tiểu luận cao học ảnh hưởng của tư tưởng nho giáo trong đời sống xã hội việt nam hiện nay tới việc hình thành tư tưởng xã hội chủ nghĩa - Pdf 38

A. PHẦN MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
Tôn giáo đang là vấn đề cấp thiêt trong xã hội ta hiện nay nhất là thời kì
quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội.ngày 16/6/1999 bộ chính trị ra nghị quyết 24
về công tác tôn giáo trong tình hình mới và xác định tôn giáo là vân đề lâu dài
, tín ngưỡng tôn giáo là vấn đề cấp thiết trong đời sống của một bộ phận
người dân .
ở nước ta đang tồn tại nhiều loại hình tôn giáo khác nhau như: Nho giáo
phật giáo, công giáo, cao đài, hòa hảo…mỗi loại hình tôn giáo có ảnh hưởng
riêng đến đời sống nhân dân ta.Trên đây là đề tài về ảnh hưởng của nho giáo
đối với đời sống xã hội đạo đức việt nam hiện nay,nên chúng tôi chỉ xin
nghiên cứu những ảnh hưởng của nho giáo và đề tài này cũng đang là một vấn
đề cấp thiết hiện nay bởi nó là một hệ tư tưởng, hệ tư tưởng đó xấu hay tốt
tích cực hay tiêu cực còn tùy thuộc vào việc ảnh hưởng vào đời sống thực tiễn
vì vậy tôi xin nghiên cứu đề tài này bởi:
Thứ nhất: Sự tồn tại dai dẳng của đạo nho và đạo đức nho giáo trong xã hội
việt nam nói chung, trong đời sống người nông dân nói riêng là một tất yếu
khách quan, tồn tại cũ mất đi nhưng ý thức,tư tưởng xã hội đó vẫn còn. Ởviệt
nam chế độ phong kiến tồn tại lâu đời từ 938-1945 nhưng nhìn lại lịch sử phát
triển của hệ tư tưởng ta thấy mặc dù chế độ phong kiến đã mất đi từ khi ông
Trần Huy Liệu vào triều đình huế thu ấn kiếm của Bảo Đại và theo đó nho
giáo cũng hết vai trò, nhưng những tư tưởng của nó vẫn còn tồn tại đến tận
ngày nay có những tư tưởng tích cực nhưng cũng có những tư tưởng tiêu cực
như: bảo thủ, trì trệ, lạc hậu, trọng nam khinh nữ, gia trưởng…cũng không thể
trách được sự ảnh hưởng của nó sâu sắc đến vậy bởi đạo đức phong kiến đã
đưa các triều đại phong kiến lên một nấc thang phát triển mới, trong những
giai đoạn đó giai cấp phong kiến đã lấy nho giáo làm vũ khí tư tưởng củng cố
chính quyền để thống trị xã hội .Vì vậy nhân dân việt nam dù muốn hay

1


2


đời để có thể kiên định lời nói hành động lời nói của mình mà không sợ sai,
sợ không đúng.
Với các lí do trên với tư cách là người ngiên cứu đề tài tôi thấy việc lựa
chọn đề tài này là hết sức cần thiết này là hoàn toàn đúng đắn, bởi nó phù hợp
với những nhận thức lí luận và thực tiễn và nhất là người nghiên cứu lại là
sinh viên của khoa tuyên truyền thuộc chuyên nghành công tác tư tưởng.
2. Nhiệm vụ và mục tiêu nghiên cứu đề tài
2.1 Mục tiêu nghiên cứu đề tài
Sự tồn tại dai dẳng của nho giáo cùng những ảnh hưởng tích cực,
tiêu cực của đạo đức nho giáo vẫn còn ảnh hưởng rất lớn đối với đời sống tinh
thần người nông dân việt nam hiện nay.Vì vật mục đích lớn nhất của việc
nghiên cứu đề tài này là nghiên cứu để tìm hiểu dõ nó và khi tìm hiểu dõ thì
đấy ta sẽ đưa những giải pháp để hạn chế những biểu hiện tiêu cực của đạu
đức nho giáo đối với đời sống tinh thần người nông dân việt nam hiện nay,
góp phần thêm những tư tưởng tích cực đáp ứng nhu cầu tinh thần của người
dân.
2.2 nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Để đạt được mục đích nghiên cứu đề tài người nghiên cứu xin xác
định nhiệm vụ cụ thể của đề tài như sau:
Thứ 1: Xác định cơ sở lý thuyết cho đề tài để tiến tới làm dõ nội
dung ,đi từ lý luận đến thực tiễn
Thứ 2: Tìm hiểu nguồn gốc của đề tài từ đó phân tích đánh giá
những tư tưởng tiêu cực dang ảnh hưởng của nho giáo đối với đời sống tinh
thần của người nông dân việt nam hiện nay.
Thứ 3: Trên cơ sở phân tích làm rõ nội dung và đánh giá thì đề ra
những biện pháp, phương hướng khả thi để tác động đẩy lùi những biểu hiện
tiêu cực đó củng cố xây dựng xã hội mới, con người mới xã hội chủ nghĩa.

B. PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I:
NHO GIÁO VÀ NỘI DUNG CHỦ YẾU CỦA NHO GIÁO
TRONG HỌC THUYẾT NHO GIA
1: Hoàn cảnh ra đời của học thuyết nho gia
Nho giáo được xuất hiện ở thời xuân thu chiến quốc thế kỉ thứ VIII-III
trước công nguyên, ở thời kì chiếm hữu nô lệ chuyển sang chế độ phong kiến
ở trung quốc, ®ồ sắt xuất hiện tạo nên cuộc cách mạng công cụ lao động thúc
đẩy kinh tế, con người có thể tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội nhưng
đồng thời với sự phát triển đó thì mâu thuẫn trong xã hội cũng bắt đầu xuất
hiện và ngày càng mâu thuẫn đến mức gay gắt quyết liệt giữ tầng lớp phong
kiến thống trị với giai cấp bị trị từ đã xã hội phân hóa sang hèn dựa trên cơ sở
tài sản. Xã hội lúc này ở vào tình trạng hết sức đảo lộn, chiến tranh liên miên
khốc liệt, sự tranh giành của các thế lực các cứ, giữa các nước chư hầu tranh
giành đất đai, bành trướng lãnh thổ. xã hội loạn lạc đạo đức suy thoái, thời đại
“lễ hư, nhạc hỏng” nhân dân đói khổ vì chiến tranh và áp bức bóc lột diễn ra
khiến lòng người bấn loạn bất an. Sự chuyển biến của thời đại đặt ra những tụ
điểm, những trung tâm các “kẻ sĩ” luôn tranh luận về trật tự xã hội cũ và đề ra
những hình mãu của xã hội trong tương lai, lịch sử trung hoa gọi thời kì này
là “bách gia chư tử , bách gia minh tranh” (trăm hoa trăm thầy , trăm hoa
đua tiếng). Chính trong quá trình ấy đã sả sinh ra các nhà tư tưởng lớn và
hình thành nên ác trường phái triết học khá hoàn chỉnh như : Nho Gia, Pháp
Gia, Mặc Gia…Trong đó ảnh hưởng nhất là Nho Gia và Pháp Gia.
Nho Gia có thể coi là một học thuyết về chính trị-xã hội và đạo đức
chính thống trong xã hội Trung Hoa. Nho gia do Khổng Tử xây dựng nên học
thuyết này đã được coi như học thuyết về chính trị về xã hội và đạo đức cơ
bản của xã hội Trung Quốc bởi nó đã nêu lên những vấn đề cơ bản nhất của
chế độ phong kiến và thừa nhận sự thống trị của giai cấp phong kiến và đó
cũng là hệ tư tưởng của toàn xã hội ,dù nhân dân có muốn hay không muốn
5

hệ mà có năm mối quan hệ “Ngũ luân” Vua – Tôi, Cha – Con, Vợ - Chồng,
6


Trờn - di, Bng hu. Mi quan h ú cng c th hin theo hai chiu v
theo trỏch nhim, vai trũ, a v ca mi ngi nh: B tụi phi trung thnh
vi vua, Vua phi cú trỏch nhim l ngi sỏng sut lónh o b tụi
n ng Trng Th thi hỏn ó tip thu nhng t tng v a ra
Tam cng Ng Thng, ba mi quan h ú ch cú mt chiu ( Quõn s thn
t, thn bt t bt trung) Vua, Cha, Chng, l tr ct cho Tụi, V, Con.
Ng thng: Con ngi cú Tam cng phi cú ng thng: Nhõn, L,
Ngha, Trớ, Tín.
i vi Ph N Thỡ Nho giỏo a ra quan nim tam tũng, t c.
Tam tũng: Tại gia tũng ph, xut giỏ tũng phu, phu t tũng t.
T c: Cụng, Dung, Ngụn, Hnh.
Phụ nữ phải có những đức hạnh trên thì mới đợc gọi là ngời phụ nữ
chuyên chính, có nề nếp gia giáo.
Ni Dung quan im o c ca Khng T tp trung Ng Thng:
Nhõn, L, Ngha, Trớ, Tớn. Trong ú Khng T tp trung quan trng nht l
c Nhõn, Coi nhõn l gc ca ng thng.
Nhõn: l thng ngi, l sng tt vi ngi khỏc, ú l cỏch ng x
gia ngi vi ngi, l mt giỏ tr o c xó hi k s bt dc, vt thi
nhõn (Ngha l iu gỡ mỡnh khụng mun thỡ ng nờn ỏp t cho ngi
khỏc) v K dc lp nhi lp nhõn, k lc t nhi t nhõn (Ngha l mỡnh
mun lp thõn thỡ phi giỳp ngi khỏc lp thõn nh mỡnh, mỡnh mun thnh
t thỡ phi giỳp ngi khỏc thnh t nh mỡnh), Nhng Nhõn ca ễng
thng ch cú bc quõn t mi bit ngi tiu Quõn t cú bt nhõn, nhng
nhõn thỡ cha bao gi cú nhõn c.
Bờn cnh Nhõn Thỡ Khng T cng chỳ trng n l Nhng L
theo ễng khụng hon ton i lp vi Nhõn l biu hin ac c luõn gn

với vua Tề Cảnh Công : Quân quân, Thần thần, Phụ phụ, Tử tử
- Vua ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha, con ra con [sách luận ngữ ]. Vậy
trong xã hội mỗi cái danh đều bao hàm một số trách nhiệm và bổn phận mà
những cá nhân mang danh ấy phải có những trách nhiệm và bổn phận hợp với
danh ấy. Đó là điều quan trọng nhất trong các kinh sách của nho giáo, chúng
8


®îc tãm l¹i trong chÝn ch÷: Tu nh©n, tÒ gia, trÞ quèc, b×nh thiªn h¹, vµ chÝn
ch÷ ®ã còng nh»m phôc vô môc ®Ých cai trÞ cña giai cÊp thèng trÞ phong kiÕn.
Một tư tưởng chủ đạo của nho giáo nữa đó là tư tưởng “ Thiên
Mệnh” đạo được thi hành hay không là do mệnh trời (Hiếu vận luận ngữ), vì
đạo trong Nho giáo không đơn giản là đạo lý mà nó bao chữa cả nguyên lý
vận hành chung của vũ trụ, Nho giáo hình dung cả vụ trụ được cấu thành từ
các nhân tố đạo đức, nguyên ký đó do Nho gia đề xướng và cần phải tuân
theo. Trời giáng mệnh làm vua cho kẻ nào có đạo đức tức là nắm được đạo
trời, biết được đạo trời, vâng mệnh trời. Đạo vận hành trong vũ trụ khi giáng
vào con người sẽ được gọi là mệnh. Khổng Tử cho rằng chính danh là hợp với
tự nhiên “Mệnh Trời”, “vật các đắc kì sở” (mọi vật đều có chỗ xá định của
nó). Ngoài ra Nho giáo còn rất nhiều các học thuyết về vũ trụ ,chính trị, xã
hội ,con người…….Nhưng ở đây ta chỉ đến với vân đề đạo đức,nên người viết
xin được trình bày trong vấn đề đạo đức nhưng đó cũng là nội dung cốt lõi
của học thuyết nho giáo.
Nói tóm lại nho giáo là học thuyết về đạo đức và chính trị xã hội cơ
bản của xã hội phong kiến trung hoa. Đó là hệ tư tưởng chính thống của chế
độ phong kiến trung hoa nói riêng và của phương đông nói chung. Nho giáo
và đạo đức nho giáo có quá trình hình thành và phát triển rất lâu dài trong
từng giai đoạn lịch sử có những thay đổi để phù hợp với kinh tế ,xã hội. Mặc
dù đạo khổng đã có cách đây hơn 2500 năm nhưng nó đến nay nó vẫn còn ảnh
hưởng rất lớn đến đời sông hàng ngày của các nước phương đông, nho giáo



CHƯƠNG II:
NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC NHO GIÁO
TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI VIỆT NAM HIỆN NAY TỚI VIỆC
HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
2.1 Quá trình du nhập nho giáo vào xã hội việt nam
Nho giáo du nhập vào việt nam từ thời bắc thuộc hây từ thời Tây
Hán(111 trc cn-39), Nho giáo được các quan lại Trung quốc truyền sang nước
ta, nhưng từ thời đông hán (Thế kỉ I sau cn) mới có tài liệu nói về vấn đề này.
theo sử Trung Quốc thì vào đầu công nguyên hai thái thú giao chỉ và cửu châu
là Tích Quang và Nhâm Diên “Dựng học hiệu dậy lễ nghĩa”, Đến thế kỉ II
khi sĩ nhiếp làm thái thú giao chỉ thì việc coi học nho ở nước ta tương đối phổ
biến. Nho giáo vào việt nam trong thời bắc thuộc qua 3 thời kì:
11 tcn-39 : các đời Tây hán và Đông hán .
43-544 : các §ời Đông Hán, Tam Quốc, Tấn, Nam Quốc Triều.
603-939 : các đời Tùy, Đường, Ngũ Quý.
Mục đích của việc truyền bá nho giáo vào việt nam nhằm đào tạo
những người giúp việc cho chính quyền phong kiến của chúng và thông qua
nho giáo đồng hóa , cải đổi, phong tục tập quán của nhân d©n ta.
Mười thế kỉ đầu công nguyên, nho giáo ở việt nam chưa được hình
thành bởi trước khi nho giáo theo bọn đô hộ phong kiến phương bắc đến nước
ta thì nước ta đã có đạo phật, thậm chí nó còn bị coi là tư tưởng của bọn cướp
nước nhân dân không ai học và đi theo, nhưng dù phật giáo có mạnh đến đâu,
dù cố gắng “nhập thế” đến mức nào thì cơ bản cũng không phải là một đ¹o trị
nước, hơn nữa vào thế một nước láng giềng có nhiều quan hệ văn hóa và
chủng tộc với Trung Quốc các triều đại phong kiến nước ta không thể không
nhờ cậy nho giáo để thiết lập nền phong kiến trị vì. Vậy là từ phản ứng đến
tiếp thu “Mưa dầm thấm lâu”, từ xa lạ đến gần gũi, từ công cụ xâm lược của
kẻ đô hộ từ bên ngoài đến công cụ nhận thức chống xâm lược của nhân dân

Quý Ly(1400-1407) đã tiếp thu nho giáo một cách có phê phán.

12


Thời Lê Sơ (1428-1788)
Quân Minh đã đưa nho giáo chính thức vào việt nam nhằm hán hóa dân
tộc việt nam, chúng đã đập phá và đốt hết những di sản văn hóa của người
việt, truyền bá mê tín dị đoan, truyền bá nho giáo suy đồi không như đạo
Khổng-Mạnh (nho giáo nguyên thủy), tuy nhiên nho giáo lúc này có vai trò
nhất định trong việc cứu nước và trở thành quốc giáo dưới thời lê, Nho giáo
với tư cách là một học thuyết chính trị đạo đức đề cao trách nhiệm của cá
nhân với xã hội, nhà nho có bổn phận xây dựng chính quyền và bảo vệ xã hội
theo khuôn mẫu phong kiến nho giáo tập quyền và một khi vị thủ lĩnh có cơ
sở xuất phát tư nho giáo thì ý thức hệ nho giáo là tuyệt đối và đương nhiên
được lựa chọn, nho học được coi là quốc học hình thành tầng lớp nho sĩ đông
đảo. năm 1463 co 1400 người thi đỗ ở Thăng Long , Năm 1475 tăng 3000 thí
sinh, danh nho đời lê có Nguyễn Trãi, Bùi Cầm Hồ, Lê Quý Đôn….tới Lê
Mạc nho giáo suy dần cùng với sự suy thoái của triều đại phong kiến “vua
không ra vua, tôi không ra tôi, cương thường tan dã, vương đạo lu mờ, đức
trị tiêu tan, phật giáo trỗi dậy,Thiên Chúa Giáo len chân vào và có chỗ
đứng trong nước ta” [Trần Văn Giàu : “sự phát triển tư tưởng việt nam thế kỉ
XIX (1933-1995)”
Đời Nguyễn (1802-1945)
Khi Tây Sơn lên nắm quyền (1788-1802)đất nước quay về một mối,
nho giáo lại được phục hồi thành quốc giáo trở thành vũ khí cho phong kiến
triều nguyễn thống trị xã hội . Các nhà nho tiêu biểu như:Nguyễn Văn Siêu,
cao bá Quát ….họ đã đặt ra 3 vấn đề cần giải quyết. Cuộc đấu tranh giữa
“chính đạo” và “tà giáo”, “duy tân ” và “thổ cựu”, giữa “chiến” và “hòa”
đây cũng là cuộc đấu tranh quan trọng có giải quyết được thì mới chứng minh

Tư tưởng nho giáo với đạo đức gia đình-xã hội và việc xây dựng gia
đình-xã hội ở việt nam hiện nay.
Nho giáo cho rằng gia đình có vai trò quan trọng trong sự ổn định xã
hội. những hành vi ứng xử và giao tiếp của mỗi thành viên trong gia đình
được nho giáo quy định chặt chẽ, phụ thuộc vào danh phận mỗi người. Những
quy định này nếu loại bỏ những yếu tố bảo thủ, mất dân chủ thì đến nay vẫn
còn giá trị. Do đó kế thừa những mặt tích cực của nho giáo về đạo đức trong
việc xây dựng gia đình mới ở việt nam nhằm thực hiện thành công xây dựng
nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa là việc làm cần
14


thiết,khác với khác học thuyết phương tây học thuyết nho giáo nhìn con người
trong tổng hòa các mối quan hệ.theo quan niêm nho giáo mọi người đều trói
buộc nhau bởi 5 mối quan hệ : cha-con, vua-tôi, chồng-vợ, anh-em, bằnghữu, năm mối quan hệ này phản ánh 2 mặt của cuộc sống hiện thực trong xã
hội tương ứng với mỗi quan hệ là những yêu cầu mang tính quy phạm đạo
đức và được pháp luật ngầm bảo trợ theo nho giáo thì đã là gia đình thì mọi
người phải yêu thương nhau, cha mẹ phải yêu thương con cái, con cái phải
phụng dưỡng hiếu thảo với cha mẹ, anh em phải yêu thương, đoàn kết, đùm
bọc lẫn nhau, phỉa có lòng trung thành với đất nước, lấy chữ “nhân” làm đầu.
Quan niệm hạnh phúc của gia đình cũng có nhiều biến đổi ,trước đây
thì “đông con lắm phúc nhiều lộc,con đàn cháu đống”. ngày nay quan niệm
hạnh phúc xuất hiện với tiêu chí mới, sự lựa chọn tiêu chí các gia đình của Hà
Nội: các thành viên trong gia đình quan tâm chăm sóc lẫn nhau(72,7%), thành
viên trong gia đình thành đạt trong sự nghiệp (53,4%), con cháu hiếu thảo với
ông bà cha mẹ (52,2%), làm ra của cải(23,25), đông con nhiều cháu (11,7%).
Những tư tưởng trên của nho giáo có thể nói phù hợp với cương lĩnh
xây dựng đất nước trong thời kìquá độ lên chủ nghĩa xã hội của chúng ta.
“Gia đình là tế bào của xã hội”, là cái nôi nuôi dưỡng cả đời người,là môi
trường quan trọng trong gia đình nếp sống và hình thành nhân cách vì thế

đại tinh hoa truyền thống. Đó cũng là tư tưởng cốt lõi mà đảng và nhà nước
cùng nhân dân ta đang học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
để xây dựng xã hội mới trong thời kì quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội.
2.2.2 Những ảnh hưởng tiêu cực của nho giáo đối với đời sống tinh
thần xã hội việt nam
Xuất phát từ một nền nông nghiệp nhỏ bé, lấy nền kinh tế trồng lúa
nước là chủ yếu dưới hình thức tư hữu nhỏ, kết cấu xã hội lại là những làng
xã quan hệ gia đình lại là quan hệ dòng máu thân tộc “một giọt máu đào hơn
ao nước lã”. Cùng với sự tồn tại hàng nghìn năm của chế độ phong kiến bắc
thuộc. Đạo đức nho giáo có ảnh hưởng trực tiếp đến việc hình thành ý thức hệ
của người dân việt nam, và trở thành chuẩn mực đạo đức trong các gia đình
người việt nam. Đến ngày hôm nay xã hội đang đi lên nhưng những ảnh
hưởng đó vẫn còn rất lớn và được biểu hiện ở một số mặt cơ bản sau:
a. Hiếu nghĩa
Khổng Tử cho rằng có 2 mối quan hệ cơ bản thể hiện đạo đức của
người trong xã hội : Quân Thần,Phụ Tử làm con phải có hiếu với cha mẹ, bề
16


tôi phải trung thành với vua.Quan niệm nàu đã được cac sĩ tử nhà nho luôn thi
hành một cách đúng mực, chẳng hạn như Bùi Viết Hân, vì vợ bất kính với mẹ
mà đánh chết vợ,Hân được coi là người có nghĩa tình,hay Lục vân Tiên đang
trên đường đi thi nghe tin mẹ mất, vì chữ hiếu đã bỏ thi về để chịu tang
mẹ.Hay quan niệm để tang 3 năm,nhưng trong ngày hôm nay nó không còn
hoàn toàn phù hợp bởi cứ giữ những quan niệm kia bảo thủ quá sẽ dẫn đến sự
cha mẹ đặt đau con ngồi đó, dù con cái có đồng ý hay không.Đó là hình thức
ép duyên con cái, hay tư tưởng “con đàn cháu đống” là biểu hiện gia đình có
phúc, đó là biểu hiện của tư tưởng gả chồng hay vợ sớm cho con mong con
sớm lấy vợ,lấy chồng để có con, có cháu. Sinh càng nhiều thì phúc lộc càng
lớn dẫn đến làm dân số bất ổn định.

người, tư tưởng này chi phối con người, tác động vào tâm lý người việt khiến
mọi người tin vào số mệnh, khổ hay sướng thì đã được an bài,con người
không vượt qua khỏi “số kiếp”, tư tưởng này nhấn chiimf người nông dân
trong vong luẩn quẩn, sống gò bó, khép kín “sau lũy tre làng” thụ động trước
mọi biến động của xã hội, con người không có trí tiến thủ.
Bên cạnh đó các tệ nạn bói toán mê tín, dị đoan phổ biến. Lợi dụng
“thiên mệnh” để đánh vào tâm lý người dân khiến họ mù quáng tin theo dẫn
đến những hành động xấu trái pháp luật gây hậu quả nặng nề.
e. Tư tưởng thân tộc
Trong nho giáo thì “chữ danh” rất được coi trọng “danh bất chính
ngôn bất thuận” danh phận, địa vị có quyền lực rất lớn vì thế các sĩ tử đèn
sách chăm chỉ để mong đỗ đạt làm quan thay đổi số phận. Vì vậy trong lịch
cũng có rất nhiều sĩ tử “ rùi mài kinh sử” đến già mà vẫn không đỗ đạt gì.Tư
tưởng “một người làm quan cả họ được nhờ” ảnh hưởng vào việt nam đặc
biệt trong thời đại này nó đang là một vấn nạn bởi ai có cô, gì, chú, bác làm to
sẽ được xin vào làm này làm nọ, mặc dù trình độ chuyên môn chưa đủ, điều
đó dẫn đến sự lợi dụng chức quyền làm việc riêng, và nó đang được phổ biến
trong các công ty nhà nước và tư nhân hiện nay.

18


CHƯƠNG III:
GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC NHỮNG BIỂU HIỆN TIÊU CỰC CỦA
ĐẠO ĐỨC NHO GIÁO TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI VIỆT NAM
HIỆN NAY TỚI VIỆC HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
Sự tồn tại dai dẳng của nho giáo trong các gia đình người việt là một
tất yếu khách quan,có những yếu tố đã trở thành truyền thống đạo đức trong
gia đình, xã hội và đạo đức cách mạng. phát huy truyền thống đạo đức truyền
thống của dân tộc trong sự nghiệp xây dựng con người mới, xã hội mới, ta cần

giáo cần được xóa bỏ, vì vậy bảo vệ và vân dụng giáo dục đạo đức mới trong
công cuộc xã hội mới là nhiệm vụ quan trọng và cấp thiết trong thực tiễn cũng
như lí luận của chúng ta hiện nay.
b. Đổi mới kinh tế
Xuất phát từ nông nghiệp lạc hậu què quặt nên trong công cuộc đổi mới
ta cần xóa bỏ thế độc canh thuần nông, mang tính tự cung tự cấp, phát triển
kinh tế hàng hóa thị trường, nhà nước cần có cơ sở hiện đại, vốn để nông dân
mở rộng sản xuất đưa cách mạng khoa học kỹ thuật cần theo hường s công
nghiệp hóa, điện khí hóa, thủy lợi hóa, thâm canh tăng vụ, thực hiện điều đó
vừa thực hiện tăng năng xuất vừa chuyển dịch cơ cấu cải thiện đời sống xã
hội.
Giáo dục cho nhân dân nhận thức đúng đắn về sự nghiệp CNH – HĐH
nông nghiệp nông thôn, khuyến khích và sản xuất mô hình hộ gia đình sản
xuất làm kinh tế giỏi, lành mạnh về nối sống đạo đức “mình vì mọi người,
mọi người vì mình”
Xuất phát từ nông nghiệp lạc hậu què quặt, nên trong công cuộc đổi
mới ta cần xóa bỏ thế độc canh thuần nông, tâm lý sản xuất nhỏ mang tính tự
túc, tự cấp phát triển kinh tế hàng hóa thị trường, nhà nước cần có chính sách
ưu đãi vốn để nhân dân đua cách mạng khoa học kĩ thuật theo hướng nông
nghiệp hóa, điện khí hóa, thủy lợi hóa….điều đó vừa làm tăng năng xuất vừa
làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế cải thiện đời sống xã hội , giáo dục cho nhân
20


dân nhận thức đúng đắn về sự nghiệp công nghiệp hóa-hiện đại hóa nông
nghiệp nông thôn khuyến khích và xây dựng mô hình hộ sản xuất làm kinh tế
giỏi, lành mạnh về lối sống đạo đức , “mình vì mọi người, mọi người vì
mình”, thực hiện xóa đối giảm nghèo, làm được điều đố ta đã dần xóa bỏ
được những tiêu cực của nho giáo đối với sự cổ hủ, lạc hậu của nho giáo.
c. Đổi mới trong các nghi lễ, tập trung truyền thống, Xây dựng đời

trọng đội ngũ giáo viên đến vùng xâu, vùng xa, đào tạo nghề cho người nông
dân bị bỏ ngỏ, đưa các phương tiện thông tin đại chúng đến với người dân để
họ cùng nắm bắt những vấn đề sự kiện diễn ra trong ngày, khi dân trí được
nâng thì những tiêu cực sẽ dần dần tự được loại bỏ.
Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thực hiện và làm theo đạo đức
hồ chí minh “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, “níc coi dân là
gốc” ta phải tăng cường và bình đẳng cho dân thực hiện và phát huy dân chủ
thì mới làm cho dân chủ và quần chúng đề ra sáng kiến, (Hồ chí minh toàn
tập, 1995, tập 6, trang 495)
Để làm điều đó cần loại bỏ tệ quan liêu, hống hách, cửa quyền, hách
dịch, tình trạng suy thoái đạo đức và lối sống của một bộ phận cán bộ đảng
viên, đua ra các hình thức tập hợp, động viên bồi dưỡng, giáo dục cho nhân
dân thực hiện cơ chế dân chủ hóa tạo bầu không khí, trong sạch sôi nổi để
mọi người phát huy quyền làm chủ của mình.

22


C. KẾT LUẬN
Nho giáo là học thuyết chính trị-xã hội và đạo đức của Trung Quốc do
khổng Tử sáng lập cách đây hơn 2500 năm dưới thời Xuân Thu - Chiến Quốc.
Nội dung cơ bản của nho giáo là dùng đức trị hướng vào con người, sự tu
dưỡng đạo đức cá nhân phục vụ giai cấp phong kiến. Nho giáo xuất hiện ở
thế kỉ thứ I trong thời kì đấu tranh chống giặc phương bắc, chúng đem vào
nhằm đồng hóa nhân dân ta nhưng ta đã dùng chính nó để làm công cụ hữu
hiệu chống các thế lực phong kiến phương bắc xây dựng nên học thuyết nho
gi¸o việt nam, tiếp thu những tinh hoa tiến bộ nhất để xây dựng nền văn hóa
đạo đức của dân tộc chống giặc ngoại xâm.
Đạo đức Nho giáo có những mặt tích cực và tiêu cực, những mặt tích
cực đã được nhân dân ta tiếp thu trở thành đ¹o đức gia đình, xã hội và đạo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status