TIỂU LUẬN
Đề tài:
Ảnh Hưởng Của Tư Tưởng Nho Giáo Trong Đời Sống Xã Hội
Việt Nam Hiện Nay Tới Việc Hình Thành Tư Tưởng Xã Hội
Chủ Nghĩa Và Giải Pháp Khắc Phục
TP.HCM – 2016
MỤC LỤC
TP.HCM – 2016.......................................................................................................1
A. LỜI MỞ ĐẦU.................................................................................................................................1
I. Lý Do Chọn Đề Tài......................................................................................................................1
I. Khái Quát Về Nho Giáo................................................................................................................2
I.1. Nho giáo là gì?.......................................................................................................................2
II. Các Quan Điểm Về Nho Gia.......................................................................................................4
II.1. Quan điểm về bản chất con người........................................................................................4
A. LỜI MỞ ĐẦU
I. Lý Do Chọn Đề Tài
Nho giáo là một trong những hệ tư tưởng lớn trên thế giới và nó đã đi sâu vào
văn hóa của nhiều nước đặc biệt là các nước thuộc khu vực Đông Á và Đông Nam Á.
“Đạo” theo nho giáo là quy luật chuyển biến, tiến hóa của trời đất, muôn vật. Đối với
con người, đạo là con đường đúng đắn để noi theo để xây dựng quan hệ lành mạnh,
tốt đẹp. Đạo của con người, theo con đường của nho gia là phải phù hợp với tính của
con người lập lên. Chính vì vậy, Nho giáo tác động mạnh mẽ đến nếp sống, thói
quen, suy nghĩ của con người và tác động vào các khu vực khác của đời sống xã hội
cũng như đối với xã hội đặc biệt là ở Việt Nam.
học này khởi đầu nặng về yếu tố nhân sinh quan, nhằm mục đích tổ chức xã hội, bình
thiên hạ. Yếu tố vũ trụ quan ít được quan tâm.
Chỉ trừ khổng tử, Kinh Dịch được hội nhập vào hệ thống giáo lý này, nho giáo mới
đây trở lên đầy đủ hơn. Đương nhiên, cũng như các hệ triết học khác, Nho giáo
không phải lúc nào cũng là chuẩn mực ổn định, mà luôn luôn được chỉnh lý và bổ
sung để thích hợp với điều kiện xã hội mới. vì thế mà có Hán nho, Tống nho... Nhưng
suy cho cùng nho giáo vẫn phải dựa vào nền tảng của Tứ Thư, Ngũ Kinh.
- Tứ thư: Bốn bộ sách kinh điển là Đại Học, Trung Dung, Luật Ngữ và Mạnh Tử.
+ Đại Học: Sách dạy đạo người quân tử, gồm hai phần. Một phần chép lời khổng tử,
một phần chép lời tăng tử. Nội dung có thể toám gọn là tu thân, tề gia, trị quốc, bình
thiên hạ. Đồng thời người quân tử phải cách vật, trí tri, thành ý, chính tâm.
+Trung Dung: phải ăn ở đúng mực, không thái quá, không bất cập. phải giữ được trí
để biết rõ sự lý, nhân để theo điều thiện, dũng, để kiên trì vượt khó mà hành thiện.
+Luận ngữ: Ghi lời răn dạy học trò của Khổng Tử bằng những lời đối thoại giữ
Khổng Tử với các triết gia chính trị gia đương thời. Sách này dạy đạo làm quân tử
một cách thực tiễn.
+Mạnh tử: sách do Mạnh Tử soạn, kế thừa giáo huấn của Khổng Tử coi vua chúa là
thánh nhân thể theo ý trời mà hành đạo, nên mọi người phải nghe theo. Ý thức Mạnh
tử ít nhiều có tính điều hoà: coi bản chất con người là tết, kẻ cầm quyền quý tộc phải
biết tự chế để xã hội ổn định. Mạnh Tử đưa ra một số quan điểm tiến bộ: với thuyết
nhân chính, thuyết dân vi quý, quân vi khinh. Ông nói: “Không có quân tử ai trị dân,
không có tiểu nhân, ai nuôi quân tử”.
- Ngũ kinh:
+ Kinh thế: gồm những bài ca dao dân ca và nhạc chương nơi triều miếu, do Khổng
Tử sưu tầm tuyển chọn.
+Kinh thật: Do Khổng Tử sưu tấm nội dung ghi về phép tắc, mưu kế, lời dạy dỗ, lời
truyên bảo, lời răn tướng sĩ, mệnh lệnh của các vua Từ Nghiêu, Thuẫn tới Đông Chu.
+ Kinh dịch: Sách ghi chép về sự hình thành ra vũ trụ và thế giới nhân sinh thông qua
đức Nhân, một xã hội muốn hoà mục thì phải có nhiều người theo về điều Nhân.
Chữ Nhân được coi là nguyên lý đạo đức cơ bản quy định bản tính con người và
những quan hệ giữa người với người từ trong gia tộc đến ngoài xã hội. Người có đức
nhân là người làm được năm điều trong thiên hạ: "cung, khoan, tín, mẫn, tuệ". Cung
thì không khinh nhờn, khoan thì được lòng người, tín thì người tin cậy, mẫn thì có
công, huệ thì đủ khiến được người. Người có đức nhân phải là người "trước làm điều
khó, sau đó mới nghĩ tới thu hoạch kết quả".
Theo Khổng Tử, người muốn đạt được đức nhân phải là người có "Trí" và "Dũng".
Nhờ có Trí, con người mới có sự sáng suốt minh mẫn để hiểu biết được đạo lý, xét
đoán được sự việc, phân biệt được phải - trái, thiện - ác, để trau dồi đạo đức và hành
động hợp "thiên lý ". Người có Dũng ở đây theo Khổng Tử không phải là kẻ ỷ vào
sức mạnh, vì lợi mà suy nghĩ và hành động bất chấp đạo lý. Người nhân có Dũng
phải là người có thể tỏ rõ ý kiến của mình một cách cao minh, có thể hành động một
cách thanh cao khi vận nước loạn lạc, khi người đời gặp phải hoạn nạn. Người nhân
có Dũng mới tự chủ được mình, mới quả cảm xả thân vì nhân nghĩa.
Với Khổng Tử, đạo sống của con người là phải "Trung dung, trung thứ", nghĩa là
sống đúng với mình và sống phải với người, thương mình như thương người, việc gì
mình không muốn chớ đem cho người, mình muốn lập thân thì cũng giúp người lập
thân, mình muốn thành đạt thì cũng giúp người thành đạt.
Nếu Khổng Tử cho rằng chữ Nhân là cái gốc đạo đức của con người, thì theo ông,
để trở thành một con người hoàn thiện, một điều kiện tất yếu khác là phải "hiểu biết
mệnh trời" để sống "thuận mệnh". Ông viết: "Không biết mệnh trời thì không lấy gì
làm quân tử", nhưng ông kêu gọi mọi người trước hết phải tìm sức mạnh vươn lên ở
trong chính bản thân mỗi người, đừng trông chờ vào trời đất quỷ thần: "Đạo người
chưa biết thì làm sao biết được đạo quỷ thần". Con người phải chú trọng vào sự nỗ
lực học tập, làm việc tận tâm, tận lực, còn việc thành bại như thế nào, lúc đó mới tại ý
trời.
Tuy nhiên trong triết học Nho giáo, nếu Khổng Tử và Mạnh Tử cho rằng con
- Quan hệ chồng - vợ (3)
Quan hệ thứ nhất thuộc quan hệ quốc gia, còn hai quan hệ sau thuộc quan hệ gia
đình. Điều này nói lên rằng trong quan niệm về xã hội, Nho giáo đặc biệt quan tâm
tới những quan hệ nền tảng của xã hội là quan hệ gia đình.
Quan hệ gia đình ở đây mang tính chất tông tộc, dòng họ. Xã hội trị hay loạn trước
hết thể hiện ở chỗ có giữ vững được ba quan hệ ấy hay không.
Xã hội là tam cương - tam cương là quốc gia. Nêu chỉ có một cương thay đổi thì
phá vỡ cấu trúc “tam cương” tất yếu xã hội tất sẽ bị loạn.
II.3. Quan điểm về giáo dục.
Trước hết, Nho giáo có nêu quan điểm về một xã hội lý tưởng. Lý tưởng cao nhất
của đức Khổng Tử cũng như các tác giả sau này của Nho giáo là xây dựng một xã hội
"Đại đồng".
Khái niệm xã hội đại đồng của Nho giáo không phải là một xã hội đặt trên nền tảng
của một nền sản xuất phát triển cao mà là một xã hội "an hoà", trong đó sự an hoà
được đặt trên nền tảng của sự công bằng xã hội.
Xã hội an hoà ở đây là xã hội bao gồm nhiều quốc gia lớn nhỏ, mạnh yếu khác
nhau, trong đó quốc gia nhỏ yếu thờ phụng quốc gia lớn mạnh và ngược lại, quốc gia
lớn mạnh che chở cho quốc gia nhỏ yếu. Xã hội mà mọi người sống hoà thuận giữa
trong ngoài, trên dưới, trưởng thứ,... trong đó người bề trên vui vẻ mà trị, không ỷ thế
quyền lực; người dưới vui vẻ mà nhận sự trị, không oán hờn. Một xã hội lấy hoà
thuận, khoan thứ làm đầu; không cần có một nền kinh tế phát triển mà chỉ cần công
bằng xã hội.
Khái niệm công bằng của Nho giáo không phải là thứ quan niệm "cào bằng" tiểu
nông mà là công bằng trên cơ sở địa vị xã hội của mỗi cá nhân, mỗi dòng họ.
Để thực hiện xã hội lý tưởng, xã hội đại đồng, xã hội an hoà trên, Nho giáo không
đặt vấn đề về một cuộc cách mạng, không cầu cứu ở bạo lực, mà tìm cứu cánh ở một
nền giáo dục. Đức Khổng Tử là người đầu tiên lập ra trường tư, mở giáo dục ra toàn
dân. Có giáo dục và tự giáo dục thì mỗi người mới biết phận vị của mình mà nhìn
hội ắt trở nên loạn lạc. Không thể có một xã hội trị bình mà nguyên tắc chính danh bị
vi phạm.
Trong Nho giáo, Khổng Tử đặc biệt đề cao giữa danh và thực. Thực do học, tài và
phận quy định.
- Nguyên tắc 3: Thực hiện Văn trị - Lễ trị - Nhân trị. Đây là nguyên tắc có tính chất
đường lối căn bản của Nho giáo.
+ Văn trị: Đề cao trị bằng hiểu biết. Tạo ra vẻ đẹp của một nền chính trị để mọi người
tự giác tuân theo.
+ Lễ trị: Dùng tổ chức, thiết chế xã hội để trị quốc. Đề cao nghi lễ giao tiếp trong trị
quốc.
+ Nhân trị: Trị quốc bằng lòng nhân ái, mở rộng ân trạch của hoàng cung tới bốn
phương.
Khổng Tử cho rằng trị quốc là việc rất khó, nhưng cũng rất dễ làm nếu đức Minh
quân biết sử dụng ba loại người: Cả quyết can đảm, Minh đản (trí thức) và
* Nghệ tinh: Nhà vua muốn trị vì đất nước và muốn có đức nhân phải biết dùng
người và thực hiện ba điều:
+ Kính sự: Chăm lo đến việc công.
+ Như tín: Giữ lòng tin với dân.
+ Tiết dụng: Tiết kiệm tiêu dùng.
Về đạo Vua - Tôi, Khổng Tử viết: "Vua phải tự mình làm thiện và phải làm trước
thiên hạ để nêu gương và phải chịu khó lo liệu giúp đỡ dân".
Theo ông, nhà cầm quyền phải thực hiện ba điều: "Bảo đảm đủ lương thực cho dân
được no ấm, phải xây dựng được lực lượng binh lực mạnh để đủ bảo vệ dân, phải tạo
lòng tin cậy của dân đối với mình".
Nếu bất đắc dĩ phải bỏ bớt những điều kiện trên thì trước hết hãy bỏ binh lực, sau
đó đến bỏ lương thực, nhưng không thể bỏ lòng tin của dân đối với vua, nếu không
thì chính quyền xã tắc sẽ sụp đổ. Ngược lại, dân và bề tôi đối với vua phải như đối
với cha mẹ mình, phải tỏ lòng trung của mình đối với vua.
Sử cũ cho biết, ở thế kỷ I có Trương Trọng (người Giao Chỉ) chăm học, ứng đáp
giỏi được cử làm Kế Lại ở Nhật Nam và sau được cử làm Thái thú quận Kim Thành
(TQ). Ở thế kỷ II có Lý Tiến (người Giao Chỉ), thông hiểu kinh truyện, được bổ giữ
chức Công Tào ở quận, rồi Hăng Kỵ Đô uý, Thái thú quận Linh Lăng (Trung Quốc)
và đến khoảng năm 184-189 được cử giữ chức Thứ sử Giao Châu. Những thông tin
này chứng tỏ Nho giáo phải được du nhập vào nước ta từ thời Tây Hán, chí ít là từ
khi Âu Lạc cùng với Nam Việt được sát nhập vào nhà Hán năm 111 TCN. Sử Trung
Quốc cũng ghi lại rằng, vào đầu công nguyên, hai Thái thú Giao Chỉ và Cửu Chân
là Tích Quang và Nhâm Diên đã “dựng học hiệu dạy lễ nghĩa” ở Giao Châu. Tuy
nhiên, giai đoạn này việc du nhập Nho giáo vào nước ta vẫn chưa được tiến hành một
cách bài bản, kết quả chưa cao.
III.2. Giai đoạn thứ hai
Khoảng từ thế kỷ II đến thế kỷ V. Thời kỳ này Nho giáo được truyền vào VN
thông qua tầng lớp quan lại Hán và các Nho sĩ chạy xuống Giao Châu để lánh nạn.
Qúa trình truyền bá Nho giáo được đẩy mạnh từ khi Sĩ Nhiếp được cử làm Thái thú
Giao Chỉ.
Sĩ Nhiếp đã cho mở trường dạy chữ Hán và Nho giáo. Nhiều sĩ phu TQ đến nương
nhờ Sĩ Nhiếp cũng tích cực mở trường dạy học. Do đó, kể từ giai đoạn này, việc học
Nho ở nước ta mới tương đối phổ biến. Sĩ Nhiếp vì thế được người Giao Châu tôn là
“Nam Giao học tổ”. Sự truyền bá Nho giáo thời kỳ này chủ yếu ở mặt lễ nghĩa và
giáo dục.
Đặc biệt, từ thế kỷ III đến thế kỷ V, chế độ sĩ tộc thịnh hành ở Trung Quốc, tôn ti
trật tự đựơc đề cao, do đó, ở Việt Nam lễ giáo cũng được coi trọng. Thế kỷ III có Lý
Cầm và Bốc Long, đỗ hiếu liêm và mậu tài đã được cử làm quan ở Trung Quốc. Tuy
nhiên, Giai đoạn này Nho giáo đã gặp phải sự chống đối khá quyết liệt của người
Việt, tiêu biểu là 5 cuộc tranh luận lớn giữa Nho và Phật ở giai đoạn này.
III.3. Giai đoạn thứ ba
Bắt đầu từ thế kỷ VI đến thế kỷ IX. Nhà Đường mở khoa thi Nho học và cho phép
các nhà Nho xưa, nổi bật nhất là trong quan điểm trị quốc của Nguyễn Trãi một nhà
nho nổi tiếng trong xã hội phong kiến Việt Nam. Nho giáo xã hội phong kiến có câu
“Việc yên nghĩa cốt ở muôn dân” thì quan điểm của Đảng ta là “Lấy dân làm gốc’Tư
tưởng Trung quân của Nho giáo được người Việt Nam tiếp thu trên cơ sở tinh thần
yêu nước và tinh thần dân tộc sẵn có khiến cho nó đã bị biến đổi, “Trung quân” gắn
liền với “Ái quốc”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ vĩ đại, nguời con tiêu biểu của dân tộc Việt Nam,
đã kế thừa và phát huy những giá trị tinh tuý nhất của Nho giáo trong cuộc đời cách
mạng của mình, đưa dân tộc đi lên con đường phát triển mới của thời đại. Chữ Trung
trong thời đại Bác Hồ mang nội dung mới hoàn toàn: Không phải “Trung với Vua”
mà là “Trung với nước” và chữ Hiếu với nội dung được mở rộng đến vô cùng đó là
“Hiếu với dân”, chứ không còn hạn hẹp như khái niệm của Nho giáo xưa kia. Và
‘Trung” “Hiếu’ cũng là quan điểm xuyên suốt của Đảng trên con đường xã hội chủ
nghĩa từ buổi đầu sơ khai đến hiện tại.
b) Về đạo đức - xã hội
Trong xã hội ngày nay những quan điểm về đạo đức của nho giáo vẫn được coi
trọng và thể hiện qua cách hiểu và cách sống: “Mình vì mọi người ,mọi người vì
mình” Các phong trào thực hiện nếp sống văn minh, văn hoá, phong trào đền ơn đáp
nghĩa, uống nước nhớ nguồn thực hiện gia đình văn hoá “Ôngbà, cha mẹ mẫu mực
con cháu thảo hiền”…Các nghĩa cử tương thân tương ái trong xã hội như “ Lá lành
đùm lá rách”… Đó chính là biểu hiện tốt đẹp của chữ Nhân trong cả phạm vi rộng và
hẹp của xã hội ngày nay.
Xưa kia theo quan niệm đạo đức Nho giáo thì người quân tử, người cai trị phải có
đầy đủ các đức tính như: Nhân, Lễ, Nghĩa,Trí, Tín,Dũng…”.
Cùng với Nhân, Trí , Dũng, thì Nhạc, Thi, Thư cũng là phương tiện để giáo hóa
con người góp phần ổn định và phát triển xã hội. Nhạc chính trực. trang nghiêm, hoà
nhã có tác dụng di dưỡng tính tình cảm hoá lòng người, hướng tâm người ta tới cái
chân, thiện, mỹ do sự ứng cảm trong tâm tư với sự hài hoà của âm nhạc.
Người khuyên bảo thầy trò ngành giáo dục “Dù khó khăn gian khổ đến đâu, cũng
phải tiếp tục thi đua dạy tốt và học tốt”…
Suốt cuộc đời mình lúc nào Người cũng hết mực chăm lo thế hệ tương lai của đất
nước.Trước lúc phải đi xa, Bác vẫn không quên dặn dò chu đáo trong di chúc như
sau:
+ Bồi dưỡng cách mạng đời sau là việc làm rất quan trọng và cần thiết. Đảng phải
chăm lo bồi dưỡng đạo đức cách mạng cho họ để họ trở thành…vừa hồng vừa
chuyên…
+ Vì vậy việc coi trọng giáo dục, đào tạo nhân tài cho đất nước chính là một trong
những mục tiêu quan trọng và cấp thiết mà Đảng và nhà nước ta hết sức quan tâm.
+ Hiện nay Đảng và nhà nước ta, ngay cả các địa phương, đã lập ra các quỹ học
bổng, quỹ khuyến học, các giải tài năng trẻ…để giúp đở học sinh, sinh viên nghèo
hiếu học, và đó cũng chính là thể hiện sự ưu ái, coi trọng người hiền tài trong xã hội
ngày nay.
“ Nguyên khí mạnh thì quốc gia thịnh…”
Đó không chỉ là quy luật muôn đời đúng với từng dân tộc,từng quốc gia,mà còn
luôn luôn mới và đúng trong phạm vi hẹp hơn là ở mỗi địa phương, mỗi tổ chức,thậm
chí đúng cả ở phạm vi gia đình là tế bào của xã hội.
Như vậy có thể thấy rõ nho giáo có ảnh hưởng rất nhiều đến những quan điểm và
tư tưởng của Đảng ta về giáo dục trên con đường đi lên xã hội chủ nghĩa và thời kỳ
hội nhập hiện nay. Đảng và Bác Hồ luôn luôn coi giáo dục là mục tiêu hàng đầu và
quan trọng nhất để tìm ra “hiền tài” phát riển đất nước.
d) Về giá trị con người.
Nho giáo luôn luôn coi con người vốn sinh ra đã thiện, việc hình thành nhân cách
của con người phụ thuộc rất nhiều vào môi trường cũng như giáo dục. Cũng giống
nho giáo xã hội Việt Nam cũng như những tư tưởng của xã hội chủ nghĩa đều nhắm
mục đích tôn trọng, đề cao giá trị của con người.
Theo Nho giáo, sự hoàn thiện con người vừa là kết quả, vừa là điều kiện, nguyên
con đường quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, tuy nhiên nó cũng có những tác động tiêu
cực làm cản trở sự phát triển hoặc gây ảnh hưởng xấu cần loại bỏ. Ngày nay, đất
nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đó là con đường phát triển tất yếu
của cách mạng Việt Nam, vì vậy cần chỉ rõ được những tác động tiêu cực của nho
giáo.
Nho giáo và tính bảo thủ của nó ảnh hưởng lớn đến Việt Nam, thể hiện nghiêm
trọng ở các điểm sau: Chủ nghĩa quan liêu trong giới cầm quyền, chủ nghĩa bình quân
trong nông dân, chủ nghĩa giáo điều trong giới trí thức.
Trái ngược với điều này Việt Nam nông dân và công nhân mới chiếm số đông
trong xã hội và mục đích của xã hội chủ nghĩa là vì mục đích của toàn bộ các tầng lớp
của xã hội nhưng do giai cấp công – nông cầm quyền. Việc khắc phục những bệnh
này, cần phải có thời gian và những biện pháp tích cực.
a) Đối với kinh tế, chính trị
Với tư tưởng "Trọng nông ức thương", Nho giáo từng kìm hãm công nghiệp và
kinh tế hàng hóa phát triển, về mặt sản xuất, Nho giáo coi thường khoa học kỹ thuật;
về mặt phân phối nó khuyến khích chủ nghĩa bình quân. Kinh tế Việt Nam không thể
đổi mới và phát triển nếu không gạt bỏ được sự cản trở đó của Nho giáo. Dưới chế độ
phong kiến, ở nước ta đã có quan hệ tiền tệ và trao đổi hàng hóa ở mức độ nhất định.
Nhưng với đặc điểm bảo trì lâu dài của các làng xã, quan hệ hàng hóa tiền tệ đã
không phát triển được.
Thêm vào đó, các quan điểm bảo thủ, khép kín "trọng nông ức thương" đã kìm
hãm sự phát triển có tính chất tự nhiên của sản xuất xã hội. Sau cách mạng dân tộc
dân chủ nhân dân, nước ta vẫn chưa có nền sản xuất hàng hóa, nền kinh tế vẫn trong
tình trạng tự cấp tự túc là chủ yếu. Đó chính là thách thức cơ bản đối với dân tộc ta
khi bước vào con đường phát triển hiện đại văn minh.
Nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp cùng những chính sách xã hội kèm
theo nó đã là một trong những nguyên nhân cơ bản đưa nước ta tới khủng hoảng trầm
trọng. Thực tiễn đã giúp Đảng ta nhận thức sâu hơn về CNXH, về con đường đi lên
cơ sở của nền sản xuất xã hội, ruộng đất bị phân chia manh mún, nông cụ ít và thô sơ
thiếu sự hợp tác và phân công lao động; nền sản xuất có tính bảo thủ cao, tổ chức sản
xuất hàng hóa thấp kém, đời sống vật chất và tinh thần của người dân gựp nhiều khó
khăn và chậm được cải thiện. Nền sản xuất nhỏ tồn tại lâu đời trong xã hội Việt Nam
cùng với ảnh của tư tưởng Nho giáo đã tạo nên tâm lý cục bộ, bản vị, địa phương.
Chế độ ruộng công trong điều kiện làng xã Việt Nam đã làm nảy sinh tư tưởng
bình quân về nghĩa vụ và quyền lợi. Khi nước ta bước vào thời kỳ quá độ lên CNXH,
tư tưởng bình quân đã trở thành lực cản lớn trong quá trình phát triển kinh tế cũng
như các mặt khác của đời sống xã hội.
Cách làm kinh tế theo giờ hành chính một cách máy móc ở các hợp tác xã nông
nghiệp, các nông trường quốc doanh của miền Bắc trước đây với hình thức phân phối
bình quân đã dẫn đến tình trạng người lao động thờ ơ với công việc và kết quả lao
động của mình. Tâm lý ỷ lại vào tập thể, dựa dẫm, cung cách lao động "được chăng
hay chớ", "cơm vua ngày trời", "đi làm theo kẻng, ăn chia theo định xuất", "chân
ngoài dài hơn chân trong" trở thành căn bệnh ngày càng trầm trọng.
Trong thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện nhất quán lâu
dài chính sách phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN. Các hình thức phân
phối trong thời kỳ này cũng rất đa dạng: phân phối theo lao động, phân phối theo vốn
đầu tư, phân phối thông qua phúc lợi tập thể...
Tuy nhiên, tình trạng bình quân trong phân phối vẫn còn tồn tại, biểu hiện rõ nét
nhất ở khối hành chính sự nghiệp. Tiền lương nhìn chung chưa đảm bảo tái sản xuất
sức lao động, chưa thực sự trở thành đòn bẩy kích thích người lao động làm việc với
sự nhiệt tình và sức sáng tạo cao.
Ngoài ra nho giáo rất coi trọng chữ tình trong gia đình điều này dẫn đến một thực
trạng “một người làm quan cả họ được nhờ” ảnh hưởng rất xấu, bởi có những nhân
tài thực sự nhưng không có cơ hội cống hiến cho xã hội, cản trở sự hội nhập đi lên
theo tâm niệm của Hồ chủ tịch.
b) Về xã hội
chồng là hợp pháp. Đây là một tư tưởng tiến bộ nhưng ngay trong những buổi đầu thì
lại không được chấp nhận ở xã hội Việt Nam. Trong một thời gian dài từ khi chế độ
cũ bị xóa bỏ nó phải là một cuộc đấu tranh lâu dài. Theo Hồ chủ tịch thì gia đình là tế
bào của xã hội cho nên gia đình vững vàng thì xã hội mới yên ấm và phát triển đi
theo đúng hướng. Tuy nhiên tư tưởng này của nho giáo đã ăn sâu nên việc xóa bỏ
hoàn toàn gặp nhiều khó khăn.
Bên cạnh đó, hiện nay việc “trọng nam khinh nữ” đang là một vấn nạn, nó gây ra
rất nhiều hệ lụy trong xã hội. Nó dẫn tới sự mất cân bằng dân số, dẫn đến nhiều tệ
nạn xã hội… nó cản trở sự phát triển của xã hội hiện đại và ảnh hưởng tới con đường
đi lên chủ nghĩa xã hội và đi ngược lại với mục tiêu xây dựng xã hội công bằng văn
minh.
Nói chung những quan niệm về giá trị con người của nho giáo là không tôn trọng
người phụ nữ trong xã hội, nó là một tiêu cực cần phải khắc phục để nước ta từ một
nước nghèo nàn, lạc hậu đi lên con đường chủ nghĩa xã hội văn minh.
V. Giải Pháp Khắc Phục
Nho giáo được coi là kiến trúc thượng tầng, là một trong những nền móng của xã
hội Việt Nam và sự hình thành xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên nó cũng có cả những ảnh
hưởng tiêu cực cần phải xóa bỏ, bởi nó cản trở sự phát triển của xã hội, đặc biệt là sự
hội nhập kinh tế và đi lên con đường chủ nghĩa xã hội theo tư tưởng của chủ tịch Hồ
Chí Minh.
- Trước hết nho giáo là một tư tưởng nó tồn tại rất lâu trong xã hội Việt Nam cho nên
việc xóa bỏ những tiêu cực của nó phải tuyên truyền, giáo dục đến toàn thể người
dân. Bởi chỉ có tuyên truyền giáo dục thì mới cho từng người dân nhận thức được
những tiêu cực thấy được những cái xấu không thể tồn tại thì mới xóa bỏ tận gốc nó.
Những cái tích cực đều phải tiếp thu nhưng tiếp thu một cách có chọn lọc. Điều
này phải thực hiện trong một quá trình lâu dài và thường xuyên không được nóng vội.
Chỉ có tư tưởng mới thay đổi tư tưởng.
- Đối với những thới quen do nho giáo để lại cũng cần phải thay đổi. Mỗi người phải
D. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Wikipedia tiếng Việt – Nho giáo.
2. Nho giáo, hiểu theo tiếng Việt là đạo Nho. Theo Trần Trọng Kim trong
Nho giáo, Nxb Trung tâm Học liệu, Sài Gòn, 1971, t. 10.
3. Sách Hệ thống di tích Nho học Việt Nam và các Văn miếu tiêu biểu ở Bắc
bộ, Nxb thông tin và truyền thông.
4. Luận văn nghiên cứu Nho giáo và ảnh hưởng của nó đến xã hội con người
Việt Nam.
5. Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia.
6. Đặng Xuân Kỳ: Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển văn hoá và con
người, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005.
7. Các Bài Giảng Về Tư Tưởng Phương Đông (NXB Đại Học Quốc Gia 2001)
- Trần Đình Hượu.
8. Bài báo: Lịch sử triết học phương Đông" - Cách nhìn mới về tư tưởng
triết học phương Đông, tác giả Nguyễn Phương Thảo, Trang thông tin
điện tử Nhà xuất bản chính trị Quốc gia – Sự thật.
9. Giáo trình: Lịch sử tư tưởng Việt Nam, GCV.Ths. Hoàng Ngọc Vĩnh.
10. Nho giáo và Văn học Việt Nam trung cận đại.
11. Lịch sử tư tưởng Phương Đông và Việt Nam – Nguyễn Minh Tường.
12. Khảo sát các bài báo, từ điển trên tạp chí, sách, báo và mạng Internet.