế xã hội cho sự ra đời Quốc triều hình luật

6
1.1 Nhữno nhân tố kinh tế xà hội giai đoạn trước Lê sơ

6
1.1.1 Nhà Tiền Lê 6
1.1.2 Nhà Lý 11
1.1.3 Nhà Trần- Hồ 17
1.2 Nhừno nhân tổ kinh tế xã hội giai đoạn Lê sơ 21
Chương 2: j\hững nội (lung Nho giáo được chế định trong Quốc triều hình luật 30
2.1 Nho eiáo với tư cách học thuyêt chính trị xã hội tronẹ tương quan với pháp luật. 30
2.2 Tổng quan chuna về pháp luật trước Lê sơ 38
2.2.1 Pháp luật của nhà nước phong kiến phương Đông

38
2.2.2 Pháp luật Việt Nam trước Lê sơ 41
2.3 Một số nội dung Nho giáo cơ bàn trong Ouổc triều hình luật 49
2.3.1 Tôn quân và bảo vệ hoàng tộc

đã qua, vì pháp luật là chiếc cầu nối giữa ý thức hệ thổna trị với thực tiễn xã
hội qua việc điều chỉnh các quan hệ xã hội. Ouổc triều hình luật (còn gọi là Bộ
luật Hỏng Đức, xác định được viết ra dưới triều Lê Thánh Tông) được đánh
giá là bộ luật hoàn chỉnh nhất, giá trị nhất cùa các triều đại phong kiến nước ta
còn lại, đã hệ thống hoá, pháp điển hoá pháp luật hết sức công phu. Nghiên
cứu những tư tường Nho giáo thề hiện qua bộ luật cũng là một căn cứ xác tín
để xác định diện mạo tư tưởng thế ki XV. Thôno qua bộ luật, có thê thây được
ý đồ xây dựng nước Đại Việt của các nhà câm quyên Lê (điên hình là Lẻ
Thánh Tông) đã được điều chỉnh cho phù hợp với cơ tầng xã hội Việt Nam và
hiện thực hoá rất sống động qua từne điều luật trong Bộ luật.
2. Tình hình nghiên cửu đê tài
- về Lè Thánh Tông và Nho giáo thế ki XV, tiêu biểu nhất là hai cuôn
được xuất bản nhân dịp kỉ niệm 500 ngày mất Lê Thánh Tông: Hoàng đê Lê
Thánh Tone - Nhà chính trị tài nănư. nhà văn hoá lỏi lạc, nhò thơ lớn (Viên
o . <_> • •
Văn học) và Lê Thánh Tông (1442-1497) - Con ngirời và sự nghiệp (Đại học
Quôc gia Hà Nội). Hai cuôn sách đã phân tích và làm nòi bật vai trò của cá
nhân Lê Thánh Tỏng trons việc xây dựníi vương triêu phong kiến theo mô
hình Nho giáo rực rỡ nhất trong lịch sứ cả về kinh tế, xã hội, ngoại giao đồng
thời kiên tạo nên diện mạo văn hoá mới cho Đại Việt một cách toàn diện và
triệt để: giáo dục, khoa cừ, thuần phons mĩ tục, luật pháp theo khuynh
hướng Nho aiáo hoá. Nsoài ra, trong các aiáo trinh và sách tham khảo về lịch
sử tư tườnc Việt Nam (Viện Triết học, Lịch sử tư tườn% Việt Nam tập 1; GS
Phan Đại Doãn cb, Một sổ vắn đề về Nho giáo Việt Nam ) cũng đề cập tới
thế kì XV như giai đoạn thịnh trị nhât của Nho giáo trons tiến trình lịch sử tư
tườns, găn liên với tên tuôi Lê Thánh Tông.
- Nghiên cứu về pháp luật Việt Nam, 3 cuốn Sơ thào lịch sử nhà nước và
pháp quyển Việt Nam của Đinh Gia Trinh, Pháp luật các triều đại Việt Nam
và các nước của TS Cao Văn Liên và Giáo trình lịch sử nhà nước và pháp
luật Việt Nam cùa TS Vũ Thị Phụng đã cho cái nhìn tổng quan về tiến trình

giáo cũng ờ đỉnh cao đã sinh ra một giả thuyết là: Nho giáo thế ki XV đã tác
động rõ nét đến pháp luật Việt Nam, và ngược lại, thôno qua phân tích các
điều luật cụ thể (trong Quốc triều hình luật) chúng ta có thể hình dung đưọc
khá chính xác về sự thịnh trị của Nho giáo trong thế kỉ này. Công việc của
luận văn phải làm là chứng minh cho tính chân thực cùa giả thuyết đó.
- Đê thực hiện được mục đích trên, nhiệm vụ của luận văn phải lí giải
được: thứ nhất, chi ra nhừna nhàn tô kinh tế xã hội đã làm sản sinh ra bộ Ouổc
triều hình luật', thứ hai, mô tà những nội duns tư tưởns, Nho giáo trona Ouôc
triều hình luật bằng các phân tích định lượng; thứ ba, nêu những đặc điểm của
3
tư tường Nho giáo trong Oitốc triều hình luật, từ đó ơỏp phần khái quát lẻn
diện mạo tư tưởng Nho giáo trons thế kì XV.
4. Phưong pháp nghiên cứu
- Luận ván sử dụng phương pháp logic-lịch sử của CNDVBC, thôno qua
các sự kiện lịch sử để rút ra logic vận độna nội tại của các sự kiện kinh tế xã
hội, từ đó vận dụng logic này vào phân tích sự chuyển biến cùa các loại hình
tư tườna, đặc biệt là sự lèn ngôi của Nho £Ĩáo vào thế kì XV.
- Luận văn quán triệt quan điểm về hình thái ý thức xã hội là sự phản ánh
tồn tại xã hội của CNDVLS vào việc nhìn nhận, đánh giá luật pháp và tư
tưởng Nho giáo thế kỉ XV.
- Nsoài ra, phươno pháp được dùng phổ biến nhất trong luận văn là
phương pháp định lượng kết hợp với mô tà và đối chiếu so sánh, phân tích và
tổng hợp, những thao tác cụ thể để có thể khắc hoạ được xác thực các nội
dung Nho giáo thể hiện thông qua các điều luật.
5. Cái mói của luận văn
Do là một bộ luật tiêu biểu cho lịch sử lập pháp phono kiến Việt Nam,
Quốc triều hình luật đã tốn không ít công phu của các nhà nghiên cứu trong và
ngoài nước, đặc biệt là nghiên cứu pháp luật. Bộ luật đã được mô xẻ chi tiêt
dưới các sóc độ của khoa học pháp lí: kĩ thuật lập pháp, các chê tài và khung
hình phạt, mức độ bao quát đời sốnơ xã hội xét trên quan điểm lập pháp hiện

Với chiến thắng của Ngô Quyền trên sông Bạch đàng năm 938, đất
nước ta bước vào một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên xây dựng va phát triển liên
tục cùa các vương triều phong kiến độc lập dân tộc. Tuy nhiên, dưới ngọn cò’
lãnh đạo cùa giai cáp phong kiên dàn tộc, chiến thắng của nhân dân ta mới chì
là chiến thăng quân sự, được bat nguồn từ ý chí quật cường, khát khao siành
độc lập dân tộc. Giai cấp phong kiến người Việt bat tay vào xây dựns, nhà
nước phong kiến độc lập dân tộc trên cở sở của một kết cấu kinh tế - xã hội
còn non yếu và rời rạc. Cơ sở hạ tầng xã hội còn nhiều hạn chế để có thể đóng
vai trò là bệ đỡ vật chất cho thượng tầng kiến trúc của một nhà nước phong
kiến truna, ương tập quyền đủ mạnh.
Xem xét từ mối quan hệ giữa hạ tầng cơ sở và thượng tầng kiến trúc
trong một chình thể hình thái kinh tế - xã hội, có thể nói rằng, lịch sử của các
triều đại Ngô (939 - 967), Đinh (968 - 980), Lê sơ (980 - 1009) là lịch sử đấu
tranh cùa hai xu hướng đối iập: phân cắt và thống nhất, li tâm phân quyên và
hướng tâm tập quyền về chính trị. Hệ quả tất yếu của quá trình lịch sử đó là
từng bước hình thành ngày càng rõ ràng quan hệ kinh tế địa chủ - tiểu nông,
bệ đỡ kinh tế - giai cấp đích thực cùa thượng tầna kiến trúc phong kiên, cùa
nhà nước phong kiến trung ương tập quyền dân tộc.
Sừ cũ chép lại, sau chiến thắng sônơ Bạch Đằng, năm 939 Ngô Quyên
xưng vương đóns đô ở cổ Loa “thừa quốc thống” (ý nói kế tục sự nghiệp của
Hùnơ vương và An Dương vươna), nhưng nền thông nhất của quôc gia - dân
tộc vẫn luôn bị đe doạ bởi âm mưu cát cứ của các thế lực quân sự địa phương.
6
Ngay sau khi ông mât (944), đàt nước rơi và cảnh nội chiến liên miên giữa các
“vương” (Dương Binh virơnu - Dươno Tam Kha, N«ô Nam Tấn vuơns - Noô
Xương Văn, Ngô Thiên Sách vương - Nơỏ Xương Ngập), mà thực chất là sự
thôn tính lần nhau giữa các thế lực quý tộc địa chủ - quân sự ờ các khu vực
trọng yếu cùa đất nước. Kết quả khách quan của thời kỳ “loạn mười hai sử
quân” là đã hinh thành nên mười hai thế lực đại địa chủ - quân sự chiếm cứ
mười hai vùng kinh tế phì nhiêu của châu thổ sông Hồne, sông Mã, trài rộng

chép: năm 938 đào con kênh từ vùng Đồng cổ (Yên Định) đến sông Bà Hoà
(Tĩnh Gia, Thanh Hoá), năm 1003 vét vét kênh Đa Cái và nối kênh sắt với
sông Lam (Nghệ An, Hà Tĩnh), năm 1009 đào sông ờ châu Di (Thanh Hoá) và
vét sông Đuống thông với sông Thái Bình Ket quả của những công trình
thuỷ lợi này, một mặt có tác dụng thuv lợi tưới tiêu nâng cao năng suất kinh tế
nôno nghiệp, mặt khác cũng mở mang giao thông đường thuỷ phục vụ đắc lực
cho mục đích quân sự hành chính, về binh chế, năm 988 Lê Hoàn đặt ngạch
thân binh, biên chế lại quân thường trực cùa trung ương, tăng cường kiểm soát
và khống chế đối với các thế lực ở biên giới. Cùng năm ấy Lê Hoàn bẳt đầu
định pháp lệnh.
Thành tựu của những chính sách thiết thực và tích cực trên đây đã tạo
nên sức mạnh toàn diện của đât nước, đủ sức đối phó với kẻ thù xâm lược bên
ngoài cũng như nhiều mối uy hiếp của các thế lực cát cứ trong nước, đảm bảo
nền độc lập dân tộc và thong nhất đất nước. Chính nhờ có thực lực vê kinh tê
và quân sự, năm 996, do có vài vụ rấc rối xảy ra vùng giáp trấn Như Hông
(thuộc Quảng Đôno, Trung Quốc) mà vua tôi Tống ngờ do nhà Tiền Lê eây ra,
sai sứ giả sang cật vấn, vua Lê Đại Hành đã trả lời thẳng: “Việc cướp trấn
Như Hồng là do bọn giặc biên ơ cõi ngoài, Hoàno đê có biêt đó không phải là
8
quân cùa Giao Châu không? Nếu Giao Chàu có làm phản thi đầu tiên đánh
vào Phiên Ngung, rồi đánh lèn Mân Việt, há chỉ có trấn Như Hồnc mà thôi
ir?” [50,72],
Xu hướng trung ương tập quyền ngày càng thắng thế, hệ quả tất yếu dẫn
tới là chế độ sở hữu nhà nước về ruộng đất từng bước được xác lập, tuy nhiên
nó vần phải nhân nhượng nhìrng yếu tố phân tán, bao dung những hiện tượng
tự trị do lịch sử đê lại. Đó là nguyên nhân dẫn đến hiện tượng phân phong
không triệt để ở Việt Nam từ thế kỉ X đến thế kỉ XIV, như chế độ thực phong
thực ấp dưới triều Lý hoặc điền trang thái ấp dưới thời Trần. Cơ cấu xã hội
dưới triều Tiền Lê, trên nhừno nét lớn gồm ba tầng lớp xã hội:
1, Tầng lớp thống trị, bao gồm quý tộc, quan lại và các “thổ tù”, “hào

trạng trên đây là nguyên nhân quan trọng làm mờ nhạt vai trò chủ sở hữu về
ruộng đất của nhà nước (cũng có nghĩa là làm suy yếu nhà nước truns ương
tập quyền), đồng thời nó cũng hạn chế quá trình tư hữu hóa ruộng đất để hình
thành quan hệ kinh tế địa chủ - tiểu nônơ, cơ sờ kinh tế xã hội đích thực của
chế độ phong kiến hoàn chinh.
Kết quả khách quan của những biến động chính trị đã tạo nên những
chuyển bển tích cực của kết cấu kinh tế xã hội. Tài năng và uy tín của Lẽ Đại
Hành đã không giúp ông vừno vàng trong ngôi vị hoàng đế điều hành nhà
nước trung ương tập quyền mới được xây dựng, nguy cơ trồi dậy của các thế
lực cát cứ ngày càng rõ nét. Ngay sau khi ông chết (1005) các con liên nôi dậy
tranh giành ngôi vua, chém giết lẫn nhau, cát cứ từng vùng, khiên đât nước
lâm vào tình trạng như "Đại Việt sử ký toàn thư" ghi "trong nước không có ai
là chủ". Từ năm 991, Lê Đại Hành đã thi hành chế độ phân phong cho các
con, mười hai người con cùa ỏng (trừ Lons Thâu, Ngân Tích và Lonơ Việt
10
iược phong đát ờ Kinh đô) đều được chia trị các châu quận từ Thanh Hóa đến
Băc Giano, Hải Phòno, trên thực tế đã hình thành các thế lực kinh tế - quân sự
iộc lập. Nêu như mười hai khu vực dưới thời loạn sử quân chi là sự cát cứ
•chông chính thức của các sứ quân và do vậy nó không ổn định, thì mười hai
vùng đât được phân phong xuất phát từ chế độ phản phong chính thức của nhà
vua lại ốn định hơn nhiều. Trên danh nshĩa, chế độ phân phong thời Tiền Lẻ
vhông gẳn liền với chế độ ban cấp ruộns đất hay thái ấp như thời đại Lý -
Trần sau này, người được phong chỉ thay mặt vua trấn trị một vùng và được
:hu sản phẩm thặng dư cùa một số hương ấp theo quy định của nhà vua. Tuy
nhiên trên thực tê, khi chính quyên trung ương suy vêu không kiêm soát nôi,
Igười được phân phong thực sự là nhừns địa chủ - lãnh chúa cùa vùng đất
dược phong, thực hiện nghĩa vụ nộp tô thuế với nhà nước dưới hình thức cống
nạp. Với tư cách là chủ sở hữu ruộng đất cùa một vùng, họ từng bước can
ihiệp sâu vào nội bộ công xã nông thôn truyền thống, mà trước hết là vào hình
ihức sờ hữu ruộng đất của công xã, biến công hữu thành tư hữu Cho đến

1010, chỉ mấy tháng sau khi lên ngôi, ông đã cho đổi mười đạo của thời Tiền
Lê (còn mang nặng ý nghĩa quân sự) thành hai mươi tư lộ trực thuộc trung
ương. Đơn vị hành chính dưới lộ là phù (miền núi là châu), hương giáp và
thôn (đơn vị hành chính cơ sở ờ kinh đô là phường, Thăng long thời Lý có sáu
mươi mốt phường). Cùng với việc thay đổi các đơn vị hành chính, Lý Thái Tô
tiến hành kiện toàn bộ máy nhà nước, bổ sung nhừna, cơ quan, chức danh mới
từ trung ương đến địa phươna, để điều hành đất nước.
về kinh tế, sự bạc nhược bất lực của chính quyền trung ương thời
Tiền Lè khiến cho các thê lực cát cứ nổi dậy, xét trên phươnơ diện kêt câu
kinh tế - xã hội, đã thúc đẩy quá trình phone kiến hóa được nhanh hơn. Đê xây
dựno và củng cố cơ sở của nhà nước phong kiên tập quyên vừng mạnh, việc
12
đâu tiên là cân phải khăng định trên thực tê quyên sờ hữu tỏi cao cùa nhà vua
đôi với ruộng đất trong cả nước thôns qua chế độ tô thuế. Năm 1011, chỉ một
năm sau khi định đô, Lý Thái Tổ hạ lệnh "xá thuế cho thiên hạ ba năm, nhữno
người mô cỏi, góa chông, già yêu thiêu thuê đã làu đêu tha cho cả". Năm
1013, ông cho định lại chê độ tô thuế trong cả nước, theo đó, thuế (quy ra tiền
hoặc thóc) được thu trẽn cơ sở tính toán theo diện tích canh tác, kể cả các bãi
:rôíig dâu và dO đâm. Trên nét lớn, ruộng đất thời Lý bao gồm hai bộ phận là
'uộng đát cônơ (ruộng cỏng của nhà nước và ruộng công của làng xã) và
ruộng đât tư (ruộng tư cùa địa chủ, ruộna tư của nôns dân và ruộng nhà chùa),
ở đây, để tập trung vào nghiên cứu xu hướng phong kiến hóa từ cơ sở kinh tế
- xã hội, chúng tôi chi chủ yếu phân tích những vấn đề xung quanh bộ phận
'uộns đât công của làng xã và ruộns tư của địa chủ, ruộng tư của nông dân.
Chế độ công hữu làng xã về ruộng đất xuất hiện rất sớm từ thời dựng
iước trên cơ sở tan rã của chế độ cộng sản nguyên thủy. Công xã nông thôn
chiềng, chạ, làng, mường ) là đơn vị kinh tế - xã hội - quân sự - văn hóa
loàn chỉnh, dựa trên cơ sở vật chất cơ bản là ruộng công làng xã. Trải qua hơn
VìC&yẨA^ l ,
một írăsMiăm Băc thuộc, làng xã vân là những đơn vị tự quản - tự trị, kẻ thù

mua 126 mẫu ruộng cúng cho chùa.
Như trên đã nói, nhà Lý thay nhà Tiền Lê xuất phát từ yêu cầu bức thiết
trước sự tồn von£ của đất nước đặt ra. Bẳt tay vào xây dựng nhà nước tập
quyền, các vua đầu triều Lý đứng trước sự lựa chọn mô hình: hoặc theo mô
hình nhà nước theo thê chế quân chủ Phật giáo như một sô nước Đông Nam A
đươnti thời, hoặc theo mô hình quân chủ Nho giáo sằn có của nhà Tôns. Hệ tư
tưởns, Phật giáo vốn đã được truyên bá, ăn sâu và có ảnh hưởng lớn lao trong
mọi mặt của đời sổng tinh thân dàn tộc, tuy nhiên, xét vê hệ tư tirờne chính trị,
14
thê chê quân chù Phật giáo là một thê chế lòng lẻo, không đáp ứng được yêu
câu xây dựng củng cố nhà nước trung ương tập quyền đù mạnh, một vêu cầu
bức thiết đặt ra lúc bấy giờ. Nhân dân ta vừa thoát khỏi 1000 năm dưới ách
thông trị cùa hệ tư tưởng - thể chế quân chù Nho siáo, nẻn từ trong tâm thức
không dề dàng chấp nhận mô hình này, dù đó là sản phẩm tinh thần của một
xã hội đă phát triển cao, có đầy đủ những yếu tố đảm bảo thiết kế xây dựng và
củng cổ nhà nước tập quyền phong kiến. Xuất phát từ điều kiện cụ thể của lịch
sử đặt ra, các vua đầu triều Lý đà lựa chọn mò hình thứ ba: xây dựng nhà nước
phong kiên trung ương tập quyền dàn tộc trên nền tảng dung thông hệ tư
tưởng tam 2 Ĩáo Nho Phật Lão, trong đó mồi hệ tư tưởng tôn giáo có một chức
năng riêns (dĩ Phật trị tâm, dĩ Đạo trị thân, dĩ Nho trị thế, tức là, dùng Phật
giáo để bồi dưỡng điều chỉnh cái tâm, dùng Đạo giáo rèn luyện bồi dường
thân thể điều hoà lối sống cá nhân, dùng Nho giáo trong công việc quản lí xã
hội quản lí điều hành đất nước).
Mô hình sáng tạo này đã đóng vai trò quyết định tạo nên sức mạnh toàn
diện của hai triêu đại Lý Trần, giúp quân dân Đại Việt giành được những
thắng lợi oanh liệt trong sự nghiệp đấu tranh bảo về nền độc lập dân tộc, đông
thời nó cũn2 là trụ cột tinh thần, nền tảng văn hoá của nền văn minh Đại Việt
huy hoàng. Tuy nhiên, xét từ xu hướng phong kiến hoá (một xu hướng tiến bộ
tất yếu của lịch sử lúc bấy giờ), thể chế nhà nước quân chủ tập quyền được
xây dựng trên cơ sở của hệ tư tưởng dung thông Tam giáo, trên thực tê đã

khuynh hướng phát triển, quy mô và tính chất của kiến trúc thượng tầng xã
hội, đà hạn chế quá trình đó.
Từ thế ki XIII nhà Lý băt đâu suy vona, nhà nước tập quyên suy yêu,
nội chiến giữa các thế lực quân sự nô ra khắp nơi. Trong bối cảnh đó, thê lực
16
/. 1.3 Nhà Trần - Hồ
Từ thẻ kỉ XIII nhà Lý bẳt đầu suy vona, nhà nước tập quyên suy yêu,
nội chiên giữa các thê lực quàn sự nổ ra khap nơi. Trons bôi cảnh đó, thê lực
quân sự cùa họ Tràn vùng duyên hải Nam Định dựa vào quan hệ hôn nhân với
hoàno tộc dân dân lớn mạnh, nam giữ những vị trí quan trọng trong triêu đình.
Năm 1225, thôns qua hôn nhân, Trần Cảnh lẻn ngôi, lập ra nhà Trần (1225 -
Nhà Trân là triêu đại lập được võ cônơ hiên hách nhất trong lịch sử chế
độ phong kiến Việt Nam. Từ nứa cuối thế ki XII, bộ tộc du mục Tác-ta đã trở
thành một đế quốc phong kiến hùng mạnh. Vó ngựa của quân Nguyên Mông
tung hoành khắp lục địa Á Âu. Phía Tây quân Nguyên Mông đã vượt qua sông
Vonga đe doạ nước Ý, phía đông cả một lục địa Trung Hoa rộng lớn với đế
chế Tống một thời vàng son cường thịnh đã phải nhẫn nhục khuất phục dưới
lưỡi gươm yên nsựa của quân Mông cổ. Nước Đại Việt là mục tiêu cuối cùng
của đế chế ấy để làm bàn đạp tấn công các nước Đông Nam Á. Vương triều
Trần và quân dân Đại Việt đứng trước thử thách cực kì khốc liệt. Chiến tranh
là một thử thách toàn diện, do vậy có thể dễ nhận thấy mọi hoạt động từ kinh
tế đến hành chính, quân sự, ngoại giao, văn hoá tư tưởng dưới thời Trần đều
nhằm tăng cirờns khối thống nhất quốc RÌa, sức mạnh toàn diện của đất nước
để vượt qua được thử thách của chiến tranh vệ quôc.
Trước hết về chính trị, ngay sau khi lên ngôi, nhà Trần chủ trương xây
dựng mô hình nhà nước theo thể chế quân chủ quan liêu quỷ tộc đòng tộc có
tính tập quyền cao độ. Các quý tộc Trần luôn luôn có ý thức ràng quốc gia xã
tẳc này là của chung quý tộc Trần, mọi nsirời đều phải có trách nhiệm cùng
nhau bào vệ và thự hưởno. Kết thúc cuộc kháng chiến chổng Nguyên Mông
lần thử hai, xúc cảm khi nhìn thấy phần mộ tổ tiên ở Thiên Trường bị quân

lộ, mồi lộ đặt quan cai trị gọi là An phù sứ, dưới lộ là các tư xã, xã nhò là Tiêu
tư xã, xã lớn là Đại tư xã, nsười đứn« đâu là xã quan do nhà nước trực tiêp bô
nhiệm. Nhà Trần quy định, mồi năm vào mùa xuân xã quan phải kê khai đây
đủ sổ hộ khẩu hộ tịch của xã minh và sô tnrớnu tịch, báo cáo đây đủ đẽ nhà
18
nước có thẻ thườns xuyên nấm chắc được số dàn đinh trong cả nước. Trước
mát phục vụ quôc phòng. Ngoài nhĩrniĩ làno xã trona các điền trana thái ấp do
quý tộc Trân trực tiêp quản lí, mồi làng xã là một đơn vị kinh tê quân sự, vừa
sản xuât vừa chiên đâu, khi giặc đến phải thực hiện vườn khôns nhà trống
đánh du kích. Sử cũ còn ehi, kêt thúc cuộc kháng chiến lần thứ hai, vi hai làng
Báng Hà, Bà Điêm đâu hàng giặc, Thượng hoàns Trần Thánh Tông đã tức
eiận phạt dân đinh hai lànơ đó vĩnh viễn phải xung quân làm lính, khônc được
làm quan.
Dưới hai triêu đại Lý Trân, Phật giáo được coi là quốc giáo. Trong triều
ngoài nội hệ tư tường Phật giáo đóng vai trò chủ đạo. Sừ cũ chép có đến nửa
nước là sư tăng. Tuy nhiên, bởi sự chi phối của chiến tranh, Phật giáo thời
Trần có điểm khác với Phật giáo thời Lý về tổ chức cũng như tư tườns. Nếu
như dưới thời Lý sinh hoạt Phật giáo còn phân tán, chủ yếu theo các sơn môn
hệ phái thì đến thời Trần lần đầu tiên có một tổ chức Giáo hội chunơ thống
nhất - Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Vua Trần Thái Tông, vị vua đầu tiên của
nhà Trần, noười lãnh đạo quân dân Đại Việt tiến hành thắng lợi cuộc kháng
chiến chống Nguyên lần thứ 1 cũng là người đặt nền móng lí luận cho Thiền
phái Trúc Lâm Yên Tử. Trần Nhàn Tông là vị vua anh hùng, người chiến sĩ
đích thực của cuộc kháng chiến chống Nguyên lần thứ 2 và thứ 3, đồng thời
cũng là Tổ thứ nhất của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Hầu hết quý tộc Trần
đều theo Phật giáo. Nhờ sự ủng hộ của tầng lớp quý tộc, thế lực kinh tế tự viện
dưới thời Trần rất lớn, chẳng hạn vua Anh Tôns đã cấp cho chùa Quỳnh Lâm
của Tổ thứ 2 là Pháp Loa đến hơn 1000 mẫu ruộng. Chúng ta không có tài liệu
để biết cụ thể hơn về phương thức quản lí khai thác bộ phận tự điên này,
nhưng có thể suy đoán lực lượng sản xuất chủ đạo vẫn là nông dân tron? các

đường suy vong. Hô Ọuý Ly là nmrời nhận thức được nauyên nhân sâu xa sự
suy VOIÌ2 cùa nhà Trân, ông quvết tàm khăc phục nó băna một loạt những cải
cách trẽn mọi phương diện kinh tê, chính trị, văn hoá 2Íáo dục, về kinh tế,
Hô Quý Ly chủ trương hạn chế, đi đên làm suy yêu thực lực của tầng lóp đại
quý tộc Trân băng chính sách hạn điên (hạn chê việc sở hữu ruộng đất lớn),
hạn nô (hạn chê việc mua bán nô tì) đê bào vệ lực lượng sàn xuất. Nen kinh tế
tự viện cũng bị tân công. Ngoài chính sách hạn điên được thi hành chung, Hô
Quý Ly còn quy định sư tăng dưới 50 tuôi phải hoàn tục trở về quê cày cấy, sô
còn lại phải qua sát hạch để cấp độ điệp (chủng chỉ). Cải cách kinh tế của Hồ
Quý Ly đã hạn chế đirợc sự kiêm tính ruộng đất lớn, tạo điều kiện cho tầng
lớp địa chủ nhò phát triển. Mặc dù có thừa nhiệt tình và không ít thiện chí
nhưng cuổi cùng cải cách của Hồ Quý Ly phải chịu thất bại, bởi nó thiếu cơ sở
kinh tế xã hội bảo đảm cho những ý tường thuộc kiến trúc thượng tầng thành
hiện thực.
1.2. Những nhân tố kinh tế xã hội giai đoạn Lê so-
Năm 1427, sau thẳng lợi của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, kết thúc 20 năm
thống trị của giặc Minh, Lê Lợi lên ngôi vua. Xét về tiến trình lịch sử, từ Trần
mạt sang Lê sơ là bước chuyển quan trọng, từ nền kinh tế đại điền trang thái
ấp cùa nhà nước tập quyền dựa trên tầng lớp quan liêu quý tộc đông tộc sang
nền kinh tế địa chủ phong kiến tiểu nông cùa nhà nước phong kiên tập quyên
dựa vào tầng lớp quan liêu phong kiến chức năng. Tầna lớp địa chủ có điều
kiện phát triển mạnh mẽ cuối Trần, qua 20 năm Minh thuộc, giờ đây trở thành
bộ phận quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội, là giai câp tiên tiên của lịch
sử. Ngay trona buổi đầu khởi nghĩa Lam Sơn. bản thân thù lĩnh nghĩa quân Lẽ
Lợi là đại biểu của tầng lớp địa chủ mới lẻn ờ Thanh Hoá, những nhân vật
21
trọng yêu trong bộ tham mưu nghĩa quàn hâu hêt là (hoặc xuât thân là) những
địa chủ từ mọi miên đất nước.
rừ một “phụ đạo lộ Nhã Lam” trờ thành 1 loans đế, sau khi đà ban phẩm
cấp và đặc quyền tước lộc cho các công thần, tháng 4 năm 1428, Lê Lợi đặt

việc củng cỏ chê độ phong kiên tập qưyên lúc bấy giờ. Dưới thời Thánh Tông,
bộ máy nhà nước phong kiến tập quyền đã phát triển tới mức cao nhất cùa nó,
các thứ chế độ, quy chế phong kiến về mọi mặt kinh tế, chính trị, văn hoá đều
được hoàn thành làm mẫu mực cho những triều đại phong kiến sau này. Trong
phạm vi thời Lê sơ, nếu thời Thái Tổ đến Thái Tôno là thời kì xây dựng nhà
nước phono kiến tập quyền thì thời Thánh Tông chính là thời hoàn thành công
việc xây dựng ấy. Thời Thánh Tông là đinh phát triển cao nhất của chế độ
phong kiến tập quyền Việt Nam.
Kinh nghiệm quản lí đất nước còn chưa hoàn bị qua các đời Thái Tổ,
Thái Tông và Nhân Tông, sự kiện loạn Nghi Dân và phế bỏ Nghi Dân trực
tiếp hẳn đã đủ để chuẩn bị các điều kiện cho ông vua tài ba Lê Thánh Tông
thực hiện một cuộc chỉnh đốn, sẳp xếp lại đất nước quan trọng nhất, khiến nhà
nước Lê Thánh Tôno trở thành một bộ máv phong kiến quan liêu chặt chẽ,
nhưng cũng phiền phức nặng nề. Năm 1466, Thánh Tông chia lại các khu vực
hành chính, chia cà nước ra 12 đạo. Đứng đầu mồi đạo có hai ti: một ti phụ
trách về quàn đội, ti còn lại phụ trách về hành chính và tư pháp (Đô ti và Thừa
ti). Dưới đạo có phủ, châu, rồi đến huyện và xã. Như thế là cơ cấu hành chính
từ các đời trước đã bị thay đổi: lộ đổi thành phu, trấn đối thành châu. Theo đó
các quan chức cũng bị thay đổi: An phủ sứ thành Tri phủ, Chuyên vận sứ làm
tri huyện, xã quan làm xã trường Việc chia lại các khu vực hành chính này
23

Trích đoạn Tôn quân và bảo vệ hoàng tộc
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status